Qua gần hai năm triển khai, Nghị quyết số 57-NQ/TW đang chuyển từ giai đoạn tạo lập điều kiện sang giai đoạn hình thành công nghệ, sản phẩm và kết quả có thể đo lường. Bước chuyển này đòi hỏi tổ chức lại các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng xuất phát từ bài toán phát triển, xác định rõ sản phẩm đầu ra, công nghệ lõi, chủ thể thực hiện, địa chỉ ứng dụng và phương án thương mại hóa. Đây là điều kiện để nguồn lực đầu tư được chuyển hóa thành năng suất, năng lực cạnh tranh và những động lực tăng trưởng mới.
I. TỪ “THỂ CHẾ ĐI TRƯỚC” ĐẾN THỂ CHẾ ĐƯỢC KIỂM CHỨNG BẰNG SẢN PHẨM
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu”, có vai trò thúc đẩy lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Định hướng này đặt khoa học và công nghệ vào vị trí một động lực trực tiếp của phát triển, thay vì chủ yếu được nhìn nhận như lĩnh vực hỗ trợ.

Gắn nghiên cứu với sản phẩm, nhu cầu ứng dụng và thị trường là trọng tâm trong giai đoạn triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW
Từ phương pháp phân tích chính sách kết hợp với tiếp cận hệ thống có thể nhận thấy quá trình triển khai Nghị quyết đang chuyển qua hai giai đoạn có quan hệ kế tiếp. Giai đoạn đầu tập trung thống nhất nhận thức, hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ chế tài chính, chuẩn bị hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và tổ chức bộ máy. Khi các điều kiện nền tảng từng bước được hình thành, yêu cầu tiếp theo là kiểm chứng khả năng vận hành của cơ chế thông qua nhiệm vụ, sản phẩm và tác động cụ thể.
Nghị quyết nhấn mạnh: “Thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước”. Tinh thần “đi trước” cần được hiểu là thể chế phải mở đường cho hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, đầu tư, sản xuất và thương mại hóa; đồng thời tạo không gian phù hợp để xử lý đặc điểm bất định và rủi ro của đổi mới sáng tạo. Giá trị của thể chế vì thế được thể hiện ở khả năng giải phóng nguồn lực và kết nối tri thức với nhu cầu phát triển.
Bước chuyển này cũng đặt ra yêu cầu thay đổi hệ thống đánh giá. Ở cấp độ đầu vào là thể chế, ngân sách, nhân lực, phòng thí nghiệm, hạ tầng và dữ liệu. Cấp độ đầu ra gồm công nghệ, sáng chế, quy trình, nguyên mẫu hoặc sản phẩm thử nghiệm. Cao hơn là kết quả phát triển, được thể hiện qua mức độ ứng dụng, năng suất được cải thiện, doanh nghiệp công nghệ trưởng thành, thị trường được mở rộng và mức độ phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài từng bước được thu hẹp. Sự phân biệt này giúp tránh đồng nhất giải ngân với hiệu quả đầu tư hoặc coi nguyên mẫu kỹ thuật là sản phẩm đã hoàn thành toàn bộ hành trình phát triển.
Chuyển trọng tâm sang sản phẩm không có nghĩa công việc hoàn thiện thể chế đã kết thúc. Yêu cầu đặt ra là chuyển từ thể chế kiến tạo khả năng sang thể chế tạo được kết quả. Sản phẩm công nghệ vì thế trở thành phép thử trực tiếp đối với chất lượng thể chế: cơ chế chỉ thực sự phát huy tác dụng khi nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất và thị trường được kết nối trong một chu trình tương đối thông suốt.
II. TỔ CHỨC NHIỆM VỤ TỪ BÀI TOÁN PHÁT TRIỂN ĐẾN SẢN PHẨM CÓ THỊ TRƯỜNG
Chuyển từ hoàn thiện thể chế sang tạo sản phẩm trước hết đòi hỏi thay đổi cách lựa chọn và tổ chức nhiệm vụ khoa học, công nghệ. Nếu nguồn lực được phân bổ chủ yếu theo ngành, lĩnh vực hoặc đề xuất riêng lẻ, kết quả nghiên cứu dễ bị phân tán và thiếu liên kết với nhu cầu ứng dụng. Mô hình đổi mới sáng tạo định hướng sứ mệnh gợi mở một cách tiếp cận khác: chính sách bắt đầu từ bài toán phát triển cần giải quyết, sau đó huy động các lĩnh vực khoa học, công nghệ và chủ thể phù hợp cùng tham gia.
Theo cách tiếp cận được OECD khuyến nghị, một sứ mệnh cần đủ cụ thể để xác định mục tiêu, song vẫn đủ mở để nhiều giải pháp công nghệ có thể được đề xuất và thử nghiệm. Nhà nước giữ vai trò định hướng, điều phối nguồn lực và tạo môi trường kiểm chứng, thay vì quyết định thay toàn bộ lựa chọn kỹ thuật của tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp. Điều này giúp hạn chế đầu tư phân tán, đồng thời gắn hoạt động đổi mới sáng tạo với nhu cầu của cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người sử dụng.
Việc xác lập Danh mục gồm 10 nhóm công nghệ chiến lược và 30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 tạo cơ sở để cụ thể hóa phương thức trên. Ý nghĩa của danh mục nằm ở khả năng tập trung nguồn lực cho những công nghệ có tác động lan tỏa như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, robot, an ninh mạng và mạng di động thế hệ mới. Trong điều kiện nguồn lực có giới hạn, lựa chọn đúng trọng tâm sẽ tạo khả năng hình thành năng lực công nghệ có chiều sâu và giảm tình trạng đầu tư dàn trải.
Tự chủ công nghệ cũng cần được tiếp cận theo hướng thực chất và có chọn lọc. Yêu cầu phù hợp là xác định những cấu phần lõi có ý nghĩa quyết định đối với khả năng thiết kế, tích hợp, vận hành và phát triển sản phẩm; từ đó lựa chọn khâu cần làm chủ, khâu có thể hợp tác và khâu có thể tiếp nhận thông qua chuyển giao. Cách tiếp cận này phù hợp với xu thế liên kết quốc tế, đồng thời góp phần nâng cao khả năng chống chịu trước biến động công nghệ và chuỗi cung ứng.
Để một nhiệm vụ công nghệ chiến lược có khả năng đi đến thị trường, ngay từ khi thiết kế cần xác định rõ bài toán kinh tế – xã hội; đặc tính và tiêu chuẩn của sản phẩm đầu ra; công nghệ hoặc cấu phần lõi cần làm chủ; doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học tham gia; môi trường thử nghiệm, kiểm định; địa chỉ ứng dụng ban đầu; phương án sản xuất và thương mại hóa. Chuỗi yêu cầu này giúp nhiệm vụ được tổ chức theo hành trình của sản phẩm, thay vì dừng ở phạm vi một đề tài nghiên cứu.
Có thể minh họa bằng nhiệm vụ phát triển nền tảng trí tuệ nhân tạo tiếng Việt phục vụ dịch vụ công. Mục tiêu không nên dừng ở việc nghiên cứu một mô hình có khả năng xử lý ngôn ngữ, mà cần xác định tiêu chuẩn về độ chính xác, chất lượng dữ liệu, khả năng giải thích kết quả, yêu cầu bảo vệ thông tin, cơ quan thử nghiệm và doanh nghiệp phát triển sản phẩm. Hiệu quả sau thử nghiệm có thể được đánh giá bằng thời gian xử lý, chi phí vận hành và mức độ thuận tiện đối với người sử dụng. Đây là tình huống phân tích nhằm làm rõ cách thiết kế nhiệm vụ, không phải một nhiệm vụ cụ thể đã được phê duyệt.
Quá trình quản lý có thể tham chiếu mô hình mức độ sẵn sàng công nghệ – Technology Readiness Level, gồm chín cấp độ từ hình thành nguyên lý đến kiểm chứng hệ thống trong môi trường thực tế. Mô hình này cho phép chia quá trình phát triển thành những cột mốc kỹ thuật, làm căn cứ phân bổ nguồn lực, điều chỉnh hoặc dừng nhiệm vụ tại thời điểm phù hợp. Tuy nhiên, TRL chủ yếu phù hợp với nhiệm vụ ứng dụng và phát triển công nghệ; nghiên cứu cơ bản cần được đánh giá bằng đóng góp tri thức, chất lượng học thuật và năng lực khoa học dài hạn.
Một điều kiện quan trọng khác là đưa doanh nghiệp tham gia từ khâu xác định nhiệm vụ. Theo mô hình liên kết Nhà nước – viện, trường – doanh nghiệp, Nhà nước xác định bài toán, đặt hàng và tạo môi trường thử nghiệm; viện nghiên cứu, trường đại học cung cấp tri thức, công nghệ và nhân lực; doanh nghiệp phát triển sản phẩm, tổ chức sản xuất và phản hồi nhu cầu thị trường. Sự tham gia từ đầu của doanh nghiệp giúp yêu cầu kỹ thuật gắn với điều kiện sản xuất, chi phí, khách hàng và khả năng mở rộng quy mô.
Đối với những lĩnh vực thị trường chưa sẵn sàng chấp nhận rủi ro, có thể xem xét cơ chế Nhà nước trở thành người sử dụng đầu tiên thông qua mua sắm đổi mới sáng tạo hoặc mua sắm tiền thương mại. Cơ quan công quyền đặt ra bài toán, các chủ thể cùng phát triển và thử nghiệm giải pháp theo từng giai đoạn, sản phẩm đáp ứng yêu cầu có cơ hội được ứng dụng để tạo khách hàng tham chiếu ban đầu. Việc áp dụng cần phù hợp với pháp luật Việt Nam về ngân sách, đấu thầu, tài sản công và sở hữu trí tuệ.
Chuyển sang tạo sản phẩm, xét đến cùng, là chuyển từ quản lý từng đề tài riêng biệt sang quản trị toàn bộ hành trình phát triển công nghệ. Khi bài toán, năng lực nghiên cứu, doanh nghiệp, môi trường thử nghiệm và người sử dụng được kết nối, nguồn lực khoa học và công nghệ mới có khả năng chuyển hóa thành sản phẩm, năng suất và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
III. “KHOẢNG TRỐNG THỰC THI” TRÊN HÀNH TRÌNH TỪ PHÒNG THÍ NGHIỆM ĐẾN THỊ TRƯỜNG
Khi định hướng lớn, danh mục công nghệ chiến lược và các cơ chế nền tảng từng bước được xác lập, điểm nghẽn cần quan tâm chuyển dần sang năng lực tổ chức thực hiện. Chỉ thị số 29/CT-TTg ngày 16/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ chỉ ra tình trạng một số nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn chậm tiến độ, chưa bảo đảm đầu ra, tỷ lệ giải ngân thấp. Thực tế này phản ánh “khoảng trống thực thi” giữa mục tiêu chính sách với khả năng chuyển hóa nguồn lực thành công nghệ và sản phẩm cụ thể.
Biểu hiện đầu tiên nằm ở việc xác định đầu ra của nhiệm vụ. Một số mục tiêu vẫn được mô tả bằng hoạt động như nghiên cứu, xây dựng, khảo sát hoặc đề xuất, trong khi chưa làm rõ đặc tính kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, đối tượng sử dụng và điều kiện nghiệm thu. Khi sản phẩm chưa được định nghĩa đầy đủ, việc lập dự toán, lựa chọn chủ thể và đánh giá hiệu quả đều trở nên khó khăn. Vì vậy, cơ quan quản lý cần xác định rõ nhiệm vụ hướng tới kết quả nghiên cứu, nguyên mẫu, sản phẩm đạt chuẩn hay sản phẩm có khả năng thương mại; mỗi cấp độ phải có tiêu chí nghiệm thu tương ứng.
Điểm nghẽn thứ hai thuộc về cơ chế tài chính. Nghiên cứu và phát triển công nghệ có độ bất định cao, nhất là ở những lĩnh vực mới, nơi chi phí, thời gian và kết quả kỹ thuật khó được dự báo chính xác ngay từ đầu. Quản lý dựa quá nhiều vào dự toán cố định và chứng từ chi tiết có thể làm giảm khả năng điều chỉnh khi giải pháp kỹ thuật thay đổi. Ngược lại, mở rộng quyền tự chủ mà thiếu cột mốc kiểm soát sẽ làm gia tăng rủi ro sử dụng nguồn lực không hiệu quả. Yêu cầu đặt ra là gắn quyền chủ động của đơn vị thực hiện với trách nhiệm giải trình về tiến độ, kết quả trung gian và kinh phí. Chấp nhận thất bại có kiểm soát trong nghiên cứu không đồng nghĩa với chấp nhận trì trệ, thiếu minh bạch hoặc tổ chức thực hiện thiếu trách nhiệm.
Điểm nghẽn tiếp theo xuất hiện tại khoảng trống thương mại hóa giữa kết quả nghiên cứu và sản phẩm thị trường. Công nghệ có thể đã chứng minh được nguyên lý nhưng chưa đủ độ tin cậy để doanh nghiệp đầu tư sản xuất, trong khi cơ quan và tổ chức có nhu cầu sử dụng còn thận trọng do sản phẩm thiếu lịch sử vận hành. Hạn chế về phòng thí nghiệm dùng chung, dây chuyền sản xuất thử, hệ thống đo lường, tiêu chuẩn, kiểm định và chứng nhận càng làm quá trình hoàn thiện sản phẩm kéo dài. Vì vậy, phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm thử nghiệm và môi trường kiểm chứng cần được xem là hạ tầng trực tiếp của thương mại hóa, giúp giảm chi phí thử nghiệm và cung cấp bằng chứng về mức độ an toàn, hiệu quả của công nghệ.
Một điểm nghẽn khác nằm ở sự liên kết chưa liền mạch giữa viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và thị trường. Viện, trường có thế mạnh về tri thức nhưng thường thiếu thông tin thị trường và kinh nghiệm phát triển sản phẩm; doanh nghiệp hiểu nhu cầu khách hàng nhưng có thể chưa sẵn sàng đầu tư cho nghiên cứu dài hạn, rủi ro cao. Những khó khăn trong định giá tài sản trí tuệ, xác định quyền sở hữu, chuyển giao công nghệ và phân chia lợi ích cũng có thể làm giảm động lực hợp tác. Cơ chế đồng đầu tư, đồng tài trợ vì thế cần xác định rõ quyền đối với kết quả nghiên cứu, cam kết đưa sản phẩm đủ điều kiện vào ứng dụng và nguyên tắc phân chia lợi ích giữa các chủ thể.
Khoảng cách từ chính sách đến sản phẩm không thể được thu hẹp bằng việc bổ sung thêm thủ tục. Yếu tố quyết định nằm ở năng lực xác định đúng đầu ra, quản trị rủi ro, hoàn thiện hạ tầng thử nghiệm và kết nối hoạt động nghiên cứu với doanh nghiệp, người sử dụng và thị trường.
IV. ĐIỀU KIỆN ĐỂ HÌNH THÀNH NHỮNG SẢN PHẨM CÓ THỂ ĐO LƯỜNG
Từ nay đến cuối năm 2026, yêu cầu trước hết là lựa chọn một danh mục nhiệm vụ có giới hạn, tập trung vào những bài toán cấp thiết, có nhu cầu sử dụng và khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa. Thay vì phân bổ nguồn lực bình quân, cần ưu tiên nhiệm vụ đã xác định tương đối rõ công nghệ lõi, doanh nghiệp tham gia, điều kiện thử nghiệm và địa chỉ ứng dụng ban đầu. Việc tập trung nguồn lực sẽ tạo khả năng hình thành một số sản phẩm đủ độ hoàn thiện để kiểm chứng phương thức tổ chức mới.
Mỗi chương trình cần có một đầu mối đủ thẩm quyền điều phối xuyên suốt giữa chuyên môn, tài chính, thử nghiệm, sở hữu trí tuệ và ứng dụng. Trách nhiệm quản lý phải được xác định theo hướng rõ mục tiêu, rõ sản phẩm, rõ cột mốc, rõ chủ thể thực hiện và rõ quyền quyết định. Đầu mối điều hành có trách nhiệm nhận diện sớm vướng mắc, kiến nghị điều chỉnh và kiểm soát tiến độ chung, hạn chế tình trạng từng bộ phận hoàn thành thủ tục riêng nhưng chuỗi phát triển sản phẩm vẫn bị gián đoạn.
Nguồn lực cần được bố trí phù hợp với từng giai đoạn trưởng thành của công nghệ: tài trợ cho nghiên cứu và nguyên mẫu; đồng đầu tư ở giai đoạn thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm; hỗ trợ kiểm định, chứng nhận, bảo hộ sở hữu trí tuệ và kết nối đơn vị ứng dụng đầu tiên. Sau mỗi cột mốc cần có đánh giá làm căn cứ tiếp tục tài trợ, điều chỉnh mục tiêu hoặc dừng nhiệm vụ. Việc điều chuyển nguồn lực khỏi những nhiệm vụ không còn bảo đảm tiến độ phải được thực hiện đúng thẩm quyền và quy định, hướng tới nâng cao hiệu quả chung của chương trình.
Kết quả cần được đánh giá theo bốn tầng liên kết. Tầng công nghệ phản ánh mức độ sẵn sàng, cấu phần lõi được làm chủ, sáng chế và bí quyết kỹ thuật. Tầng sản phẩm gồm nguyên mẫu, tiêu chuẩn, kết quả thử nghiệm, chứng nhận và khả năng vận hành thực tế. Tầng thị trường được thể hiện qua người sử dụng đầu tiên, hợp đồng, doanh thu, năng lực sản xuất và mức độ chấp nhận. Tầng tác động phản ánh đóng góp đối với năng suất, giá trị gia tăng, khả năng thay thế nhập khẩu, tiềm năng xuất khẩu và hiệu ứng lan tỏa.
Không nên đánh giá kết quả bằng số lượng sản phẩm được công bố hoặc nhiệm vụ đã nghiệm thu. Mục tiêu đến cuối năm 2026 cần được hiểu là hình thành những sản phẩm đầu tiên có giá trị sử dụng, đủ sức kiểm chứng phương thức tổ chức mới và có khả năng tiếp tục phát triển sau khi nguồn tài trợ từ ngân sách kết thúc.
V. KẾT LUẬN
Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW đang chuyển từ giai đoạn kiến tạo điều kiện sang giai đoạn đòi hỏi sản phẩm và tác động cụ thể. Bước chuyển này tiếp tục khẳng định vai trò của thể chế, bởi sản phẩm công nghệ là căn cứ thực tiễn để kiểm chứng chất lượng và khả năng vận hành của các cơ chế đã được ban hành.
Kết quả cần được đo bằng mức độ làm chủ công nghệ, khả năng đưa sản phẩm vào sử dụng, sự trưởng thành của doanh nghiệp công nghệ và giá trị tạo ra cho nền kinh tế. Khi bài toán phát triển, năng lực nghiên cứu, nguồn lực doanh nghiệp và nhu cầu thị trường được kết nối trong một chu trình thống nhất, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ có điều kiện chuyển hóa thành năng suất, sức cạnh tranh và năng lực tự chủ công nghệ quốc gia./.
ThS. Lê Minh Dũng




