20/08/2026 lúc 03:55 (GMT+7)
Breaking News

Tháo gỡ điểm nghẽn công nghiệp, xây dựng, hạ tầng và quy hoạch: Khơi thông nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Trong yêu cầu tăng trưởng kinh tế hai con số, công nghiệp, xây dựng, hạ tầng và quy hoạch không chỉ là những lĩnh vực tạo ra năng lực sản xuất và không gian phát triển, mà còn là “mạch dẫn” đưa nguồn lực xã hội vào nền kinh tế. Thông báo số 429/TB-VPCP ngày 17/8/2026 về kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho thấy một cách tiếp cận mới: tháo gỡ vướng mắc không dừng ở sửa một quy định hay giải quyết một dự án, mà phải chuyển mạnh sang xử lý đến cùng từng điểm nghẽn, giảm chi phí tuân thủ, nâng chất lượng thực thi và tạo môi trường để doanh nghiệp phát huy vai trò tiên phong, dẫn dắt tăng trưởng.

Tháo gỡ điểm nghẽn công nghiệp, xây dựng, hạ tầng và quy hoạch: Khơi thông nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số. Ảnh minh họa - TL

Trong quá trình chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, Việt Nam đang đứng trước một yêu cầu có tính bản lề: vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, vừa tạo dư địa đủ lớn để tăng tốc. Điều này đòi hỏi không chỉ thêm vốn, thêm dự án hay mở rộng sản xuất, mà quan trọng hơn là phải làm cho các nguồn lực đang tồn tại có thể vận động nhanh hơn, với chi phí thấp hơn và hiệu quả cao hơn.

Ở góc độ đó, công nghiệp, xây dựng, hạ tầng và quy hoạch có vị trí đặc biệt. Đây là những lĩnh vực liên kết trực tiếp với đầu tư, đất đai, logistics, năng lượng, vật liệu, thị trường bất động sản, sản xuất công nghiệp và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Một điểm nghẽn trong quy hoạch có thể làm chậm một dự án; một vướng mắc về đất đai có thể khiến vốn bị “đóng băng”; thủ tục kéo dài có thể làm tăng chi phí tài chính; hạ tầng thiếu đồng bộ có thể làm giảm sức hấp dẫn của cả một vùng đầu tư.

Thông báo 429/TB-VPCP vì thế cần được nhìn nhận không đơn thuần như một văn bản chỉ đạo xử lý kiến nghị doanh nghiệp, mà như một bước tiếp tục hoàn thiện phương thức quản trị phát triển: từ “quản lý vướng mắc” sang “kiến tạo điều kiện phát triển”.

Từ những điểm nghẽn cụ thể đến yêu cầu tái cấu trúc môi trường phát triển

Theo kết luận được Văn phòng Chính phủ truyền đạt, lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, hạ tầng và quy hoạch tác động rất rộng đến sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư nước ngoài và năng lực cạnh tranh hàng hóa Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, yêu cầu đặt ra đối với khu vực công nghiệp - xây dựng là mức tăng trưởng bình quân 12,3%; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) cần đạt 11-12%; trong khi chi phí logistics so với GDP đến năm 2030 được đặt mục tiêu giảm còn 12-15%.

Những con số này cho thấy áp lực tăng trưởng không thể chỉ được giải quyết bằng cách mở rộng quy mô đầu tư theo phương thức cũ. Nếu năng lực sản xuất tăng nhưng chi phí logistics cao, nếu dự án được cấp chủ trương nhưng triển khai chậm, nếu doanh nghiệp có vốn nhưng không tiếp cận được đất đai hoặc phải mất quá nhiều thời gian cho thủ tục, thì phần tăng trưởng tạo ra sẽ thấp hơn đáng kể so với tiềm năng nguồn lực.

Vấn đề cốt lõi vì vậy nằm ở hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ thống. Trong nhiều năm, cải cách môi trường kinh doanh thường được nhìn nhận qua số lượng thủ tục được cắt giảm, số ngày giải quyết hồ sơ được rút ngắn hoặc mức độ phân cấp cho địa phương. Những chỉ số đó vẫn cần thiết, nhưng chưa đủ. Với một doanh nghiệp đang triển khai dự án lớn, điều họ cần cuối cùng không phải là một quy trình “ngắn trên giấy”, mà là khả năng biết chính xác phải làm gì, làm với cơ quan nào, trong thời hạn bao lâu và kết quả cuối cùng là gì.

Chính vì vậy, yêu cầu “xử lý đến cùng” từng khó khăn, vướng mắc có ý nghĩa rất lớn. Thông báo 429/TB-VPCP nhấn mạnh các cơ quan phải giải quyết dứt điểm vấn đề thuộc thẩm quyền; việc trả lời kiến nghị phải rõ ràng, thực chất, tránh viện dẫn chung chung các quy định pháp luật; đối với vấn đề vượt thẩm quyền phải chủ động đề xuất phương án xử lý, báo cáo cấp có thẩm quyền.

Đây là sự chuyển đổi quan trọng trong tư duy hành chính. Một câu trả lời “đúng quy định” nhưng không giúp doanh nghiệp biết cách tháo gỡ vấn đề thực tế thì về bản chất chưa tạo ra giá trị quản trị tương xứng. Cải cách thực chất phải biến quy định pháp luật thành khả năng hành động cụ thể.

Điều này càng quan trọng trong lĩnh vực quy hoạch. Quy hoạch là công cụ phân bổ không gian phát triển, định hướng sử dụng đất, hạ tầng và nguồn lực. Nhưng nếu quy hoạch thiếu tính linh hoạt, thiếu khả năng cập nhật theo biến động kinh tế hoặc không đồng bộ giữa các loại quy hoạch, nó có thể trở thành một “nút thắt” thay vì một công cụ kiến tạo.

Thực tiễn đã cho thấy một dự án có thể mất nhiều thời gian chỉ vì khu đất phù hợp về mặt thực tế nhưng chưa tương thích với một lớp quy hoạch khác. Khi đó, nhà đầu tư không chỉ chịu chi phí tài chính trực tiếp mà còn chịu chi phí cơ hội: mất thị trường, chậm đưa sản phẩm ra đời, mất cơ hội kết nối chuỗi cung ứng và giảm khả năng cạnh tranh.

Chính phủ đã từng đặt yêu cầu đưa quy hoạch trở thành động lực phát triển, trong đó nhấn mạnh việc tháo gỡ những tình huống mà doanh nghiệp phải chờ điều chỉnh quy hoạch để triển khai dự án. Điều đó cho thấy cải cách quy hoạch cần được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với khả năng huy động và sử dụng nguồn lực xã hội.

Một nền quy hoạch tốt không phải là nền quy hoạch càng nhiều lớp kiểm soát càng tốt, mà là nền quy hoạch tạo ra sự rõ ràng, ổn định và khả năng dự báo cho nhà đầu tư, đồng thời bảo đảm lợi ích công cộng và tính bền vững của phát triển.

Từ góc nhìn này, tháo gỡ điểm nghẽn trong công nghiệp, xây dựng, hạ tầng và quy hoạch cần được xem như một chương trình tái cấu trúc môi trường phát triển. Trọng tâm không chỉ là “gỡ từng nút”, mà phải nhận diện vì sao những nút thắt ấy liên tục xuất hiện và làm thế nào để hạn chế khả năng tái diễn.

Khơi thông vốn, đất đai, hạ tầng và liên kết doanh nghiệp để tạo động lực tăng trưởng mới

Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh không thể thiếu những dòng vốn lớn và ổn định. Nhưng vốn chỉ thực sự tạo ra tăng trưởng khi có thể đi vào dự án, đất đai, nhà máy, hạ tầng và chuỗi sản xuất với tốc độ phù hợp.

Đó là lý do “khơi thông các nguồn lực về vốn, đất đai và đầu tư; bảo đảm dòng tiền cho sản xuất kinh doanh” được đặt trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Cùng với đó là yêu cầu giảm chi phí cho doanh nghiệp, mở rộng thị trường, nâng cao sức cạnh tranh; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực.

Nhìn rộng hơn, đây là bài toán về hiệu suất sử dụng nguồn lực. Nếu một dự án bị đình trệ trong nhiều năm, vốn xã hội không chỉ không sinh lợi mà còn có thể phát sinh thêm chi phí. Nếu một tuyến giao thông chưa hoàn thiện khiến thời gian vận chuyển tăng lên, chi phí logistics sẽ được cộng vào giá thành sản phẩm. Nếu khu công nghiệp thiếu hạ tầng kết nối, khả năng thu hút nhà đầu tư thứ cấp sẽ suy giảm. Nếu các quy hoạch không đồng bộ, doanh nghiệp sẽ phải dành nhiều nguồn lực hơn cho việc điều chỉnh và hoàn thiện thủ tục.

Vì vậy, đầu tư hạ tầng không thể được nhìn đơn thuần bằng số kilomet đường, số cây cầu hay số dự án được khởi công. Chất lượng hạ tầng phải được đánh giá thông qua khả năng làm giảm chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian lưu chuyển hàng hóa, kết nối các trung tâm sản xuất với thị trường và tạo ra không gian mới cho đầu tư.

Mục tiêu giảm chi phí logistics xuống 12-15% GDP vào năm 2030 chính là một chỉ dấu cho cách tiếp cận đó. Nếu đạt được, tác động không chỉ nằm ở ngành logistics mà lan tỏa sang công nghiệp chế biến, xuất khẩu, thương mại, nông nghiệp và dịch vụ.

Một nền hạ tầng hiện đại vì vậy phải được thiết kế theo logic của chuỗi giá trị. Cảng biển, đường bộ, đường sắt, hàng không, kho bãi, trung tâm logistics, khu công nghiệp và đô thị không thể phát triển như những cấu phần tách rời. Chúng phải hình thành mạng lưới bổ trợ lẫn nhau.

Đây cũng là lý do quy hoạch cần đi trước một bước nhưng đồng thời phải có khả năng thích ứng. Khi một tuyến đường cao tốc được xây dựng, tác động của nó không chỉ nằm trên hành lang giao thông mà còn tạo ra những không gian phát triển mới. Khi một cảng biển được mở rộng, nhu cầu về công nghiệp hậu cần, kho bãi, dịch vụ và đô thị sẽ thay đổi. Khi một trung tâm công nghiệp hình thành, hệ thống điện, nước, nhà ở, trường học, y tế và giao thông cũng phải được tính toán đồng bộ.

Nếu mỗi lĩnh vực được lập kế hoạch riêng biệt, nguồn lực rất dễ bị phân tán và hiệu quả đầu tư không đạt mức tối ưu. Ở chiều ngược lại, nếu quy hoạch, hạ tầng và công nghiệp được tích hợp trong một chiến lược phát triển không gian, mỗi đồng vốn đầu tư công có thể tạo ra hiệu ứng dẫn dắt lớn hơn đối với vốn tư nhân.

Điểm đáng chú ý khác trong Thông báo 429/TB-VPCP là yêu cầu tăng cường liên kết thực chất giữa các khu vực doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài. Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với chất lượng tăng trưởng.

Việt Nam đã trở thành một cứ điểm sản xuất quan trọng trong nhiều chuỗi cung ứng quốc tế. Tuy nhiên, lợi ích lớn hơn không nằm ở việc thu hút được bao nhiêu dự án FDI, mà nằm ở khả năng để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Muốn vậy, doanh nghiệp trong nước phải có năng lực công nghệ, chất lượng, quản trị và tài chính đủ mạnh.

Doanh nghiệp cũng được yêu cầu phát huy tinh thần tự chủ, tự lực, đổi mới sáng tạo; nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sử dụng vốn; chủ động tham gia chuỗi liên kết sản xuất, cung ứng và giá trị trong nước, quốc tế.

Điều này tạo nên một quan hệ hai chiều. Nhà nước phải tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, hạ tầng và thủ tục để doanh nghiệp có không gian phát triển; nhưng doanh nghiệp cũng phải tự nâng cao năng lực để tận dụng không gian đó. Cải cách môi trường kinh doanh không thể thay thế năng lực cạnh tranh nội tại của doanh nghiệp.

Do đó, mục tiêu cuối cùng của tháo gỡ vướng mắc không chỉ là giúp một doanh nghiệp hoàn tất một dự án cụ thể. Xa hơn, đó là tạo ra một hệ sinh thái mà trong đó doanh nghiệp có thể đầu tư dài hạn, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô và liên kết với các doanh nghiệp khác.

Từ “gỡ vướng” sang kiến tạo: Thước đo nằm ở năng lực thực thi

Điểm có ý nghĩa nhất trong cách tiếp cận lần này có lẽ nằm ở yêu cầu biến chỉ đạo thành tiến độ và kết quả có thể kiểm chứng.

Theo Thông báo 429/TB-VPCP, các kiến nghị của doanh nghiệp và hiệp hội được phân thành ba nhóm: nhóm có thể xử lý ngay theo quy định hiện hành; nhóm liên quan nhiều bộ, cần phối hợp thống nhất; và nhóm cần sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật. Với nhóm thứ nhất, Bộ Xây dựng và Bộ Công Thương phải có văn bản hướng dẫn trước ngày 25/8/2026; nhóm thứ hai phải được trả lời trước ngày 5/9/2026; còn nhóm thứ ba phải xác định rõ văn bản cần sửa, cấp trình và tiến độ, báo cáo kết quả xử lý bước đầu trước ngày 15/9/2026.

Cách phân loại này có thể tạo ra một thay đổi quan trọng: chuyển kiến nghị của doanh nghiệp từ một “danh sách vấn đề” thành một “hệ thống nhiệm vụ có thời hạn và trách nhiệm”.

Đây chính là yếu tố quyết định hiệu quả của cải cách. Thực tế, Chính phủ đã đặt vấn đề tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng trong một chương trình rộng hơn tại Thông báo 394/TB-VPCP ngày 21/7/2026. Sáu nhóm nhiệm vụ được xác định gồm hoàn thiện thể chế và cải cách thủ tục; khơi thông vốn, đất đai và đầu tư; giảm chi phí; thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tăng cường liên kết doanh nghiệp; nâng cao hiệu lực tổ chức thực hiện và kỷ luật hành chính.

Như vậy, Thông báo 429/TB-VPCP không phải một chỉ đạo biệt lập mà nằm trong chuỗi hành động nhằm giải quyết một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để chuyển quyết tâm tăng trưởng thành năng lực thực thi ở từng ngành, từng địa phương và từng dự án.

Đây cũng là điểm mà cải cách hành chính cần chuyển sang giai đoạn mới. Không thể chỉ đo lường bằng số lượng văn bản được ban hành hay số thủ tục được cắt giảm. Cần đo bằng thời gian doanh nghiệp thực sự phải bỏ ra để hoàn thành một quy trình; chi phí thực tế để triển khai một dự án; số lượng dự án được giải phóng khỏi tình trạng đình trệ; tỷ lệ kiến nghị được giải quyết đúng hạn; và quan trọng nhất là tác động cuối cùng đến năng suất, đầu tư và tăng trưởng.

Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 đã đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong tổng thể kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh đó, yêu cầu tăng trưởng khu vực công nghiệp - xây dựng 12,3% không thể được hiểu đơn giản là một chỉ tiêu sản lượng. Nó là yêu cầu về sự thay đổi chất lượng của năng lực sản xuất và môi trường đầu tư.

Muốn công nghiệp tăng nhanh, phải có điện, vật liệu, logistics, đất công nghiệp, hạ tầng kết nối và nguồn nhân lực. Muốn xây dựng tăng nhanh, phải tháo gỡ dòng vốn, thủ tục, quy hoạch và thị trường. Muốn hạ tầng tạo sức lan tỏa, phải lựa chọn đúng dự án, bảo đảm tiến độ, kết nối đồng bộ. Muốn quy hoạch trở thành động lực, phải tăng tính ổn định, minh bạch và khả năng dự báo.

Tất cả những vấn đề ấy cuối cùng hội tụ ở năng lực thực thi. Đáng chú ý, Chính phủ cũng đang thúc đẩy việc xử lý các dự án tồn đọng liên quan đến đất đai, quy hoạch để sớm đưa nguồn lực vào khai thác, sử dụng. Nghị quyết 169/NQ-CP ngày 27/6/2026 về mục tiêu tăng trưởng của các địa phương cũng yêu cầu tập trung xử lý, tháo gỡ, giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài liên quan đến đất đai, quy hoạch, đồng thời tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh.

Điều đó gợi mở một hướng tiếp cận có tính hệ thống: bên cạnh việc tạo ra nguồn lực mới, cần giải phóng những nguồn lực đang bị “kẹt” trong các dự án dở dang, quy hoạch chưa đồng bộ, thủ tục kéo dài hoặc cơ chế phối hợp chưa rõ ràng.

Nếu làm được điều này, tác động đến tăng trưởng có thể xuất hiện nhanh hơn so với việc chỉ chờ những dự án mới hoàn thành.

Về phía cơ quan quản lý, yêu cầu “không né tránh, không đùn đẩy” cần trở thành chuẩn mực thực thi. Khi một vấn đề liên quan nhiều cơ quan, trách nhiệm không thể bị hòa tan trong cơ chế phối hợp. Cần có một cơ quan đầu mối, một tiến độ rõ ràng và một kết quả cuối cùng chịu trách nhiệm.

Về phía doanh nghiệp, quá trình tháo gỡ cũng phải đi cùng nâng cao năng lực nội tại. Nhà nước có thể giảm chi phí thể chế, mở rộng hạ tầng và cải thiện môi trường đầu tư, nhưng doanh nghiệp phải biến những điều kiện đó thành năng suất, công nghệ, sản phẩm và thị trường. Việc chủ động tham gia chuỗi cung ứng, ưu tiên sử dụng nguyên liệu, linh kiện, dịch vụ và công nghệ trong nước như yêu cầu được nêu trong Thông báo 429/TB-VPCP cũng góp phần tạo ra sức lan tỏa lớn hơn trong nền kinh tế.

Sau cùng, giá trị của một chương trình tháo gỡ điểm nghẽn không nằm ở số lượng cuộc họp hay số văn bản trả lời, mà ở lượng nguồn lực được giải phóng và tốc độ nguồn lực ấy đi vào nền kinh tế.

Nếu mỗi vướng mắc được xử lý đến cùng, mỗi quy trình được rút ngắn hợp lý, mỗi dự án được đưa trở lại quỹ đạo, mỗi tuyến hạ tầng hoàn thành đúng tiến độ và mỗi doanh nghiệp trong nước nâng thêm một bậc năng lực cạnh tranh, hiệu ứng cộng hưởng sẽ lớn hơn rất nhiều so với tổng số các giải pháp riêng lẻ.

Trong chặng đường thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, công nghiệp, xây dựng, hạ tầng và quy hoạch vì thế không chỉ là những ngành kinh tế cần được “tháo gỡ”. Đây phải trở thành không gian tiên phong của cải cách thể chế, đổi mới phương thức quản trị và nâng cao năng suất.

Tháo gỡ điểm nghẽn, xét đến cùng, không chỉ là làm cho doanh nghiệp “dễ thở” hơn. Đó là làm cho nền kinh tế vận động nhanh hơn, vốn quay vòng hiệu quả hơn, hạ tầng tạo giá trị lớn hơn và các nguồn lực xã hội được phân bổ đúng nơi có khả năng tạo ra giá trị cao nhất. Khi đó, cải cách không còn là một nhiệm vụ hành chính, mà trở thành một động lực trực tiếp của tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

ThS Đặng Ngọc Tuyên

Tài liệu tham khảo:

  1. Văn phòng Chính phủ (2026), Thông báo số 429/TB-VPCP ngày 17/8/2026 về kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại Hội nghị tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, hạ tầng và quy hoạch.
  2. Văn phòng Chính phủ (2026), Thông báo số 394/TB-VPCP về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp với chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng”.
  3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.
  4. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 27/6/2026 về mục tiêu tăng trưởng của các địa phương năm 2026 và giai đoạn 2026-2030 để thực hiện Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương, Nghị quyết số 25/2026/QH16 của Quốc hội và Nghị quyết số 109/NQ-CP của Chính phủ.
  5. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 về cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại để thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026.
  6. Báo Điện tử Chính phủ (2026), “Rà soát, điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia”, ngày 18/8/2026.
  7. Báo Điện tử Chính phủ (2024), “Không ‘bó cứng’ quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển, bến cảng”, ngày 5/9/2024.