
I. MỞ RỘNG KHÔNG GIAN ĐẾN TỔ CHỨC LẠI NGUỒN LỰC
Giá trị đáng chú ý nhất của việc hợp nhất nằm ở khả năng tổ chức lại những nguồn lực trước đây còn phân tán thành một không gian phát triển thống nhất. Đây là sự thay đổi có ý nghĩa về chất đối với Cần Thơ. Khi không gian phát triển được mở rộng, các lợi thế về nông nghiệp, đô thị, công nghiệp, kinh tế biển, dịch vụ và hạ tầng có điều kiện kết nối trong cùng một chiến lược, tạo ra khả năng bổ trợ lẫn nhau thay vì phát triển theo những không gian kinh tế tương đối tách biệt.
Xét từ góc độ kinh tế vùng, lợi thế cạnh tranh của một địa phương không chỉ được quyết định bởi lượng nguồn lực mà địa phương đó sở hữu, mà còn bởi khả năng kết nối, phân công và bổ trợ giữa các nguồn lực. Một vùng nguyên liệu chỉ thực sự tạo ra giá trị cao khi được kết nối với chế biến, logistics và thị trường; một đô thị chỉ thực sự phát huy vai trò trung tâm khi có thể cung cấp dịch vụ, nhân lực, khoa học - công nghệ và các thiết chế hỗ trợ cho khu vực sản xuất rộng lớn hơn. Với Cần Thơ, không gian phát triển mới mở ra điều kiện để tăng cường liên kết giữa sản xuất nông nghiệp, chế biến, logistics, cảng biển và thị trường, đồng thời gắn kết đô thị, dịch vụ, khoa học - công nghệ với khu vực doanh nghiệp, qua đó hình thành các chuỗi giá trị có tính bổ trợ và lan tỏa cao hơn.
Không gian biển là một minh họa rõ cho khả năng tái cấu trúc động lực phát triển. Sau hợp nhất, Cần Thơ có đường bờ biển dài 72 km, ba cửa sông lớn là Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh, tạo thêm điều kiện để kết nối không gian kinh tế sông - biển và mở rộng quan hệ với thị trường bên ngoài. Thành phố đã xác định phát triển kinh tế biển là một hướng đột phá, trong đó định hướng Khu kinh tế Trần Đề gắn với cảng biển quốc tế Trần Đề được kỳ vọng hình thành một cực tăng trưởng mới, kết hợp công nghiệp chế biến, năng lượng, logistics đa phương thức và dịch vụ hậu cần cảng.
Nhưng cần phân biệt rõ tiềm năng địa lý với năng lực kinh tế. Có biển chưa đồng nghĩa với có một nền kinh tế biển phát triển; cũng như có cảng chưa tự động tạo thành một trung tâm logistics. Điều quyết định là khả năng kết nối cảng với vùng nguyên liệu, hệ thống giao thông, kho bãi, công nghiệp chế biến, dịch vụ hậu cần và thị trường. Thực tiễn hoạt động tại Cảng cá Trần Đề cho thấy một phần năng lực kết nối đó đã hiện hữu: trong quý I/2026, cảng phục vụ 5.868 lượt tàu thuyền cập và lưu bến, với hơn 42.000 tấn hàng hóa thông qua. Những con số này trước hết phản ánh nhu cầu và quy mô hoạt động hiện tại; để trở thành động lực tăng trưởng mới, chúng cần được đặt trong một hệ sinh thái rộng hơn, nơi sản xuất, chế biến, logistics, dịch vụ và thị trường cùng được tổ chức theo chuỗi.
Vì vậy, thước đo quan trọng của “không gian mới” là khả năng tạo ra nhiều liên kết hơn, giá trị gia tăng cao hơn và năng lực cạnh tranh lớn hơn. Chính khoảng cách giữa “tiềm năng” và “kết quả” đặt ra vấn đề quan trọng hơn cả quy mô không gian: Cần Thơ cần một phương thức quản trị đủ năng lực để kết nối các nguồn lực mới, đồng thời huy động sức mạnh của người dân, doanh nghiệp và các chủ thể xã hội vào quá trình phát triển.
II. ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ TRONG KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN MỚI
Không gian phát triển được mở rộng đồng thời làm thay đổi quy mô và tính chất của bài toán quản trị. Khi địa bàn lớn hơn, nguồn lực đa dạng hơn và các mối liên kết kinh tế - xã hội phức tạp hơn, phương thức quản lý dựa chủ yếu vào từng địa bàn hành chính riêng lẻ sẽ khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển. Vì vậy, giá trị của việc hợp nhất chỉ có thể được phát huy khi đi cùng đổi mới năng lực điều phối. Từ góc độ quản trị phát triển, quá trình này có thể được nhìn nhận như một chuỗi tương tác, trong đó chính quyền giữ vai trò kiến tạo, người dân chủ động đồng hành, doanh nghiệp tích cực đầu tư và các nguồn lực được kết nối, cộng hưởng để tạo thành động lực phát triển mới.
Trước hết, không gian lớn hơn đòi hỏi chính quyền có năng lực điều phối lớn hơn. Trong 6 tháng đầu năm 2026, GRDP của Cần Thơ ước tăng 6,7%, thấp hơn kịch bản điều hành 8,55%; một số chỉ tiêu về huy động nguồn lực đầu tư cũng chưa đạt yêu cầu. Thành phố đồng thời thừa nhận công tác quản lý, điều hành sau hợp nhất còn những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện, trong đó việc tháo gỡ khó khăn cho các dự án và huy động nguồn lực xã hội vẫn là nhiệm vụ quan trọng. Những kết quả này nên được đặt trong một vấn đề rộng hơn của quản trị không gian: khi quy mô quản trị tăng lên, chi phí điều phối cũng tăng lên; nếu phương thức quản trị không thay đổi tương ứng, lợi thế về quy mô có thể không chuyển hóa thành hiệu quả kinh tế - xã hội.
Phân cấp, phân quyền cần đi cùng xác định rõ trách nhiệm; phối hợp liên ngành phải gắn với mục tiêu chung thay vì xử lý từng nhiệm vụ theo phạm vi cơ quan; dữ liệu cần trở thành cơ sở hỗ trợ quyết định; người đứng đầu phải được gắn với trách nhiệm về kết quả cuối cùng. Điều này cho thấy sự chuyển đổi từ “quản lý địa bàn” sang “điều phối không gian phát triển”. Khi đó, chính quyền không chỉ giải quyết các vấn đề phát sinh trong từng khu vực, mà phải nhìn thấy mối quan hệ giữa vùng nguyên liệu, hạ tầng, đô thị, logistics, dịch vụ, đầu tư và thị trường để tổ chức nguồn lực theo một chỉnh thể.
Truyền thống cách mạng và tinh thần đoàn kết của Cần Thơ, Sóc Trăng, Hậu Giang là nguồn vốn tinh thần quan trọng, nhưng giá trị phát triển của truyền thống chỉ được phát huy khi chuyển hóa thành niềm tin, đồng thuận, trách nhiệm cộng đồng và sự tham gia thực chất của người dân. Dưới góc độ lý luận, đây chính là một biểu hiện của “vốn xã hội” - được hình thành từ niềm tin, mạng lưới hợp tác và các chuẩn mực cộng đồng, qua đó có thể làm giảm chi phí phối hợp và tăng khả năng thực thi chính sách.
Tại xã Châu Thành, việc duy trì đối thoại với người dân, nhất là trong xử lý các vấn đề liên quan đến đất đai và triển khai dự án, góp phần tháo gỡ vướng mắc từ sớm và tạo sự đồng thuận trong cộng đồng. Ở Mỹ Xuyên, hơn 100 hộ dân đã hiến đất, di dời hàng rào, cây trái, hoa màu và đóng góp hơn 400 triệu đồng để phục vụ các công trình trên địa bàn. Những đóng góp đó không nên chỉ được xem là biểu hiện của tinh thần tự nguyện, mà còn cho thấy một cơ chế huy động nguồn lực xã hội có khả năng làm giảm chi phí giải phóng mặt bằng, rút ngắn thời gian thực hiện và tăng tính bền vững của dự án.
Trong một không gian quản trị rộng hơn, chính quyền số có thể trở thành công cụ hỗ trợ trực tiếp cho quá trình chuyển từ quản lý sang phục vụ. Những mô hình như tổ tư vấn hành chính công lưu động, trợ lý AI tại Lâm Tân hay việc công khai, QR hóa thủ tục ở Thuận Hưng cho thấy công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp người dân tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn, giảm thời gian và chi phí giao dịch, đồng thời tăng khả năng phản hồi của chính quyền. Chuyển đổi số được đánh giá bằng mức độ cải thiện chất lượng phục vụ và năng lực ra quyết định. Trong không gian quản trị lớn hơn, dữ liệu trở thành một dạng hạ tầng của năng lực điều phối, giúp chính quyền nhận diện nhu cầu, phân bổ nguồn lực và phản ứng nhanh hơn trước các vấn đề phát sinh.
Nếu chính quyền tạo lập môi trường, người dân tạo nền tảng xã hội, thì doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp chuyển hóa lợi thế thành giá trị kinh tế. Bảy tháng đầu năm 2026, Cần Thơ có 24 dự án đầu tư mới, trong đó 21 dự án trong nước với tổng vốn hơn 41.423 tỷ đồng và 3 dự án FDI với tổng vốn 25,2 triệu USD. Những con số này cho thấy sức hấp dẫn đầu tư của không gian mới đang từng bước được chuyển hóa thành các quyết định đầu tư cụ thể. Tuy nhiên, thu hút vốn chỉ là điểm khởi đầu.
Cách tiếp cận này giúp tránh hai thái cực: hoặc tuyệt đối hóa vai trò của vốn đầu tư, hoặc xem nhẹ đóng góp của khu vực doanh nghiệp. Một dự án có quy mô vốn lớn có thể tạo ra tăng trưởng về lượng, nhưng nếu liên kết với nền kinh tế địa phương còn hạn chế, giá trị lan tỏa có thể chưa tương xứng. Ngược lại, những dự án biết khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ, sử dụng lao động và dịch vụ địa phương, kết nối với doanh nghiệp trong vùng và tạo ra sản phẩm có khả năng tham gia chuỗi giá trị sẽ góp phần hình thành năng lực phát triển bền vững hơn.
III. KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN ĐẾN SỨC LAN TỎA VÙNG
Với một không gian phát triển mới, truyền thống cách mạng và khát vọng vươn lên là nguồn lực tinh thần quan trọng, nhưng không thể tự thân thay thế năng lực quản trị, chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả đầu tư hay năng lực đổi mới sáng tạo. Giá trị của truyền thống chỉ được phát huy đầy đủ khi trở thành niềm tin xã hội và động lực hành động. Khát vọng chỉ trở thành động lực phát triển khi được thể chế hóa thành mục tiêu, được tổ chức thành hành động và được kiểm chứng bằng kết quả. Kết quả ấy trước hết phải được phản ánh trong chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và mức độ cải thiện đời sống của người dân.
Ở tầm rộng hơn, vai trò trung tâm của Cần Thơ cũng cần được nhìn nhận bằng khả năng tạo ra sức lan tỏa đối với toàn vùng, thay vì chỉ bằng quy mô kinh tế nội tại. Một trung tâm vùng có ý nghĩa khi có khả năng kết nối thị trường, cung cấp dịch vụ chất lượng cao, tổ chức logistics, thúc đẩy chế biến, kết nối khoa học - công nghệ, mở rộng thị trường cho sản phẩm và thu hút, phân bổ hiệu quả các nguồn lực. Theo cách tiếp cận phát triển vùng, giá trị của một cực tăng trưởng nằm không chỉ ở những gì nó tạo ra cho chính mình, mà còn ở những cơ hội và năng lực mà nó tạo ra cho các địa bàn xung quanh.
Do đó, quá trình phát triển của Cần Thơ sau hợp nhất cần được đặt trong mối quan hệ tương tác với toàn Đồng bằng sông Cửu Long. Một cực tăng trưởng không được xác lập chỉ bằng quy mô kinh tế của bản thân, mà bằng mức độ lan tỏa mà nó tạo ra đối với không gian xung quanh. Khi Cần Thơ vừa nâng cao năng lực nội tại, vừa trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực của vùng, “không gian mới” mới thực sự được chuyển hóa thành “năng lực phát triển mới”.
IV. KHÔNG GIAN MỚI ĐẾN NĂNG LỰC PHÁT TRIỂN MỚI
Cần Thơ đang đứng trước một không gian phát triển mới với những nguồn lực có khả năng bổ trợ và cộng hưởng lẫn nhau. Truyền thống cách mạng và tinh thần đoàn kết là nền tảng tạo dựng niềm tin, đồng thuận và sức mạnh cộng đồng; không gian mở rộng tạo thêm dư địa để kết nối đô thị, nông nghiệp, kinh tế biển, logistics và khoa học - công nghệ; còn năng lực quản trị là yếu tố quyết định khả năng tổ chức, điều phối và chuyển hóa các nguồn lực ấy thành giá trị phát triển. Chỉ khi ba yếu tố này được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, lợi thế về quy mô mới có thể chuyển hóa thành lợi thế về năng lực cạnh tranh và sức lan tỏa.
Cơ hội từ không gian mới vì thế không nằm ở quy mô đơn thuần, mà ở khả năng tạo ra những thay đổi về chất trong phương thức phát triển. Truyền thống cần được tiếp nối bằng tinh thần đổi mới; khát vọng cần được cụ thể hóa bằng năng lực thực thi; hiệu quả phát triển cần được đo bằng chất lượng tăng trưởng, năng suất, việc làm, thu nhập và mức độ lan tỏa đối với toàn vùng. Khi chính quyền chủ động kiến tạo, người dân tích cực đồng hành và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, những lợi thế mới có thể từng bước chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh, tạo nền tảng để Cần Thơ khẳng định vai trò cực tăng trưởng và trung tâm kết nối của Đồng bằng sông Cửu Long./.
Ths. Hải Nam




