
I. TỪ MỞ RỘNG KHÔNG GIAN ĐẾN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG NGHIỆP
Trong tiến trình phát triển, mở rộng quy mô sản xuất có thể tạo ra động lực tăng trưởng đáng kể trong một giai đoạn nhất định. Khi các nguồn lực hữu hạn dần bộc lộ giới hạn, tăng trưởng bền vững không thể tiếp tục chủ yếu dựa vào gia tăng vốn, lao động, đất đai hay sản lượng. Yêu cầu đặt ra ngày càng rõ hơn là nâng cao năng suất lao động, chất lượng vốn, trình độ công nghệ, năng lực quản trị và khả năng tạo giá trị gia tăng. Đổi mới mô hình tăng trưởng vì thế không đơn thuần là thay đổi cơ cấu ngành, mà còn là thay đổi phương thức sử dụng và kết hợp các nguồn lực để tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một nền tảng nguồn lực.
Sự mở rộng không gian phát triển về phía Nam, gắn với khu vực Chu Lai, vì vậy cần được nhìn nhận trong một cấu trúc rộng hơn việc bổ sung quỹ đất cho các cơ sở sản xuất. Sau quá trình hợp nhất, thành phố Đà Nẵng có thêm một không gian phát triển lớn, tạo điều kiện tổ chức lại các vùng động lực, hành lang kinh tế và các cực phát triển. Quy hoạch điều chỉnh năm 2026 xác định cấu trúc không gian mới gắn với các vùng, hành lang và cụm động lực, đồng thời đặt mục tiêu phát triển Đà Nẵng thành trung tâm về khoa học, công nghệ, logistics, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và đổi mới sáng tạo.
Chu Lai có thể được xem xét như một mắt xích trong hệ thống sản xuất – logistics – cảng biển – hàng không – đô thị – dịch vụ. Lợi thế của khu vực phía Nam Đà Nẵng nằm ở sự hiện diện đồng thời của Khu kinh tế mở Chu Lai, hệ thống khu công nghiệp, cảng biển và sân bay Chu Lai, tạo điều kiện để hình thành các liên kết không gian và chuỗi cung ứng có quy mô lớn hơn. Định hướng phát triển hiện nay cũng đặt vấn đề tăng cường kết nối khu vực này với hệ thống cảng biển Chu Lai – Kỳ Hà, sân bay Chu Lai và các mạng lưới giao thông chiến lược; đồng thời hướng tới mở rộng không gian phát triển thương mại, logistics và các hoạt động có giá trị gia tăng cao.
Nếu quỹ đất mới chỉ được chuyển hóa thành thêm các nhà máy sử dụng nhiều tài nguyên, công nghệ ở mức thấp và liên kết hạn chế với doanh nghiệp trong nước, hiệu quả lan tỏa sẽ không tương xứng với nguồn lực đầu tư vào hạ tầng. Ngược lại, nếu không gian công nghiệp được tổ chức theo hướng chuyên môn hóa, kết nối với logistics, dịch vụ hỗ trợ, nghiên cứu – phát triển và mạng lưới cung ứng, việc mở rộng địa bàn có thể trở thành điều kiện để nâng cấp cấu trúc sản xuất. Khi đó, giá trị của không gian không nằm ở diện tích được đưa vào khai thác, mà ở mật độ hoạt động kinh tế có giá trị cao, mức độ liên kết giữa các chủ thể và khả năng hình thành các năng lực sản xuất mới.
Từ đây, yêu cầu đối với Đà Nẵng cần chuyển dần từ “thu hút dự án” sang “tạo năng lực sản xuất”. Giai đoạn đầu mở rộng không gian và huy động nguồn lực là cần thiết để hình thành nền tảng công nghiệp. Nhưng khi nền tảng đó đã được tích lũy, tiêu chí phát triển phải được nâng lên: lựa chọn dự án có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn; thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển logistics và dịch vụ hỗ trợ; đồng thời tạo môi trường để công nghệ và tri thức lan tỏa giữa các doanh nghiệp. Định hướng mới của Đà Nẵng cũng đang thể hiện sự chuyển dịch này khi thành phố nhấn mạnh lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, ưu tiên các ngành có giá trị gia tăng cao và tăng cường liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.
Vì vậy, mở rộng không gian công nghiệp chỉ có ý nghĩa phát triển khi đi cùng nâng cấp chất lượng công nghiệp. Chu Lai, trong cấu trúc phát triển mới của Đà Nẵng, có thể trở thành không gian để kiểm nghiệm một cách tiếp cận như vậy: lấy lợi thế về không gian, hạ tầng và kết nối làm nền tảng, nhưng lấy năng suất, công nghệ, giá trị gia tăng và liên kết chuỗi làm thước đo.
II. CHU LAI: TỪ TẬP TRUNG DỰ ÁN ĐẾN HÌNH THÀNH CỰC TĂNG TRƯỞNG
Sau hơn hai thập niên hình thành và phát triển, Chu Lai đã tích lũy được một nền tảng công nghiệp có quy mô đáng kể, tạo tiền đề để chuyển từ một không gian thu hút đầu tư sang một cực phát triển có khả năng tổ chức và lan tỏa các hoạt động kinh tế. Theo số liệu cập nhật đến giữa năm 2026, Khu kinh tế mở Chu Lai đã thu hút 262 dự án, với tổng vốn đăng ký khoảng 161.891 tỷ đồng; trong đó có 195 dự án trong nước và 67 dự án có vốn nước ngoài. Riêng lĩnh vực công nghiệp chiếm khoảng 65% tổng số dự án, với 190 dự án sản xuất, kinh doanh công nghiệp và 14 dự án đầu tư hạ tầng khu công nghiệp. Các dự án đang tạo việc làm cho khoảng 45.000–50.000 lao động. Những con số này cho thấy Chu Lai đã vượt qua giai đoạn hình thành ban đầu, từng bước tạo dựng một không gian sản xuất có khả năng tích lũy vốn, lao động, hạ tầng và kinh nghiệm tổ chức sản xuất.
Xét từ góc độ phát triển, ý nghĩa của quá trình tích lũy không chỉ nằm ở quy mô vốn hay số lượng dự án. Một khu kinh tế chỉ thực sự chuyển thành cực tăng trưởng khi sự tập trung các hoạt động kinh tế tạo ra hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy sự xuất hiện của các ngành công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ logistics, thương mại, đô thị, nguồn nhân lực và các mạng lưới cung ứng liên quan. Theo cách tiếp cận này, “cực tăng trưởng” không đơn thuần là một địa điểm tập trung nhiều nhà máy, mà là một không gian có khả năng tạo ra lợi thế tích tụ: doanh nghiệp tìm đến vì hạ tầng và thị trường; doanh nghiệp hỗ trợ phát triển vì có khách hàng; logistics mở rộng vì có nhu cầu vận chuyển; dịch vụ phát triển vì có lực lượng sản xuất và dân cư; còn nguồn nhân lực được thu hút và đào tạo bởi chính sự mở rộng của hệ sinh thái kinh tế.
Chu Lai đang cho thấy những dấu hiệu của quá trình chuyển dịch đó. Cấu trúc phát triển không còn giới hạn trong quan hệ giữa khu công nghiệp và nhà máy, mà ngày càng mở rộng sang công nghiệp, logistics, cảng biển, thương mại, dịch vụ, đô thị, chuỗi cung ứng. Hệ thống cảng Chu Lai, các khu công nghiệp và hạ tầng giao thông kết nối tạo điều kiện để hoạt động sản xuất gắn trực tiếp hơn với lưu chuyển hàng hóa và thị trường. Khu cảng, logistics và phi thuế quan Chu Lai – Trường Hải đã thu hút các nhà đầu tư thứ cấp trong các lĩnh vực vận tải, kho bãi, phân phối và trung chuyển; Bến cảng Chu Lai được đầu tư với chiều dài 836 m, có khả năng tiếp nhận tàu tải trọng đến 50.000 tấn. Những yếu tố này cho thấy hạ tầng công nghiệp chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi được đặt trong một mạng lưới kết nối rộng hơn, qua đó giảm chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian lưu chuyển hàng hóa và nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng.
Trường hợp Khu công nghiệp, hậu cần cảng Tam Hiệp là một minh họa rõ cho cách tiếp cận đó. Khu vực này được quy hoạch khoảng 417 ha, bao gồm khu công nghiệp, khu thương mại – dịch vụ phục vụ sản xuất, khu hậu cần cảng, giao thông, cây xanh và hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Đến tháng 7/2026, công tác bồi thường, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng đã được thực hiện khoảng 363 ha; hệ thống hạ tầng thiết yếu như giao thông nội bộ, cấp điện, cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải tập trung từng bước được hoàn thiện. Điều đáng chú ý ở đây là cách không gian công nghiệp được thiết kế để kết nối sản xuất với hậu cần cảng và dịch vụ. Theo đó, “hạ tầng” cần được hiểu rộng hơn mặt bằng và đường giao thông, trở thành năng lực kết nối của không gian sản xuất với cảng, logistics, thị trường và các doanh nghiệp trong chuỗi.
Từ đây đặt ra một vấn đề có tính phản biện: một khu công nghiệp được lấp đầy có đồng nghĩa với một khu công nghiệp hiệu quả? Câu trả lời không nhất thiết là có. Tỷ lệ lấp đầy chỉ phản ánh mức độ sử dụng quỹ đất, trong khi chất lượng phát triển phải được đánh giá bằng những kết quả sâu hơn: năng suất lao động, giá trị gia tăng trên đơn vị diện tích, trình độ công nghệ, mức độ tự động hóa, chất lượng việc làm, khả năng tham gia chuỗi cung ứng, tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia mạng lưới sản xuất, năng lực xuất khẩu và mức độ đáp ứng các yêu cầu về môi trường. Nếu cùng một diện tích nhưng tạo ra nhiều hơn về giá trị, công nghệ, tri thức và liên kết sản xuất thì hiệu quả sử dụng không gian cao hơn đáng kể so với việc chỉ gia tăng số lượng cơ sở sản xuất.
Trong giai đoạn đầu, việc thu hút nhiều dự án có thể cần thiết để tạo quy mô thị trường, hình thành hạ tầng và tích lũy kinh nghiệm sản xuất. Nhưng khi nền tảng đã được thiết lập, yêu cầu phát triển phải chuyển sang lựa chọn những dự án có khả năng nâng cấp cấu trúc công nghiệp. Với Chu Lai, đó là hướng ưu tiên các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, logistics và các dự án sử dụng tiết kiệm tài nguyên, thân thiện với môi trường. Đồng thời, cần tăng khả năng kết nối giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước để phần giá trị được tạo ra không chỉ nằm trong phạm vi từng doanh nghiệp mà có thể lan tỏa ra toàn bộ hệ sinh thái sản xuất. Định hướng phát triển vùng Đông Nam hiện cũng đặt Chu Lai trong vai trò cực tăng trưởng phía Nam của thành phố, với các trụ cột như công nghiệp ô tô và cơ khí đa dụng, công nghiệp hàng không, cảng biển – logistics và nông nghiệp công nghệ cao.
Quá trình chuyển đổi này không diễn ra tự động. Một số hạn chế về hạ tầng kết nối, giải phóng mặt bằng, nguồn lực đầu tư và chi phí logistics vẫn cần tiếp tục được xử lý; mức độ phát triển giữa các khu công nghiệp chưa hoàn toàn đồng đều, trong khi liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước và nhu cầu nhân lực kỹ thuật chất lượng cao còn là những vấn đề cần được quan tâm. Các đánh giá gần đây cũng cho thấy hạ tầng giao thông liên vùng chưa hoàn thiện có thể làm tăng chi phí logistics và ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Bước phát triển tiếp theo của Chu Lai không được đo chủ yếu bằng số dự án được bổ sung hay diện tích khu công nghiệp được lấp đầy. Thước đo quan trọng hơn là khả năng hình thành một hệ sinh thái sản xuất có sức lan tỏa, trong đó công nghiệp tạo nhu cầu cho logistics và dịch vụ; cảng và hạ tầng giao thông mở rộng thị trường cho doanh nghiệp; doanh nghiệp lớn kéo theo công nghiệp hỗ trợ; hoạt động sản xuất tạo động lực cho đào tạo nhân lực và phát triển đô thị; còn đổi mới công nghệ nâng cao năng suất của toàn chuỗi. Khi các quan hệ đó được củng cố, Chu Lai mới thực sự chuyển từ một địa bàn tập trung dự án thành một cực tăng trưởng có năng lực tự củng cố và lan tỏa, đóng góp vào quá trình nâng cao chất lượng công nghiệp của Đà Nẵng trong không gian phát triển mới.
III. KIẾN TẠO KHÔNG GIAN CÔNG NGHIỆP CÓ SỨC LAN TỎA
Nâng cao chất lượng công nghiệp vừa là nhiệm vụ của doanh nghiệp hay nhà đầu tư, vừa phụ thuộc đáng kể vào cách chính quyền tổ chức và kiến tạo không gian phát triển. Trong bối cảnh đó, vai trò của chính quyền cần chuyển dần từ quản lý địa điểm đầu tư sang kiến tạo hệ sinh thái sản xuất. Quy hoạch đồng bộ, hạ tầng giao thông và logistics, hạ tầng số, đất đai và mặt bằng sản xuất phải được kết nối với đào tạo nhân lực, cải cách thủ tục, hỗ trợ doanh nghiệp, bảo đảm tiêu chuẩn môi trường và thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp. Chính quyền không thay thế thị trường trong việc quyết định dự án nào thành công, nhưng có thể tạo dựng những điều kiện thể chế và hạ tầng để các nguồn lực được kết nối hiệu quả hơn.
Theo cách tiếp cận này, không gian công nghiệp không thể được quy hoạch như một “ốc đảo sản xuất” tách biệt khỏi đời sống kinh tế – xã hội. Một hệ sinh thái công nghiệp có sức lan tỏa cần được tổ chức theo các mối liên kết khu công nghiệp, cảng – logistics, đô thị, nguồn nhân lực, dịch vụ, doanh nghiệp hỗ trợ, từ đó hình thành mạng lưới sản xuất có khả năng tạo hiệu ứng tích tụ và lan tỏa. Khi doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi với nguyên liệu, lao động, dịch vụ chuyên môn, hạ tầng logistics và thị trường, chi phí giao dịch có thể giảm, năng suất được cải thiện và khả năng hình thành các chuỗi cung ứng nội vùng được nâng lên.
Định hướng tiếp tục mở rộng các khu công nghiệp và thu hút thêm nguồn lực trong giai đoạn 2026–2030 vì vậy cần được đặt trong yêu cầu nâng cấp chất lượng phát triển. Mở rộng không gian là cần thiết khi nền kinh tế có nhu cầu về mặt bằng sản xuất và các động lực tăng trưởng mới, nhưng mở rộng chỉ có ý nghĩa khi đi cùng nâng cấp. Nếu diện tích công nghiệp và số lượng dự án tăng lên nhưng năng suất, công nghệ, giá trị gia tăng và mức độ liên kết chuỗi không được cải thiện tương ứng, hiệu quả sử dụng nguồn lực sẽ khó đạt kỳ vọng.
IV. KẾT LUẬN
Đà Nẵng đang đứng trước điều kiện thuận lợi để hình thành một không gian công nghiệp có quy mô và cấu trúc lớn hơn, trong đó Chu Lai có thể trở thành một cực phát triển quan trọng. Tuy nhiên, bước phát triển tiếp theo cần hướng tới chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh được tạo ra từ quá trình phát triển công nghiệp. Điều đó đòi hỏi ưu tiên những dự án có trình độ công nghệ cao hơn, năng suất tốt hơn, giá trị gia tăng lớn hơn, liên kết chuỗi sâu hơn và tác động môi trường thấp hơn, đồng thời tạo được sức lan tỏa đối với doanh nghiệp, nguồn nhân lực và các ngành dịch vụ hỗ trợ.
Với Đà Nẵng, phát triển công nghiệp trong giai đoạn mới vì thế không chỉ là mở rộng thêm không gian cho sản xuất, mà là tạo dựng một không gian có khả năng sản sinh giá trị, công nghệ và năng lực cạnh tranh. Khi hạ tầng được kết nối, dòng vốn được lựa chọn theo chất lượng và doanh nghiệp được đặt trong một hệ sinh thái sản xuất – logistics – dịch vụ đồng bộ, công nghiệp sẽ không chỉ tăng về quy mô mà còn có khả năng trở thành nền tảng quan trọng của tăng trưởng nhanh và bền vững./.
ThS Thanh Duy




