I. Về tình hình thực hiện thu, chi NSNN 5 tháng năm 2026
1. Về thu NSNN
Thu NSNN thực hiện tháng 5 ước đạt gần 216,3 nghìn tỷ đồng, bằng 8,6% dự toán1(tháng 5 năm 2025 thu đạt 9,9% dự toán), bằng 76,9% số thu bình quân tháng của 4 tháng đầu năm. Lũy kế thu NSNN 5 tháng ước đạt 1.341 nghìn tỷ đồng, bằng 53% dự toán, tăng 15,4% so cùng kỳ năm 2025 (thu NSNN 5 tháng năm 2025 đạt 59,1% dự toán, tăng 26,9% so cùng kỳ năm 2024). Trong đó:
(i) Thu nội địa: Ước đạt 1.168,2 nghìn tỷ đồng, bằng 53,1% dự toán, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm 2025 (thu nội địa 5 tháng năm 2025 đạt 60,5% dự toán, tăng 30,4% so cùng kỳ năm 2024).
(ii) Thu từ dầu thô: Ước đạt 24,8 nghìn tỷ đồng, bằng 57,7% dự toán, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2025. Giá dầu thô thanh toán bình quân 5 tháng đạt khoảng 91,4 USD/thùng, tăng 21,4 USD/thùng so giá dự toán; sản lượng ước đạt 3,5 triệu tấn, bằng 43,9% dự toán, tăng 5% so với cùng kỳ.
(iii) Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu: Ước đạt 147,2 nghìn tỷ đồng, bằng 52,9% dự toán, trên cơ sở: tổng số thu từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 212,3 nghìn tỷ đồng, bằng 47,1% dự toán, tăng 15,3% so cùng kỳ; hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ khoảng 65,1 nghìn tỷ đồng, bằng 37,6% dự toán, tăng 23,2% so cùng kỳ.
Trong tháng 5, cơ quan Thuế, Hải quan tiếp tục triển khai các chính sách miễn, giảm thuế, phí, lệ phí đã ban hành để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tháo gỡ khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, bao gồm các chính sách mới về giảm thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay ban hành theo Quyết định số 482/QĐ-TTg ngày 26/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 19/2026/QH16 ngày 12/4/2026 của Quốc hội. Ước tính lũy kế tổng số tiền đã miễn giảm trong 5 tháng đầu năm khoảng 72,8 nghìn tỷ đồng2.
2. Về chi NSNN
Tổng chi NSNN thực hiện tháng 5 ước đạt 186,6 nghìn tỷ đồng; luỹ kế chi 5 tháng ước đạt 845,4 nghìn tỷ đồng, bằng 26,8% dự toán, tăng 3,3% so cùng kỳ năm 2025, trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt khoảng 206,2 nghìn tỷ đồng, bằng 18,4% dự toán Quốc hội quyết định, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công ước đạt 20,3% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; chi trả nợ lãi ước đạt 43% dự toán; chi thường xuyên ước đạt 32,4% dự toán.
Hoạt động chi ngân sách 5 tháng đầu năm đáp ứng các nhu cầu chi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, quản lý nhà nước và thanh toán các khoản chi trả nợ đến hạn, đảm bảo chi trả kịp thời các khoản lương, lương hưu, trợ cấp xã hội từ NSNN, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Dự phòng ngân sách trung ương đã chi 5.605 tỷ đồng bổ sung cho các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương để khắc phục hậu quả do thiên tai, dịch bệnh và xử lý các nhiệm vụ đột xuất, cấp bách theo quy định. Bên cạnh đó, đã thực hiện xuất cấp 15.709 tấn gạo dự trữ quốc gia theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ để cứu trợ, cứu đói cho nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt đầu năm.
Kế hoạch vốn đầu tư công đã giao năm 2026 là 1.027,2 nghìn tỷ đồng. Tổng số kế hoạch vốn các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ chi tiết là 1.004 nghìn tỷ đồng. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tháng 5 đã có chuyển biến tích cực hơn so với các tháng đầu năm, song tỷ lệ giải ngân 5 tháng ước đạt 20,3% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, vẫn ở mức thấp so yêu cầu và so với cùng kỳ. Các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương đang tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tại Thông báo số 213/TB-VPCP ngày 25/4/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị toàn quốc về đẩy mạnh phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công năm 2026. Đồng thời, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đang rà soát, báo cáo, đề xuất của các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương, tổng hợp để trình cấp có thẩm quyền việc cắt giảm và điều chuyển vốn đầu tư công các dự án của các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương chậm tiến độ sang các nơi có tỷ lệ giải ngân tốt và có nhu cầu bổ sung vốn.
3. Về cân đối NSNN
Cân đối ngân sách trung ương và ngân sách các cấp địa phương được đảm bảo. Tính đến ngày 27/5/2026, đã thực hiện phát hành 159,2 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, kỳ hạn bình quân 9,5 năm, lãi suất bình quân 4,09%/năm.
II. Tình hình phân bổ, giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2026
1. Về kế hoạch vốn năm 2026
- Tổng kế hoạch vốn năm 2026 đã được Quốc hội giao là 1,08 triệu tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay và cao hơn khoảng 175 nghìn tỷ đồng so với kế hoạch vốn năm 2025. Thủ tướng Chính phủ đã giao chi tiết cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương là 1,01 triệu tỷ đồng (còn lại khoảng 79,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,4% tổng kế hoạch Quốc hội giao).
- Đến hết tháng 5/2026, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ, giao kế hoạch đầu tư vốn năm 2026 chi tiết cho danh mục nhiệm vụ, dự án là 1.004.037,1 tỷ đồng. Nếu không tính kế hoạch vốn cân đối NSĐP các địa phương giao tăng (13.325,9 tỷ đồng), tổng số vốn đã phân bổ chi tiết là 990.711,2 tỷ đồng, đạt 97,8% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao.
- Số vốn chưa phân bổ chi tiết là 22.732,2 tỷ đồng của 12 bộ, cơ quan trung ương và 12 địa phương (chiếm 2,2% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao) chủ yếu đang trong quá trình hoàn thiện các thủ tục đầu tư dẫn tới chưa đảm bảo điều kiện bố trí kế hoạch vốn cho các dự án; một số bộ, cơ quan đề xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn để điều chuyển cho bộ, ngành, địa phương có nhu cầu sử dụng.
2. Về tình hình giải ngân
Giải ngân từ đầu năm đến hết ngày 31/5/2026 là 219.358,8 tỷ đồng, đạt 21,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; trong đó: vốn NSTW là 70.643,8 tỷ đồng, đạt 19,4%; vốn NSĐP là 148.715,1 tỷ đồng, đạt 22,9%. So với cùng kỳ năm 20253, kết quả giải ngân đạt tương đương về tỷ lệ và tăng 34.816,6 tỷ đồng về số tuyệt đối.
- Khó khăn vướng mắc: Trên cơ sở báo cáo của các bộ, cơ quan và địa phương, một số khó khăn vướng mắc chủ yếu ảnh hưởng tiến độ giải ngân như sau: (1) Tình trạng thiếu nguồn cung vật liệu xây dựng, chưa đáp ứng kịp nhu cầu gia tăng nhanh trong giai đoạn đẩy mạnh đầu tư công; giá nguyên vật liệu tăng cao so với dự toán được duyệt, làm phát sinh chênh lệch chi phí, dẫn đến phải thực hiện điều chỉnh hợp đồng; cùng với khó khăn trong công tác GPMB liên quan đến việc xác định nguồn gốc đất, đơn giá, phương án đền bù, chưa thể triển khai thi công theo kế hoạch. (2) Thời điểm những tháng đầu năm, các CĐT thường đang tập trung thực hiện các bước thiết kế, lập, thẩm định, phê duyệt dự toán và tổ chức lựa chọn nhà thầu; do đó khối lượng nghiệm thu, thanh toán phát sinh chưa nhiều. (3) Việc lập kế hoạch chưa sát với nhu cầu và khả năng thực hiện, cùng với chất lượng CBĐT các dự án chưa tốt, dẫn tới phải điều chỉnh dự án hoặc đề xuất hoàn trả kế hoạch vốn, làm chậm tiến độ triển khai. (4) Năng lực, trách nhiệm của một bộ phận CĐT, BQLDA, nhà thầu vẫn còn hạn chế, chưa chủ động, thiếu quyết liệt trong tổ chức thi công; một số xã, phường thiếu cán bộ phụ trách đầu tư công, cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ;…
- Một số giải pháp: Để thúc đẩy giải ngân đầu tư công, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tại Thông báo số 213/TB-VPCP ngày 25/4/2026 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị toàn quốc đẩy mạnh phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công năm 2026. Trong đó, lưu ý tập trung thực hiện ngay một số các nhiệm vụ như sau: (1) Tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò người đứng đầu các bộ, cơ quan, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương, kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền giải quyết. (2) Về GPMB và nguyên vật liệu: thực hiện theo theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 25/CĐ-TTg ngày 21/3/20264 và Công điện số 28/CĐ-TTg ngày 01/4/20265 về các giải pháp quản lý, điều hành, kiểm soát giá nguyên vật liệu xây dựng và tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh công tác GPMB, đặc biệt trong bối cảnh xung đột quân sự Trung Đông kéo dài; Bộ Xây dựng chủ động đôn đốc, phối hợp với địa phương theo dõi sát diễn biến thị trường vật liệu xây dựng, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, bình ổn giá vật liệu xây dựng, dự báo biến động giá cả để kịp thời xử lý theo thẩm quyền. (3) Khắc phục các tồn tại trong công tác cán bộ; Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, xử lý nghiêm khắc các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, tổ chức, cá nhân cố tình gây khó khăn, cản trở, thiếu trách nhiệm. Có giải pháp sắp xếp bố trí cán bộ đáp ứng yêu cầu trong công tác quản lý và triển khai các dự án tại các xã, phường, nhất là đối với các địa bàn vùng sâu, vùng xa. (4) Ngoài ra, nghiêm túc triển khai nhập đầy đủ dữ liệu số về tình hình giải ngân đầu tư công trên hệ thống thông tin của Bộ Tài chính theo đúng hướng dẫn và thời gian quy định tại công văn số 1780/BTC-PTHT ngày 11/2/2026 của Bộ Tài chính về cung cấp thông tin, dữ liệu về các chỉ số giải ngân vốn đầu tư công để triển khai bộ công cụ KPI theo dõi, đánh giá giải ngân vốn đầu tư công.
III. Công tác điều hành giá
Giá cả thị trường trong 5 tháng đầu năm 2026 biến động chủ yếu do chịu tác động của yếu tố mùa vụ và diễn biến giá nhiên liệu, nguyên vật liệu trên thị trường thế giới. Trong tháng 2/2026, nhu cầu mua sắm và đi lại tăng cao dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ đã làm giá thực phẩm, dịch vụ ăn uống ngoài gia đình và dịch vụ giao thông tăng mạnh, qua đó tạo áp lực lên chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Kết quả, CPI tháng 02/2026 tăng 1,14% so với tháng trước, tăng 1,19% so với tháng 12/2025 và tăng 3,35% so với cùng kỳ năm 2025. Sang tháng 3/2026, giá xăng dầu trong nước tăng theo xu hướng giá nhiên liệu thế giới, cùng với giá vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào và vận chuyển gia tăng, là những nguyên nhân chính khiến CPI tháng 3/2026 tăng 1,23% so với tháng trước. Đến tháng 4/2026, giá gas trong nước tăng mạnh theo giá thế giới; bên cạnh đó, giá dịch vụ ăn uống ngoài gia đình và vật liệu xây dựng tăng do chi phí đầu vào và vận chuyển tăng cao đã làm CPI tháng 4/2026 tăng 0,84% so với tháng trước. Theo số liệu của Cục Thống kê, CPI tháng 4/2026 tăng 3,31% so với tháng 12/2025 và tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 3,99% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,89%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 10 nhóm tăng giá, riêng nhóm thông tin và truyền thông giảm giá.
Từ đầu năm đến nay, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá đã chú trọng công tác quản lý, điều hành giá góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội. Triển khai các nhiệm vụ được giao, các bộ, ngành, địa phương đã chủ động triển khai các biện pháp quản lý, điều hành giá thuộc thẩm quyền quản lý, gắn với việc theo dõi sát diễn biến thị trường và bảo đảm cân đối cung – cầu hàng hóa, nhất là các mặt hàng thiết yếu.
Sang tháng 3/2026, do ảnh hưởng của xung đột quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đã đẩy giá xăng dầu tăng cao, hoạt động vận tải tuyến quốc tế gặp khó khăn. Các yếu tố này mặc dù chưa ảnh hưởng đến nguồn cung các mặt hàng trong nước nhưng do giá xăng dầu trong nước tăng cao bắt đầu ảnh hưởng đến giá một số nhóm hàng quan trọng như phân bón, vật liệu xây dựng, thức ăn chăn nuôi, thực phẩm. Trước tình hình đó, Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo Bộ Công Thương, Bộ Tài chính triển khai thực hiện bình ổn giá xăng dầu theo quy định, sử dụng Quỹ bình ổn xăng dầu kết hợp giảm các loại thuế trong giá xăng dầu về 0% và bổ sung dự toán chi Ngân sách Nhà nước để tạm ứng cho Quỹ Bình ổn giá xăng dầu qua đó góp phần kịp thời bình ổn giá xăng dầu trong nước, bảo đảm nguồn cung xăng dầu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sản xuất của doanh nghiệp và người dân.
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã chủ động điều hành chính sách tài khóa theo hướng linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với các chính sách vĩ mô khác; triển khai hiệu quả các công cụ về thuế, phí… để góp phần bình ổn thị trường, giảm áp lực chi phí đầu vào cho sản xuất kinh doanh. Các chính sách hỗ trợ giảm thuế, phí khác tiếp tục được triển khai trong đó giảm 2% thuế VAT đến hết năm 2026 đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ góp phần giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, giúp ổn định giá cả hàng hóa và dịch vụ. Chính sách tiền tệ tiếp tục được ngân hàng Nhà nước điều hành chủ động, linh hoạt, góp phần kiểm soát lạm phát. Một số mặt hàng Nhà nước định giá được điều chỉnh miễn giảm như: Miễn học phí cho học sinh từ bậc mầm non đến hết trung học phổ thông công lập trên toàn quốc kể từ năm học 2025-2026; giảm giá sách giáo khoa từ 5-20% trong năm học 2025-2026; trong tháng 3/2026, Bộ Xây dựng đã có văn bản giảm giá dịch vụ hoa tiêu hàng hải cho tàu biển Việt Nam.
Đồng thời, để chủ động ứng phó với những thách thức trong công tác điều hành giá, bình ổn giá góp phần kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra; nhất là việc kiểm soát giá các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu sau khi giá xăng dầu biến động mạnh, ngay trong tháng 3/2026, Bộ Tài chính đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 28/CT-TTg ngày 2/4/2026 và chủ động ban hành Công văn số 5807 BTC-QLG ngày 08/05/2026, theo đó yêu cầu các Bộ, ngành địa phương tăng cường các biện pháp quản lý, điều hành và bình ổn giá nhằm đảm bảo các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện đúng quy định pháp luật, đảm bảo tính công khai, minh bạch và phát hiện, ngăn chặn các hành vi tăng giá bất hợp lý, các trường hợp thao túng giá, nâng khống giá bán…góp phần thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống người dân, hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức, cá nhân trước bối cảnh tình hình thế giới như hiện nay.
Trong các tháng còn lại của năm 2026, kinh tế thế giới được dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều yếu tố bất định như xung đột địa chính trị kéo dài, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng và chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn còn tiềm ẩn thay đổi khó lường. Những diễn biến này có thể gây biến động đối với giá năng lượng và các mặt hàng đầu vào quan trọng, từ đó tác động đến mặt bằng giá trong nước. Để kiểm soát lạm phát, hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội và củng cố niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư, tại Thông báo số 219/TB-VPCP ngày 29/4/2026 của Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành, địa phương tăng cường công tác theo dõi, phân tích diễn biến cung cầu và giá các mặt hàng thiết yếu, Chú trọng các giải pháp về bảo đảm, điều hòa cung cầu, Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát thị trường, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá, sử dụng linh hoạt, hiệu quả các công cụ, biện pháp điều tiết giá theo quy định của pháp luật về giá để kiểm soát, bình ổn thị trường đối với các hàng hóa, dịch vụ theo lĩnh vực quản lý.
IV. Quản lý công sản
1. Về các công việc đã triển khai để phục vụ bố trí, sắp xếp, xử lý trụ sở, tài sản công khi sắp xếp đơn vị hành chính
1.1 Về việc hoàn thiện chính sách, pháp luật:
Từ cuối năm 2024 đến nay, trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành 38 văn bản quy phạm pháp luật; trong đó, liên quan trực tiếp đến việc triển khai sắp xếp đơn vị hành chính, xây dựng mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, từ ngày 01/6/2025 đến nay, Bộ Tài chính đã trình cấp có thẩm quyền ban hành 12 Nghị định của Chính phủ, 02 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, ban hành theo thẩm quyền 07 Thông tư để hoàn thiện cơ sở pháp lý phục vụ cho việc quản lý, sử dụng, xử lý tài sản công sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và sắp xếp đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Trong đó, đã phân cấp, phân quyền triệt để cho chính quyền địa phương trong việc quản lý, khai thác, xử lý tài sản công thuộc phạm vi quản lý của địa phương theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”; đồng thời, đã điều chỉnh hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công để phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy sau khi sắp xếp.
1.2. Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn việc thực hiện sắp xếp, bố trí, xử lý trụ sở, tài sản công khi sắp xếp đơn vị hành chính:
- Trước, trong và sau quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và sắp xếp đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính thường xuyên có các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương thực hiện sắp xếp, bố trí, xử lý, khai thác tài sản công để bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, tránh lãng phí tài sản. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 05 Công điện; Đảng ủy Bộ Tài chính đã có 03 văn bản; Bộ trưởng Bộ Tài chính đã có 02 Công điện; Bộ Tài chính ban hành 25 văn bản hướng dẫn, đôn đốc thực hiện. Ngoài ra, Bộ Tài chính liên tục có các văn bản đôn đốc các địa phương có tiến độ thực hiện chậm, nhiều cơ sở nhà, đất cần xử lý để đẩy nhanh tiến độ thực hiện.
- Bộ Tài chính đã thành lập Tổ công tác, Đoàn công tác làm việc trực tiếp và tổ chức 04 Hội nghị trực tuyến với tất cả các địa phương để hướng dẫn, đôn đốc trực tiếp, giải đáp các khó khăn, vướng mắc của địa phương trong quá trình triển khai thực hiện; thiết lập đường dây nóng, cử cán bộ phụ trách từng địa phương để hướng dẫn thường xuyên; trong đó, đã báo cáo cấp có thẩm quyền quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết và có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn theo thẩm quyền. Tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ chuyên sâu cho cán bộ, công chức được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản công đến cấp xã thông qua nền tảng ứng dụng trực tuyến, cả trong và ngoài giờ hành chính để nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ trong bối cảnh nhân lực quản lý tài sản công ở các địa phương có nhiều thay đổi.
2. Về kết quả quản lý, xử lý, khai thác trụ sở, nhà, đất dôi dư khi sắp xếp đơn vị hành chính
2.1. Về tình hình bảo đảm trụ sở làm việc:
Để có cơ sở bố trí, sắp xếp đối với trụ sở làm việc theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành các Nghị định về quản lý, xử lý tài sản công, tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; Bộ Tài chính cũng đã có các văn bản hướng dẫn các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương rà soát, sắp xếp, bố trí trụ sở làm việc để bảo đảm trụ sở làm việc cho cán bộ, công chức, viên chức sau sắp xếp. Các quy định và hướng dẫn việc bố trí trụ sở sau khi sắp xếp được thực hiện một cách linh hoạt theo nhiều hình thức để phù hợp với tình hình thực tế; các cơ sở nhà, đất dôi dư đã được điều hòa giữa các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương để đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Sau khi sắp xếp tinh gọn bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính thì về cơ bản đã bảo đảm trụ sở làm việc phục vụ hoạt động của Lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, cơ quan trung ương và các địa phương.
Thực hiện tinh thần theo chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Kết luận số 18-KL/TW, tận dụng tối đa công năng sử dụng các trụ sở làm việc hiện có, về cơ bản các xã không ở trung tâm huyện cũ đều làm việc tại các trụ sở không tập trung, phân tán ở các xã cũ trước khi sáp nhập, trong đó, bố trí cho khối cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận làm việc tại các địa điểm khác nhau để tận dụng trụ sở của các xã cũ.
2.2. Về tình hình xử lý, khai thác cơ sở nhà, đất dôi dư:
- Kết quả quản lý, khai thác, xử lý nhà, đất của các địa phương:
Hiện nay, các địa phương đã hoàn thành bước đầu việc sắp xếp, xử lý các cơ sở nhà, đất thuộc phạm vi quản lý sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính các cấp, bảo đảm tất cả các cơ sở nhà, đất đều có chủ thể chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng, khai thác, xử lý.
Tổng số cơ sở nhà, đất của các địa phương đã hoàn thành xử lý bước 1 là 26.447 cơ sở; trong đó, đã ưu tiên bố trí làm cơ sở giáo dục, đào tạo: 3.015 cơ sở; đã bố trí làm cơ sở y tế: 648 cơ sở; đã bố trí làm thiết chế văn hoá, thể thao: 2.385 cơ sở; đã bố trí cho các mục đích công cộng khác: 626 cơ sở.
Tuy nhiên, đối với các cơ sở nhà, đất có quyết định thu hồi, chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý thì sau khi hoàn thành bước 1, cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp nhận phải tiếp tục xử lý bước 2 để đưa tài sản vào khai thác, xử lý triệt để theo đúng yêu cầu của Đảng, Nhà nước. Theo tổng hợp báo cáo của các địa phương tính đến ngày 27/5/2026 thì kết quả như sau:
+ Số cơ sở nhà, đất dôi dư đã có quyết định thu hồi, chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý đã hoàn thành việc xử lý hoặc đã đưa vào khai thác là 4.709 cơ sở;
+ Số cơ sở nhà, đất dôi dư đã có quyết định thu hồi, chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý chưa hoàn thành xử lý hoặc đưa vào khai thác triệt để là 11.412 cơ sở (bao gồm 5.329 cơ sở đã giao cho tổ chức kinh doanh nhà, tổ chức phát triển quỹ đất của địa phương quản lý, khai thác nhưng chưa đưa vào khai thác; 2.823 cơ sở đã được phê duyệt phương án nhưng chưa hoàn thành xử lý, khai thác; 3.260 cơ sở chưa có phương án xử lý, khai thác).
+ Nhà, đất đã giao cho tổ chức kinh doanh nhà, tổ chức phát triển quỹ đất của địa phương quản lý, khai thác là 5.492 cơ sở; trong đó: (i) đã hoàn thành đưa vào khai thác hoặc xử lý là 163 cơ sở; (i) chưa hoàn thành đưa vào khai thác hoặc xử lý là 5.329 cơ sở.
- Kết quả quản lý, khai thác, xử lý nhà, đất của các Bộ, cơ quan trung ương: + Số cơ sở nhà, đất đã xử lý: 3.446 cơ sở.
+ Số cơ sở nhà, đất chưa xử lý: 702 cơ sở; trong đó: (i) Đã có Quyết định xử lý: 163 cơ sở; (ii) Đã trình nhưng chưa có Quyết định xử lý: 65 cơ sở; (iii) Chưa có Quyết định xử lý: 474 cơ sở.
2.3. Đánh giá tình hình quản lý, xử lý, khai thác tài sản công khi sắp xếp đơn vị hành chính
- Kết quả đạt được
+ Việc sắp xếp, bố trí, xử lý tài sản công khi có thay đổi về mô hình tổ chức, vận hành của chính quyền địa phương đã góp phần rất quan trọng vào thành công của cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy, xây dựng và vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, bảo đảm hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công được thông suốt, không gián đoạn.
+ Thông qua quá trình sắp xếp đã tạo được nguồn lực đất đai và các cơ sở vật chất khác cho các dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu cho người dân (y tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao,…), đặc biệt là ở đô thị lớn; không chỉ tiết kiệm một lượng lớn chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng, xây dựng hạ tầng6 mà còn góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, bảo đảm người dân được thụ hưởng thành quả của cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy.
+ Thông qua quá trình sắp xếp, tạo quỹ nhà, đất để vừa phục vụ mục tiêu lâu dài cho Nhà nước (thông qua việc giao quỹ nhà, đất dôi dư cho tổ chức có chức năng quản lý, kinh doanh nhà và tổ chức phát triển quỹ đất của địa phương), vừa tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển (thông qua việc giao đất, cho thuê đất theo pháp luật về đất đai…), đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.
- Hạn chế, khó khăn, vướng mắc
a) Hạn chế
Mặc dù, đến nay các địa phương đã hoàn thành việc sắp xếp, xử lý bước đầu đối với các cơ sở nhà, đấy dôi dư, bảo đảm các cơ sở nhà, đất đều có đối tượng chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng, khai thác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối với các cơ sở nhà, đất được xử lý theo phương án thu hồi, chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý thì cần tiếp tục xử lý ở bước 2 để đưa nhà, đất vào khai thác hoặc xử lý triệt để. Theo tổng hợp báo cáo thì tiến độ xử lý, đưa vào khai thác đối với các cơ sở nhà, đất đã thu hồi, chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý chưa đồng đều. Có 05 địa phương báo cáo còn ít cơ sở đã thu hồi, chuyển giao chưa hoàn thành khai thác, xử lý triệt để gồm: Lai Châu, Điện Biên, Cao Bằng, Lạng Sơn, An Giang; tuy nhiên, vẫn còn nhiều địa phương có số lượng lớn cơ sở nhà, đất cần tiếp tục xử lý bước 2.
Một số Bộ, cơ quan trung ương còn nhiều nhà, đất dôi dư chưa hoàn thành việc xử lý (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao).
b) Khó khăn, vướng mắc
- Việc triển khai bố trí, sắp xếp, xử lý trụ sở, nhà, đất của các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương để bảo đảm cơ sở vật chất ngay khi bộ máy mới đi vào hoạt động diễn ra trong thời gian ngắn, khối lượng tài sản lớn và phải triển khai đồng loạt trên phạm vi cả nước.
- Hệ thống tổ chức bộ máy trước và sau khi sắp xếp có nhiều biến động đòi hỏi yêu cầu khác nhau về cơ sở vật chất; trong khi hệ thống công sở cũ được thiết kế, xây dựng cho mô hình tổ chức bộ máy cũ với biên chế, nhu cầu sử dụng khác. Do đó, việc bố trí, sắp xếp, xử lý trụ sở, nhà, đất cần phải có sự linh hoạt.
- Cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản công có nhiều xáo trộn trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính các cấp; cán bộ tại các cơ quan, đơn vị sau khi sắp xếp phải thực hiện đồng thời nhiều công việc cũng một lúc, khối lượng công việc phát sinh lớn.
- Một số Bộ, cơ quan trung ương, địa phương chưa ban hành được đầy đủ văn bản thuộc thẩm quyền của Bộ, cơ quan trung ương, địa phương để thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công (như: văn bản phân cấp thẩm quyền quyết định trong quản lý, sử dụng tài sản công; văn bản ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô, máy móc, thiết bị chuyên dùng,…).
- Trong giai đoạn hiện nay việc xử lý, khai thác ở bước 2 còn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc do khách quan mang lại như:
+ Khi sắp xếp tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính các cấp phát sinh số lượng lớn trụ sở, nhà, đất dôi dư cần đưa vào khai thác, tạo lượng cung lớn; trong khi lượng cầu của khối Nhà nước (để làm trụ sở, cơ sở hoạt động sự nghiệp) và khối ngoài Nhà nước (nhu cầu thuê nhà, đất của tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước) ở nơi có tài sản dôi dư giảm (do cơ quan, đơn vị dịch chuyển về trung tâm tỉnh mới, xã mới và sự dịch chuyển của mô hình kinh doanh từ trực tiếp sang online) dẫn tới mất cân đối cung – cầu.
+ Nhiều cơ sở nhà, đất dôi dư có quy mô nhỏ, lẻ, ở các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, không có lợi thế thương mại, các tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước không có nhu cầu thuê trong khi để sử dụng làm các công trình công cộng thì cần có kinh phí và nhân sự quản lý.
+ Nhiều cơ sở nhà, đất dôi dư được giao cho cấp xã quản lý, khai thác, xử lý; tuy nhiên, một số đơn vị cấp xã còn lúng túng trong triển khai thực hiện.
2.4. Về phương hướng, giải pháp
- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công từ trung ương đến địa phương, đặc biệt là các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn chi tiết về tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công chuyên dùng và các văn bản phân cấp trong quản lý, sử dụng tài sản công thuộc phạm vi quản lý của Bộ, ngành, địa phương.
- Thực hiện nghiêm chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Kết luận số 18-KL/TW: “Trong điều kiện ngân sách còn khó khăn, tận dụng tối đa công năng sử dụng các trụ sở làm việc hiện có; hạn chế tối đa việc xây dựng trụ sở, trung tâm hành chính mới tại các tỉnh, thành phố; các bộ, ngành, cơ quan, địa phương chịu trách nhiệm về sự cần thiết khi quyết định, bảo đảm hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, không để ảnh hưởng đến các mục tiêu quan trọng khác, chống lãng phí, tiêu cực”.
- Các Bộ, cơ quan trung ương, Uỷ ban nhân dân các cấp tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc quản lý, khai thác, xử lý các tài sản công thuộc phạm vi quản lý để bảo đảm đưa tài sản công vào khai thác, sử dụng hiệu quả.
- Các cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp tục rà soát việc quản lý, sử dụng các cơ sở nhà, đất tiếp tục sử dụng hoặc được tiếp nhận sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính để bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công; kịp thời xử lý hoặc đưa vào khai thác các tài sản công dôi dư, tránh thất thoát, lãng phí tài sản.
- Xác việc thực hiện công tác quản lý, khai thác, xử lý nhà, đất dôi dư là một trong những tiêu chí để đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ (KPI) đối với người đứng đầu Bộ, cơ quan trung ương, tỉnh, thành phố, xã, phường, đặc khu và cơ quan, tổ chức, đơn vị.
- Về cơ chế, chính sách: Ngày 26/5/2026, Bộ Tài chính đã có Tờ trình Chính phủ về việc ban hành Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù để đẩy nhanh tiến độ xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính theo trình tự, thủ tục rút gọn. Bộ Tài chính đang tích cực phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Chính phủ để ban hành./.
Hoàng Minh Tiến





