25/08/2026 lúc 06:30 (GMT+7)
Breaking News

Chuyển đổi mô hình phát triển nông nghiệp Thanh Hóa theo hướng xanh, bao trùm và bền vững

Nông nghiệp Thanh Hóa đang đứng trước yêu cầu chuyển từ gia tăng sản lượng sang nâng cao giá trị, hiệu quả và sức chống chịu. Cơ cấu lại sản xuất, phát huy giá trị kinh tế của rừng, ứng dụng khoa học - công nghệ và tổ chức lại chuỗi giá trị đang mở ra hướng chuyển đổi mới, trong đó tăng trưởng kinh tế được đặt trong mối quan hệ hài hòa với bảo vệ tài nguyên, môi trường và sinh kế của người dân.
Thanh Hóa từng bước chuyển từ mô hình nông nghiệp dựa vào sản lượng sang phát triển xanh, gia tăng giá trị và nâng cao sức chống chịu.

I. TỪ TĂNG SẢN LƯỢNG SANG TĂNG GIÁ TRỊ: ĐẶT LẠI CÁCH TIẾP CẬN ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP

Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế và bảo đảm sinh kế của người dân Thanh Hóa. Giai đoạn 2021–2025, giá trị tăng thêm toàn ngành tăng bình quân khoảng 3,45%/năm; đồng thời, tỉnh từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung với quy mô đáng kể, như khoảng 150.000 ha lúa thâm canh, 12.000 ha mía thâm canh, 14.300 ha rau an toàn, 11.900 ha cây ăn quả tập trung và khoảng 20.000 ha cây thức ăn chăn nuôi. Những kết quả này cho thấy nền tảng sản xuất theo hướng tập trung đã được hình thành, tạo tiền đề quan trọng cho tái cơ cấu ngành. Khi dư địa mở rộng diện tích và gia tăng sản lượng ngày càng thu hẹp, quy mô sản xuất không còn là thước đo chủ yếu của tăng trưởng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để cùng một đơn vị đất đai, lao động và nguồn lực có thể tạo ra giá trị kinh tế cao hơn, ổn định hơn và bền vững hơn.

Từ góc độ lý luận, đây chính là bước chuyển từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”. Nếu sản xuất nông nghiệp chủ yếu quan tâm đến diện tích, năng suất và sản lượng, thì kinh tế nông nghiệp đặt các yếu tố thị trường, giá trị gia tăng, chế biến, thương hiệu, liên kết chuỗi và hiệu quả sử dụng tài nguyên vào vị trí trung tâm. Cách tiếp cận này tương đồng với quan điểm của FAO về chuyển đổi hệ thống nông - thực phẩm theo hướng hiệu quả, bao trùm, có khả năng chống chịu và bền vững, trong đó sản xuất không thể tách rời chế biến, lưu thông, thị trường, môi trường và sinh kế của người sản xuất.

Đặt trong điều kiện cụ thể của Thanh Hóa, cơ cấu lại sản xuất vì thế là thay đổi logic phân bổ nguồn lực. Giảm một phần diện tích lúa ở những nơi hiệu quả thấp để phát triển cây ăn quả, rau quả hoặc các sản phẩm có lợi thế gắn với chế biến là phân bổ đất đai theo nguyên tắc hiệu quả kinh tế và lợi thế so sánh, đồng thời bảo đảm cân đối các mục tiêu dài hạn. Tương tự, với chăn nuôi, chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang các vùng, cơ sở tập trung, ứng dụng công nghệ và liên kết từ giống, thức ăn, thú y đến chế biến sẽ giúp giảm chi phí giao dịch, kiểm soát chất lượng và nâng cao khả năng tham gia chuỗi giá trị.

Điểm quan trọng là giá trị gia tăng được tạo ra bởi sự thay đổi đồng bộ trong phương thức tổ chức sản xuất. Một vùng nguyên liệu chỉ thực sự trở thành tài sản kinh tế khi có thị trường đầu ra, tiêu chuẩn chất lượng, hệ thống truy xuất, doanh nghiệp chế biến và cơ chế liên kết đủ ổn định để phân bổ lợi ích hợp lý giữa các chủ thể. Đây cũng là lý do FAO nhấn mạnh cách tiếp cận hệ thống: các quyết định về sản xuất, chế biến, thị trường, tài nguyên và môi trường có mối quan hệ qua lại, nếu được xử lý riêng rẽ có thể tạo ra những lợi ích ngắn hạn nhưng đồng thời phát sinh chi phí hoặc rủi ro dài hạn.

II. TỪ KHAI THÁC NGUỒN LỰC SANG TẠO GIÁ TRỊ BỀN VỮNG: XANH HÓA PHƯƠNG THỨC PHÁT TRIỂN

Nếu tái cơ cấu nông nghiệp là quá trình chuyển trọng tâm từ sản lượng sang giá trị, thì xanh hóa chính là bước phát triển tiếp theo của tư duy ấy, tạo ra giá trị với mức tiêu hao tài nguyên và áp lực lên môi trường thấp hơn. Đây là sự thay đổi về phương thức tăng trưởng, trong đó hiệu quả kinh tế ngày càng được đặt trong mối quan hệ với khả năng tái tạo của hệ sinh thái, sức chống chịu trước biến đổi khí hậu và sinh kế lâu dài của cộng đồng. Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững của Việt Nam cũng đặt mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, thân thiện với môi trường, gắn phát triển nông nghiệp với nâng cao đời sống và chất lượng không gian nông thôn.

Thanh Hóa có kinh tế rừng là một mô hình điển hình để nhìn nhận sự chuyển đổi này. Với tỷ lệ che phủ rừng duy trì khoảng 54%, cùng hàng chục nghìn héc-ta rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững, tỉnh đã có nền tảng để chuyển từ tư duy khai thác đơn thuần sang quản trị và phát triển giá trị rừng theo hướng dài hạn. Giai đoạn 2021–2025, diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững của Thanh Hóa ước đạt hơn 27.000 ha; năng suất rừng trồng bình quân cũng tăng từ khoảng 16 m³/ha/năm năm 2020 lên 18 m³/ha/năm năm 2025. Những kết quả này cho thấy bảo vệ rừng và nâng cao hiệu quả kinh tế không nhất thiết là hai mục tiêu đối lập; nếu phương thức quản lý thay đổi, chính việc nâng cao chất lượng tài nguyên có thể trở thành cơ sở để nâng cao giá trị kinh tế.

Từ góc độ đó, phát triển rừng gỗ lớn, tre luồng, lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu dưới tán rừng và chế biến sâu không nên được xem như những hướng đi riêng lẻ, mà là các cấu phần của một mô hình kinh tế rừng đa giá trị. Thanh Hóa hiện có gần 56.000 ha rừng gỗ lớn và khoảng 45.000 ha luồng thâm canh tập trung; việc phát triển rừng gỗ lớn gắn với chứng chỉ quản lý bền vững vừa kéo dài chu kỳ sản xuất, nâng chất lượng nguyên liệu, vừa tạo điều kiện để sản phẩm tham gia những chuỗi cung ứng đòi hỏi tiêu chuẩn cao hơn. Từ bán nguyên liệu sang chế biến sâu, từ một sản phẩm gỗ sang hệ sinh thái sản phẩm lâm nghiệp, giá trị được tạo ra không còn chỉ nằm ở khối lượng tài nguyên khai thác mà ở chất lượng, tiêu chuẩn, khả năng truy xuất và mức độ chế biến.

Quan trọng hơn, giá trị của rừng không chỉ nằm ở những sản phẩm có thể nhìn thấy và định lượng trực tiếp. Rừng đồng thời hấp thụ và lưu giữ carbon, bảo vệ đất và nguồn nước, duy trì đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu và góp phần bảo đảm sinh kế cho cộng đồng dân cư miền núi. Vì vậy, có thể nhìn rừng như một loại “tài sản sinh thái” có khả năng tạo ra nhiều dòng giá trị, trong đó gỗ và lâm sản chỉ là một phần. Việc hình thành cơ chế kinh tế để lượng hóa một số giá trị sinh thái đang mở ra không gian mới cho phát triển. Nghị định 180/2026/NĐ-CP đã quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, bao gồm hình thức chi trả, dự án carbon rừng và việc xác định, cung ứng tín chỉ carbon rừng; từ đó tạo thêm cơ sở pháp lý để chủ rừng hợp tác với tổ chức, cá nhân phát triển dự án carbon và chia sẻ kết quả giảm phát thải.

Xanh hóa chỉ thực sự có ý nghĩa phát triển khi lợi ích từ tài nguyên được phân bổ hợp lý tới những người trực tiếp bảo vệ và tạo ra giá trị. Với các cộng đồng miền núi, bảo vệ rừng phải đồng thời gắn với sinh kế; phát triển cây dược liệu dưới tán rừng, lâm sản ngoài gỗ, rừng gỗ lớn hay các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường có thể tạo thêm nguồn thu, qua đó hình thành mối liên hệ lợi ích giữa bảo tồn và phát triển. Khi người dân nhận thấy việc giữ rừng có thể tạo ra thu nhập ổn định và hợp pháp, bảo vệ tài nguyên không còn chỉ được nhìn như nghĩa vụ hành chính mà trở thành một phần của chiến lược sinh kế. Chính sự kết hợp giữa trách nhiệm bảo vệ tài nguyên và quyền hưởng lợi từ tài nguyên mới tạo nên động lực bảo tồn bền vững.

Đặc biệt, sự xuất hiện của giá trị carbon cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong cách nhìn về tài nguyên rừng. Từ chỗ giá trị chủ yếu được xác lập sau quá trình khai thác, rừng ngày càng có khả năng tạo ra giá trị ngay trong quá trình được bảo vệ và duy trì. Đây vẫn là lĩnh vực mới, đòi hỏi hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định, xác minh và phân bổ lợi ích minh bạch. Khung pháp lý mới cũng đặt yêu cầu kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon phải được xác nhận trước khi trao đổi, chuyển nhượng, qua đó hạn chế nguy cơ thương mại hóa một giá trị sinh thái chưa được lượng hóa đầy đủ.

Trong toàn bộ hệ thống nông nghiệp, đó là quá trình thay đổi cách sử dụng đất, nước, phân bón, năng lượng và vật tư; giảm đầu vào gây ô nhiễm; hạn chế tổn thất sau thu hoạch; tận dụng phụ phẩm và tăng khả năng thích ứng trước biến đổi khí hậu. Với chăn nuôi, tư duy tuần hoàn có thể biến chất thải thành nguồn đầu vào; với trồng trọt, việc sử dụng tiết kiệm nước, phân bón và các quy trình sản xuất an toàn vừa giảm áp lực môi trường vừa góp phần nâng chất lượng sản phẩm. Quy hoạch phát triển của Thanh Hóa hiện cũng định hướng phát triển nông nghiệp sạch, hữu cơ, tuần hoàn, sinh thái, các vùng sản xuất giảm phát thải và từng bước hình thành thị trường tín chỉ carbon trong nông nghiệp.

III. KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ LIÊN KẾT CHUỖI: ĐỘNG LỰC CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN

Nếu xanh hóa làm thay đổi cách sử dụng nguồn lực, thì khoa học - công nghệ và liên kết chuỗi là những yếu tố quyết định khả năng chuyển hóa nguồn lực ấy thành giá trị kinh tế cụ thể. Trong nông nghiệp hiện đại, công nghệ không nên được hiểu đơn thuần là việc đưa thêm máy móc hay phần mềm vào sản xuất, mà quan trọng hơn là thay đổi phương thức ra quyết định, kiểm soát chất lượng và tổ chức thị trường. Với Thanh Hóa, đây là điều kiện để chuyển từ sản xuất dựa nhiều vào kinh nghiệm sang sản xuất ngày càng dựa trên dữ liệu, tiêu chuẩn và nhu cầu thị trường.

Chuyển đổi số có thể hỗ trợ quản lý dữ liệu vùng sản xuất, truy xuất nguồn gốc, giám sát dịch bệnh, dự báo thời tiết, quản lý rừng, kết nối cung - cầu và mở rộng thương mại điện tử. Nhưng giá trị cốt lõi nằm ở việc dữ liệu có thực sự tham gia vào quá trình ra quyết định hay không. Khi người sản xuất có thể biết điều kiện đất đai, thời tiết, nhu cầu thị trường, tình hình dịch bệnh và yêu cầu của từng thị trường tiêu thụ, quyết định về giống, thời vụ, quy trình chăm sóc hay thu hoạch sẽ có cơ sở khoa học hơn. Ở cấp độ quản trị, dữ liệu còn giúp cơ quan nhà nước chuyển từ phản ứng sau khi vấn đề phát sinh sang dự báo và chủ động điều tiết.

Dù vậy, công nghệ không thể thay thế tổ chức sản xuất. Một hộ nông dân riêng lẻ khó có thể đồng thời bảo đảm sản lượng ổn định, đồng nhất về chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn truy xuất và duy trì khả năng cung ứng lâu dài cho doanh nghiệp. Vì vậy, chuyển đổi số chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi được đặt trong một cấu trúc sản xuất phù hợp, với hợp tác xã làm cầu nối tổ chức nông hộ, doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, vùng nguyên liệu bảo đảm quy mô và cơ sở chế biến nâng cao giá trị sản phẩm.

Từ đó, cần chuyển từ tư duy tổ chức sản xuất theo từng khâu riêng lẻ sang tư duy phát triển chuỗi giá trị, trong đó các chủ thể từ người nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp đến các khâu chế biến, logistics và phân phối được kết nối trong một chỉnh thể thống nhất, cùng tham gia tạo lập và gia tăng giá trị cho sản phẩm. Nông dân là chủ thể trực tiếp tạo ra nguyên liệu; hợp tác xã tổ chức sản xuất, chuẩn hóa quy trình và kết nối các hộ; doanh nghiệp có vai trò dẫn dắt về thị trường, đầu tư chế biến và phát triển sản phẩm; Nhà nước tập trung kiến tạo hạ tầng, thể chế, dữ liệu, tiêu chuẩn và môi trường đầu tư. Với các vùng dứa, chuối, rau quả gắn với cơ sở chế biến hay các vùng rừng gỗ lớn gắn với chứng chỉ quản lý rừng bền vững, giá trị của sản phẩm không còn được quyết định tại thời điểm thu hoạch, mà được hình thành xuyên suốt quá trình từ vùng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ.

Điểm then chốt của liên kết chuỗi là liên kết có đủ ổn định và công bằng để các bên cùng duy trì. Nếu phần lớn giá trị gia tăng được giữ lại ở khâu chế biến, thương mại trong khi người sản xuất chỉ nhận phần lợi ích thấp và phải tự gánh phần lớn rủi ro về giá, thời tiết, dịch bệnh, liên kết khó có thể bền vững. Do đó, cần minh bạch về tiêu chuẩn, phương thức xác định giá, trách nhiệm thực hiện hợp đồng và cơ chế chia sẻ rủi ro. Khi đó, người nông dân trở thành chủ thể tham gia và hưởng lợi từ chuỗi giá trị.

Ở phương diện này, vai trò của Nhà nước cũng cần được xác định theo hướng kiến tạo thay vì can thiệp trực tiếp vào từng khâu sản xuất. Nhà nước có thể tạo lập môi trường để các chủ thể liên kết thông qua quy hoạch vùng nguyên liệu, hạ tầng logistics, tiêu chuẩn chất lượng, dữ liệu thị trường, chính sách tín dụng, hỗ trợ đổi mới công nghệ và cơ chế bảo vệ hợp đồng. Khi thể chế tạo được niềm tin, doanh nghiệp có động lực đầu tư dài hạn, hợp tác xã có điều kiện nâng cao năng lực tổ chức và người dân có cơ sở thay đổi phương thức sản xuất.

Theo đó, công nghệ tạo ra năng lực mới, nhưng tổ chức lại chuỗi giá trị mới quyết định năng lực ấy có được chuyển hóa thành thu nhập, sức cạnh tranh và phát triển bền vững hay không. Điều này cũng là điều kiện để khoa học - công nghệ thực sự trở thành động lực tăng trưởng của nông nghiệp Thanh Hóa, thay vì chỉ dừng lại ở những mô hình trình diễn hoặc những công cụ được ứng dụng rời rạc.

IV. TỪ CÁC MÔ HÌNH RIÊNG LẺ ĐẾN MỘT MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP MỚI

Từ thực tiễn tái cơ cấu sản xuất, xanh hóa kinh tế rừng và thúc đẩy khoa học công nghệ, có thể thấy các mô hình phát triển nông nghiệp của Thanh Hóa chỉ thực sự tạo thành một phương thức tăng trưởng mới khi được đặt trong một chỉnh thể thống nhất. Chỉnh thể đó cần đồng thời đáp ứng ba yêu cầu là hiệu quả kinh tế, bền vững môi trường và bao trùm xã hội. Hiệu quả ngoài được đo bằng sản lượng mà còn bằng giá trị gia tăng, năng suất, sức cạnh tranh và khả năng tham gia thị trường. Bền vững phải gắn với sử dụng hiệu quả đất, nước, rừng, giảm phát thải và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Bao trùm đòi hỏi người nông dân và cộng đồng, nhất là khu vực miền núi, thực sự được tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển.

Trong mô hình ấy, vai trò của Nhà nước cũng cần chuyển từ hỗ trợ sản xuất sang kiến tạo hệ sinh thái phát triển. Trọng tâm là tạo lập những điều kiện để các chủ thể có thể liên kết và đầu tư dài hạn. Điều đó bao gồm tổ chức lại không gian sản xuất, phát triển hạ tầng và dữ liệu, thúc đẩy khoa học công nghệ và tín dụng xanh, đồng thời hoàn thiện tiêu chuẩn, thể chế liên kết và cơ chế kết nối thị trường. Có thể khái quát mô hình phát triển mới theo một chuỗi logic gồm lợi thế tài nguyên, tổ chức lại sản xuất, công nghệ và dữ liệu, liên kết chuỗi giá trị, chế biến và thị trường, giá trị gia tăng, sinh kế và môi trường bền vững. Khi các yếu tố này được kết nối thay vì vận hành rời rạc, Thanh Hóa có cơ sở chuyển từ nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào sản xuất sang nền kinh tế nông nghiệp xanh, bao trùm và có khả năng chống chịu.

Thanh Hóa đã hình thành những nền tảng quan trọng cho phát triển nông nghiệp với quy mô sản xuất lớn, nguồn lực rừng phong phú, không gian sinh thái đa dạng và nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Lợi thế chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi được chuyển hóa thành giá trị gia tăng, năng suất và năng lực cạnh tranh. Vì vậy, cơ cấu lại sản xuất, phát triển kinh tế rừng, ứng dụng khoa học công nghệ và tổ chức lại chuỗi giá trị cần được nhìn nhận là các thành tố gắn kết trong một quá trình chuyển đổi thống nhất. Mục tiêu của quá trình này là nâng cao chất lượng tăng trưởng, sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực tự nhiên và mở rộng cơ hội tham gia, hưởng lợi cho người dân.

Khi mỗi đơn vị đất đai tạo ra giá trị cao hơn, mỗi cánh rừng được nhìn nhận như một tài sản sinh thái, công nghệ trở thành công cụ nâng cao năng lực sản xuất và người nông dân thực sự tham gia vào chuỗi giá trị, nông nghiệp Thanh Hóa sẽ từng bước vượt khỏi giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa vào sản lượng. Khi đó, xanh, bao trùm và bền vững không còn là những yêu cầu bổ sung, mà trở thành những nguyên tắc cấu thành mô hình phát triển nông nghiệp mới./.

ThS Thu Thủy