10/07/2026 lúc 22:27 (GMT+7)
Breaking News

Ứng dụng khoa học, công nghệ theo chuỗi giá trị: Đòn bẩy nâng tầm nông nghiệp, tạo sinh kế bền vững

I. MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa trên năng suất, chất lượng và đổi mới sáng tạo, nông nghiệp đang đứng trước yêu cầu đổi mới phương thức phát triển nhằm nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và tính bền vững. Nếu trước đây tăng trưởng của ngành chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô sản xuất và khai thác lợi thế về tài nguyên, thì hiện nay, dưới tác động của biến đổi khí hậu, hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu ngày càng cao của thị trường, động lực phát triển cần được chuyển dịch sang nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp, gia tăng giá trị trên mỗi đơn vị sản phẩm và phát triển các chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại. Đây cũng là định hướng xuyên suốt trong các chủ trương của Đảng về phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh, đồng thời phù hợp với chiến lược phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn mới.

Trong tiến trình đó, khoa học, công nghệ ngày càng khẳng định vai trò là động lực trực tiếp của quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Những thành tựu về công nghệ sinh học, chọn tạo giống, cơ giới hóa, tự động hóa, công nghệ sau thu hoạch, chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số không chỉ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất mà còn tạo điều kiện đổi mới phương thức tổ chức sản xuất theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại. Quan trọng hơn, việc ứng dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học, công nghệ đã thúc đẩy hình thành mối liên kết chặt chẽ giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, từng bước chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp dựa trên chuỗi giá trị.

Ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp góp phần hình thành chuỗi giá trị, nâng cao giá trị nông sản và tạo sinh kế bền vững cho khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đối với khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi còn nhiều hạn chế về điều kiện sản xuất, kết cấu hạ tầng và khả năng tiếp cận thị trường, ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc khai thác lợi thế bản địa và tạo động lực phát triển mới. Thực tiễn triển khai Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ giai đoạn 2016–2025 cho thấy nhiều địa phương đã hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, phát triển sản phẩm đặc trưng gắn với chế biến, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ. Không chỉ tạo ra những chuyển biến về năng suất và chất lượng sản phẩm, các mô hình này còn góp phần đổi mới tư duy sản xuất, nâng cao năng lực tổ chức của người dân, tạo việc làm, tăng thu nhập và từng bước xây dựng sinh kế bền vững.

Từ góc độ phát triển, có thể khẳng định rằng giá trị của khoa học, công nghệ không được quyết định bởi việc ứng dụng riêng lẻ ở từng công đoạn sản xuất mà bởi khả năng kết nối và tạo lập giá trị trên toàn bộ chuỗi nông nghiệp, từ nghiên cứu, chọn tạo giống, tổ chức sản xuất, bảo quản, chế biến đến xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường. Chỉ khi các thành tựu khoa học, công nghệ được tích hợp đồng bộ trong toàn bộ chuỗi giá trị, chúng mới thực sự trở thành động lực nâng cao giá trị gia tăng của nông sản, tăng cường năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và tạo nền tảng sinh kế bền vững cho người dân nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây cũng là luận điểm xuyên suốt của bài viết nhằm làm rõ vai trò của khoa học, công nghệ trong phát triển nông nghiệp hiện đại theo hướng xanh, hiệu quả và bao trùm.

II. KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ THÚC ĐẨY HÌNH THÀNH CHUỖI GIÁ TRỊ NÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI

1. Chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị

Một trong những chuyển biến quan trọng của nông nghiệp Việt Nam trong những năm gần đây là sự chuyển dịch từ mô hình sản xuất nhỏ lẻ, phân tán sang tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị với sự tham gia liên kết của nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Đây không chỉ là sự thay đổi về quy mô hay phương thức canh tác mà còn là bước chuyển về tư duy phát triển, trong đó khoa học, công nghệ giữ vai trò hạt nhân trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.

Trong điều kiện sản xuất truyền thống, phần lớn hộ nông dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn sản xuất theo quy mô nhỏ, thiếu liên kết, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm nên khó kiểm soát chất lượng, khó đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và chịu nhiều rủi ro về thị trường. Thực tiễn cho thấy, những hạn chế này không thể được khắc phục chỉ bằng việc mở rộng diện tích hay gia tăng sản lượng mà đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ từ giống, quy trình kỹ thuật, tổ chức sản xuất đến liên kết tiêu thụ trên nền tảng ứng dụng khoa học, công nghệ.

Thông qua Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ giai đoạn 2016–2025, nhiều địa phương đã từng bước hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với tiêu chuẩn kỹ thuật và nhu cầu thị trường. Việc ứng dụng giống mới, cơ giới hóa, công nghệ sinh học, quy trình sản xuất theo VietGAP, GlobalGAP cùng các hệ thống quản lý chất lượng đã góp phần chuẩn hóa hoạt động sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc của sản phẩm. Quan trọng hơn, khoa học, công nghệ đã tạo nền tảng để thiết lập mối liên kết bền vững giữa người sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp, từng bước hình thành các chuỗi giá trị có khả năng cạnh tranh.

Mô hình phát triển vùng nguyên liệu khoai tây tại Ninh Bình là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của cách tiếp cận này. Từ sản xuất phân tán, dự án đã xây dựng vùng nguyên liệu hơn 150 ha với giống khoai tây Solara sạch bệnh, áp dụng đồng bộ quy trình VietGAP và thiết lập cơ chế liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân. Nhờ đó, năng suất và chất lượng sản phẩm được cải thiện, nguồn nguyên liệu ổn định hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho các khâu bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo hợp đồng. Điều đáng chú ý là giá trị của mô hình không chỉ nằm ở kết quả sản xuất mà ở việc hình thành một phương thức tổ chức sản xuất dựa trên liên kết chuỗi, trong đó mỗi chủ thể đều tham gia và hưởng lợi theo vai trò của mình.

Hiệu quả tương tự cũng được ghi nhận trong lĩnh vực hoa, cây cảnh. Việc ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô, sản xuất trong nhà kính, hệ thống tưới tự động và điều khiển vi khí hậu đã tạo điều kiện để nhiều giống hoa có giá trị kinh tế cao như lan Hồ Điệp, lan Đai Châu, lily, cúc và đồng tiền được sản xuất với quy mô lớn tại nhiều địa phương. Một số vùng chuyên canh đạt giá trị sản xuất từ 2,5–3 tỷ đồng/ha mỗi năm. Tuy nhiên, yếu tố tạo nên thành công của các mô hình này không chỉ là công nghệ hiện đại mà còn là sự kết nối chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, sản xuất giống, tổ chức sản xuất và thị trường tiêu thụ. Điều đó cho thấy lợi thế cạnh tranh của nông nghiệp hiện đại ngày càng phụ thuộc vào năng lực làm chủ công nghệ và tổ chức chuỗi giá trị hơn là chỉ dựa vào lợi thế tự nhiên.

Từ góc độ phát triển, khoa học, công nghệ đã góp phần làm thay đổi căn bản tư duy sản xuất của người dân. Nếu trước đây mục tiêu chủ yếu là gia tăng sản lượng thì hiện nay người sản xuất ngày càng quan tâm đến tiêu chuẩn chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc, nhu cầu thị trường và hiệu quả kinh tế của toàn bộ chuỗi sản xuất. Hợp tác xã từng bước chuyển từ vai trò cung cấp dịch vụ sang trung tâm liên kết sản xuất và hỗ trợ kỹ thuật; doanh nghiệp không chỉ tiêu thụ sản phẩm mà còn tham gia từ khâu giống, chuyển giao công nghệ, đầu tư đầu vào và phát triển thị trường. Chính sự thay đổi này đã tạo nền tảng để chuyển từ "sản xuất nông nghiệp" sang "kinh tế nông nghiệp", nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và tăng khả năng thích ứng trước biến động của thị trường.

Có thể khẳng định, thành tựu lớn nhất của quá trình ứng dụng khoa học, công nghệ không chỉ được phản ánh qua sự gia tăng về năng suất hay quy mô sản xuất mà quan trọng hơn là sự hình thành phương thức tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Đây là nền tảng để nâng cao giá trị gia tăng của nông sản, tăng cường năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.

2. Chế biến sâu và công nghệ – khâu quyết định gia tăng giá trị nông sản

Nếu ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất tạo nền tảng hình thành vùng nguyên liệu và nâng cao chất lượng đầu vào thì công nghệ bảo quản, chế biến và thương mại hóa lại quyết định khả năng chuyển hóa những lợi thế đó thành giá trị kinh tế. Vì vậy, phát triển công nghệ sau thu hoạch và chế biến sâu được xem là mắt xích quan trọng để hoàn thiện chuỗi giá trị nông nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Thực tiễn cho thấy, phần lớn giá trị gia tăng của nông sản hiện nay không được tạo ra tại khâu sản xuất mà được hình thành trong quá trình bảo quản, chế biến, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường. Một loại nông sản nếu chỉ tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô thường có giá trị kinh tế thấp, dễ chịu tác động bởi biến động giá cả và tính thời vụ. Ngược lại, khi được ứng dụng công nghệ bảo quản hiện đại, chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm, giá trị có thể được nâng lên đáng kể, đồng thời kéo dài thời gian bảo quản, giảm thất thoát sau thu hoạch và mở rộng khả năng tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao.

Mô hình phát triển khoai tây tại Ninh Bình tiếp tục minh chứng cho hiệu quả của cách tiếp cận này. Trên cơ sở vùng nguyên liệu đạt chuẩn, doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống kho lạnh và dây chuyền chế biến hiện đại để sản xuất các sản phẩm khoai tây sấy đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, trong đó có sản phẩm được công nhận OCOP 4 sao và 5 sao. Việc chuyển từ tiêu thụ khoai tây tươi sang chế biến sâu không chỉ làm gia tăng giá trị kinh tế mà còn góp phần xây dựng thương hiệu, giảm phụ thuộc vào thị trường nguyên liệu và tạo đầu ra ổn định cho vùng sản xuất. Điều này cho thấy chế biến không chỉ là khâu gia tăng giá trị mà còn là yếu tố kết nối sản xuất với thị trường trong toàn bộ chuỗi giá trị.

Đối với mô hình nuôi ong lấy mật tại Phú Thọ, việc tiếp nhận các quy trình công nghệ mới về chọn giống, chăm sóc, phòng bệnh và khai thác mật đã giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và cải thiện đáng kể thu nhập của người dân. Thành công của mô hình cho thấy ngay cả những ngành sản xuất quy mô hộ gia đình vẫn có thể tạo ra giá trị gia tăng lớn nếu được hỗ trợ đúng về khoa học, công nghệ và tổ chức sản xuất.

Trong khi đó, mô hình sản xuất nha đam tại Ninh Thuận thể hiện rõ vai trò của việc kết hợp giữa công nghệ giống, tiêu chuẩn hóa vùng nguyên liệu và chế biến sâu. Việc ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô để sản xuất giống chất lượng cao, xây dựng vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn VietGAP và đầu tư công nghệ chế biến đã tạo ra chuỗi liên kết từ sản xuất đến xuất khẩu, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Nhìn từ các mô hình thực tiễn có thể thấy, giá trị của nông sản không được quyết định bởi riêng khâu sản xuất mà được tạo lập trong toàn bộ quá trình từ bảo quản, chế biến đến xây dựng thương hiệu và thương mại hóa. Khi khoa học, công nghệ được tích hợp đồng bộ ở tất cả các mắt xích của chuỗi giá trị, nông sản không chỉ nâng cao giá trị kinh tế mà còn đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Đây cũng là điều kiện quan trọng để nông nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời tạo động lực phát triển sinh kế ổn định và nâng cao thu nhập cho người dân khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

III. ỨNG DỤNG KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ TẠO SINH KẾ BỀN VỮNG CHO VÙNG NÔNG THÔN, MIỀN NÚI VÀ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

Nếu việc ứng dụng khoa học, công nghệ theo chuỗi giá trị góp phần tái cơ cấu sản xuất và nâng cao giá trị nông sản thì ở góc độ phát triển, ý nghĩa quan trọng hơn là tạo lập nền tảng sinh kế bền vững cho người dân khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Khác với các giải pháp hỗ trợ sản xuất đơn lẻ, khoa học, công nghệ không chỉ tạo ra những thay đổi về năng suất hay sản lượng mà còn tác động đến năng lực phát triển của cộng đồng thông qua việc nâng cao thu nhập, đổi mới tư duy sản xuất, mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường và tăng khả năng thích ứng trước những biến động của nền kinh tế. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với mục tiêu phát triển bao trùm, trong đó giảm nghèo bền vững phải được xây dựng trên nền tảng nâng cao năng lực nội sinh và phát huy lợi thế của từng địa phương.

1. Gia tăng thu nhập và tạo nền tảng giảm nghèo bền vững

Giá trị rõ nét nhất của việc ứng dụng khoa học, công nghệ là tạo ra nguồn thu nhập ổn định và bền vững cho người dân. Trong điều kiện quỹ đất sản xuất ngày càng thu hẹp, chi phí đầu vào gia tăng và biến động thị trường diễn ra thường xuyên, tăng trưởng của nông nghiệp không còn dựa vào mở rộng quy mô mà phụ thuộc vào khả năng nâng cao giá trị trên mỗi đơn vị sản phẩm. Việc ứng dụng giống mới, quy trình kỹ thuật tiên tiến, cơ giới hóa, công nghệ sinh học và các giải pháp quản lý hiện đại đã góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và cải thiện chất lượng nông sản, tạo điều kiện để người dân nâng cao hiệu quả kinh tế ngay trên diện tích canh tác hiện có.

Tuy nhiên, yếu tố tạo nên sự khác biệt của các mô hình ứng dụng khoa học, công nghệ không chỉ là mức tăng năng suất mà là khả năng tạo lập nguồn thu nhập ổn định thông qua liên kết chuỗi giá trị. Khi hoạt động sản xuất được gắn với bảo quản, chế biến, xây dựng thương hiệu và tiêu thụ theo hợp đồng, người dân không còn phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái hay những biến động ngắn hạn của thị trường. Thực tiễn từ các mô hình khoai tây tại Ninh Bình, mật ong ở Phú Thọ hay nha đam tại Ninh Thuận cho thấy, sự tham gia của doanh nghiệp trong toàn bộ chuỗi giá trị đã góp phần ổn định đầu ra, nâng cao giá trị sản phẩm và tạo điều kiện để người dân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất lâu dài.

Không chỉ nâng cao thu nhập, sự phát triển của chuỗi giá trị còn mở rộng cơ hội việc làm tại địa phương thông qua các hoạt động sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, thương mại và dịch vụ hỗ trợ sản xuất. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi cơ hội việc làm còn hạn chế và tình trạng dịch chuyển lao động vẫn diễn ra phổ biến. Khi người dân có thể tham gia vào nhiều khâu khác nhau của chuỗi giá trị, sinh kế không còn phụ thuộc hoàn toàn vào sản xuất nguyên liệu mà trở nên đa dạng và có khả năng chống chịu tốt hơn trước những biến động của thị trường, thiên tai hoặc dịch bệnh.

Ở góc độ phát triển, giảm nghèo bền vững không chỉ được đo bằng mức tăng thu nhập mà còn được đánh giá thông qua khả năng duy trì sinh kế ổn định trong dài hạn. Vì vậy, ứng dụng khoa học, công nghệ đã góp phần chuyển từ tư duy hỗ trợ trực tiếp sang tạo dựng năng lực phát triển cho người dân, qua đó hạn chế nguy cơ tái nghèo và từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền.

2. Nâng cao năng lực nội sinh và đổi mới tư duy phát triển

Một trong những giá trị lâu dài nhưng khó đo lường bằng các chỉ tiêu kinh tế là sự thay đổi về năng lực và tư duy phát triển của người dân. Quá trình tiếp nhận và làm chủ các tiến bộ khoa học, công nghệ đã giúp nhiều hộ sản xuất chuyển từ phương thức canh tác dựa trên kinh nghiệm sang quản lý sản xuất theo quy trình, tiêu chuẩn và dữ liệu. Đây không chỉ là sự thay đổi về kỹ thuật mà còn là bước chuyển trong nhận thức về chất lượng, hiệu quả và yêu cầu của thị trường.

Thông qua việc tiếp cận các tiêu chuẩn sản xuất tiên tiến, người dân từng bước hình thành thói quen quản lý quy trình sản xuất, ghi chép nhật ký canh tác, kiểm soát vật tư đầu vào, bảo đảm an toàn thực phẩm và thực hiện truy xuất nguồn gốc. Những yêu cầu trước đây vốn được xem là rào cản đối với sản xuất nhỏ lẻ nay dần trở thành kỹ năng cần thiết để tham gia thị trường. Điều này cho thấy khoa học, công nghệ không chỉ truyền đạt kỹ thuật mà còn góp phần hình thành năng lực quản trị sản xuất hiện đại cho người nông dân.

Đồng thời, quá trình liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp cũng thúc đẩy sự thay đổi từ tư duy sản xuất đơn lẻ sang tư duy hợp tác và cùng phát triển. Trong mô hình này, hợp tác xã trở thành cầu nối chuyển giao công nghệ, tổ chức sản xuất và kiểm soát chất lượng; doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt thị trường, còn người nông dân là chủ thể trực tiếp tạo ra giá trị. Sự thay đổi về vai trò của các chủ thể không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn góp phần xây dựng năng lực nội sinh cho cộng đồng, tạo điều kiện để người dân chủ động thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế thị trường.

Đáng chú ý, quá trình hiện đại hóa nông nghiệp không đồng nghĩa với việc thay thế hoàn toàn tri thức bản địa bằng công nghệ hiện đại. Thực tiễn cho thấy nhiều mô hình thành công được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa kinh nghiệm sản xuất truyền thống, điều kiện sinh thái và bản sắc văn hóa địa phương với các tiến bộ khoa học, công nghệ. Chính sự kết hợp này đã góp phần nâng cao giá trị của nhiều sản phẩm đặc sản, bảo tồn nguồn tài nguyên bản địa và tạo nên lợi thế cạnh tranh riêng cho từng địa phương.

3. Tạo nền tảng cho phát triển nông nghiệp hiện đại, xanh và bao trùm

Trong dài hạn, ứng dụng khoa học, công nghệ không chỉ giải quyết các yêu cầu trước mắt mà còn tạo nền tảng cho quá trình hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển bền vững. Đây là tiền đề để nông nghiệp Việt Nam chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên khai thác tài nguyên sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Xu hướng chuyển đổi số trong nông nghiệp đang mở ra nhiều cơ hội mới thông qua việc ứng dụng các nền tảng quản lý vùng trồng, nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc, giám sát quy trình sản xuất và kết nối thị trường. Đối với khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chuyển đổi số không chỉ rút ngắn khoảng cách về thông tin mà còn tạo điều kiện để người dân tiếp cận thị trường rộng lớn hơn thông qua thương mại điện tử và các nền tảng số.

Song song với đó, việc phát triển các sản phẩm OCOP gắn với đổi mới công nghệ đang góp phần khai thác hiệu quả lợi thế bản địa. Thông qua cải tiến giống, quy trình sản xuất, công nghệ chế biến, thiết kế bao bì và xây dựng thương hiệu, nhiều sản phẩm truyền thống đã nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ. Điều này cho thấy khoa học, công nghệ không làm mất đi bản sắc của sản phẩm địa phương mà ngược lại còn tạo điều kiện để các giá trị văn hóa và tài nguyên bản địa được chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế hiện đại.

Cùng với chuyển đổi số, phát triển kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp xanh đang trở thành xu hướng tất yếu của nông nghiệp hiện đại. Việc ứng dụng công nghệ trong tái sử dụng phụ phẩm, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và bảo vệ môi trường không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững của thị trường quốc tế. Đây là điều kiện quan trọng để nông nghiệp Việt Nam nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nhìn từ thực tiễn, có thể khẳng định rằng giá trị bền vững nhất của khoa học, công nghệ không nằm ở những mô hình sản xuất đơn lẻ hay mức tăng năng suất trước mắt mà ở khả năng tạo lập năng lực phát triển cho người dân và cộng đồng. Khi người sản xuất làm chủ công nghệ, tham gia chuỗi giá trị và chủ động thích ứng với yêu cầu của thị trường, khoa học, công nghệ không còn chỉ là công cụ hỗ trợ sản xuất mà trở thành nguồn lực phát triển, góp phần tạo dựng sinh kế bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền và hiện thực hóa mục tiêu phát triển nông nghiệp hiện đại, xanh và bao trùm trong giai đoạn mới.

IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ ĐỊNH HƯỚNG TRONG THỜI GIAN TỚI

Những kết quả đạt được từ việc ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ trong phát triển nông nghiệp thời gian qua đã khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại và hội nhập quốc tế, việc phát triển nông nghiệp theo chuỗi giá trị dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần tiếp tục được tháo gỡ. Những hạn chế này không chỉ phản ánh khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng mà còn cho thấy yêu cầu phải hoàn thiện đồng bộ thể chế, nâng cao năng lực của các chủ thể tham gia chuỗi giá trị và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phù hợp với điều kiện phát triển của từng vùng, từng địa phương.

Trước hết, khả năng tiếp cận và ứng dụng khoa học, công nghệ giữa các vùng vẫn còn chênh lệch đáng kể, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong khi nhiều vùng sản xuất trọng điểm đã từng bước ứng dụng cơ giới hóa, công nghệ sinh học, chuyển đổi số và sản xuất theo các tiêu chuẩn tiên tiến thì nhiều địa phương còn gặp khó khăn về kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, trình độ quản trị và năng lực tiếp nhận công nghệ mới. Khoảng cách này không chỉ ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn làm hạn chế khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao. Điều đó cho thấy phát triển khoa học, công nghệ không chỉ là vấn đề đầu tư thiết bị hay chuyển giao kỹ thuật mà còn gắn với nâng cao năng lực tiếp nhận, làm chủ và khai thác công nghệ của người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, liên kết chuỗi giá trị ở nhiều địa phương vẫn chưa thực sự bền vững. Nguyên nhân không chỉ xuất phát từ quy mô nhỏ của doanh nghiệp hay năng lực quản trị còn hạn chế của hợp tác xã mà còn do cơ chế liên kết giữa các chủ thể chưa đủ chặt chẽ, thiếu sự chia sẻ hài hòa về lợi ích và trách nhiệm trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Nhiều mô hình vẫn phụ thuộc vào nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước hoặc các dự án khoa học và công nghệ, trong khi chưa hình thành được cơ chế vận hành theo quy luật thị trường. Vì vậy, sau khi kết thúc thời gian hỗ trợ, một số chuỗi liên kết gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động hoặc mở rộng quy mô, làm giảm hiệu quả lan tỏa của các mô hình.

Một điểm nghẽn đáng chú ý khác là năng lực bảo quản, chế biến sâu và logistics nông nghiệp còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Mặc dù nhiều vùng nguyên liệu đã được hình thành nhưng tỷ lệ nông sản được chế biến sâu vẫn còn thấp, hệ thống kho lạnh, bảo quản sau thu hoạch và hạ tầng logistics chưa được đầu tư đồng bộ. Điều này làm giảm khả năng gia tăng giá trị của sản phẩm, đồng thời hạn chế năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu đang chuyển mạnh từ lợi thế về sản lượng sang lợi thế về công nghệ, thương hiệu và chất lượng, đây là thách thức cần được giải quyết để nâng cao vị thế của nông sản Việt Nam.

Thực tiễn cũng cho thấy số lượng doanh nghiệp có đủ năng lực dẫn dắt chuỗi giá trị vẫn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của ngành nông nghiệp. Phần lớn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp có quy mô nhỏ, nguồn lực tài chính và khả năng đầu tư đổi mới công nghệ còn hạn chế, trong khi đây lại là lực lượng giữ vai trò kết nối giữa nghiên cứu khoa học, tổ chức sản xuất, chế biến và thị trường. Sự thiếu vắng các doanh nghiệp đầu tàu làm cho quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu, mở rộng vùng nguyên liệu và phát triển thương hiệu còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến tính bền vững của chuỗi giá trị.

Trong bối cảnh đó, việc hoàn thiện cơ chế hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ cần được chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ theo từng dự án sang phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp. Chính sách cần lấy chuỗi giá trị làm trung tâm, lấy nhu cầu của thị trường làm định hướng và lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo. Đồng thời, cần tăng cường mối liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân nhằm rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng, tạo điều kiện để các kết quả nghiên cứu nhanh chóng được thương mại hóa và nhân rộng trong thực tiễn.

Cùng với đó, cần tiếp tục phát triển doanh nghiệp và hợp tác xã trở thành hạt nhân của các chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại. Bên cạnh việc hoàn thiện các chính sách về tín dụng, đất đai và môi trường đầu tư, cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào các hoạt động nghiên cứu giống, chuyển giao công nghệ, chế biến sâu và phát triển thương hiệu. Đối với hợp tác xã, trọng tâm không chỉ là mở rộng quy mô mà cần nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng công nghệ số, kiểm soát chất lượng và tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn, từng bước trở thành cầu nối hiệu quả giữa người nông dân với doanh nghiệp và thị trường.

Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số cần được xem là một trong những giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả quản trị chuỗi giá trị nông nghiệp. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng, nhật ký sản xuất điện tử, hệ thống truy xuất nguồn gốc, nền tảng thương mại điện tử và các công cụ quản trị số không chỉ nâng cao tính minh bạch của sản phẩm mà còn giúp giảm chi phí giao dịch, mở rộng thị trường và nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Quan trọng hơn, chuyển đổi số sẽ tạo điều kiện để khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số rút ngắn khoảng cách phát triển, từng bước tham gia sâu hơn vào nền kinh tế số.

Việc ứng dụng khoa học, công nghệ cũng cần được đặt trong tổng thể các chương trình phát triển quốc gia như Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Sự kết nối giữa các chương trình này sẽ tạo hiệu ứng cộng hưởng trong phát triển vùng nguyên liệu, nâng cao giá trị sản phẩm đặc trưng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và xây dựng các chuỗi giá trị bền vững. Quan trọng hơn, hiệu quả của các chương trình khoa học và công nghệ cần được đánh giá không chỉ bằng số lượng mô hình được triển khai mà bằng khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu, mức gia tăng giá trị của nông sản, thu nhập của người dân và tính bền vững của các chuỗi liên kết sau khi kết thúc hỗ trợ. Đây mới là thước đo phản ánh đầy đủ vai trò của khoa học, công nghệ đối với phát triển nông nghiệp trong giai đoạn mới.

V. KẾT LUẬN

Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa trên sản lượng sang phát triển dựa trên chất lượng, giá trị gia tăng và tính bền vững, khoa học, công nghệ ngày càng khẳng định vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy tái cơ cấu ngành theo hướng hiện đại và hội nhập. Thực tiễn triển khai các chương trình ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ tại nhiều địa phương cho thấy, khi công nghệ được gắn với tổ chức sản xuất, chế biến, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường, nông nghiệp không chỉ nâng cao năng suất mà còn hình thành các chuỗi giá trị có khả năng cạnh tranh cao, góp phần cải thiện thu nhập, tạo việc làm và xây dựng sinh kế bền vững cho người dân, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thực tế cũng khẳng định rằng giá trị của khoa học, công nghệ không được quyết định bởi việc ứng dụng ở từng công đoạn riêng lẻ mà được phát huy đầy đủ khi trở thành nền tảng kết nối toàn bộ chuỗi giá trị, từ nghiên cứu giống, tổ chức sản xuất, bảo quản, chế biến đến thương mại hóa và phát triển thương hiệu. Chính sự liên kết đồng bộ giữa các mắt xích này đã chuyển hóa các thành tựu khoa học thành giá trị kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản và tạo động lực cho quá trình chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp.

Trong thời gian tới, để khoa học, công nghệ thực sự trở thành động lực tăng trưởng của ngành nông nghiệp, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp và hợp tác xã làm hạt nhân liên kết, thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao năng lực chế biến sâu và xây dựng các chuỗi giá trị hiện đại gắn với các chương trình phát triển quốc gia. Có thể khẳng định rằng, chỉ khi khoa học, công nghệ được tích hợp xuyên suốt trong toàn bộ chuỗi giá trị, từ nghiên cứu, sản xuất đến tiêu thụ và phát triển thị trường, nông nghiệp Việt Nam mới có thể nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững, tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế và từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh./.

Ths. Lê Diệu Châu