03/04/2026 lúc 16:33 (GMT+7)
Breaking News

Giải pháp để việc thực thi pháp luật không còn là khâu yếu

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển kinh tế – xã hội, hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, với nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo đảm trật tự, kỷ cương. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy khoảng cách giữa quy định của pháp luật và việc tổ chức thực thi vẫn còn khá lớn. Không ít trường hợp pháp luật được xây dựng tương đối đầy đủ nhưng hiệu quả áp dụng trên thực tế lại chưa cao, thậm chí có nơi, có lúc việc thực thi còn lỏng lẻo, thiếu đồng bộ hoặc chưa nghiêm minh. Điều đó khiến cho việc tổ chức thực thi pháp luật vẫn bị xem là một trong những “khâu yếu” trong quá trình quản lý nhà nước.

Giải pháp để việc thực thi pháp luật không còn là khâu yếu. Ảnh minh họa - VNHN

Nhận diện đúng nguyên nhân của thực trạng này có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của pháp luật trong đời sống xã hội. Từ đó, việc đề xuất các giải pháp thiết thực để khắc phục những hạn chế trong tổ chức thực thi pháp luật không chỉ góp phần củng cố kỷ cương, tăng cường niềm tin của người dân vào pháp luật mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Vấn đề “khâu tổ chức thi hành pháp luật là khâu yếu” đã được Đảng và Nhà nước nhiều lần chỉ ra trong các nghị quyết, chỉ thị và văn bản pháp luật. Để khắc phục tình trạng này, nhiều văn bản quan trọng đã được ban hành nhằm tăng cường chỉ đạo, nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi pháp luật.

Những Văn bản quan trọng của Đảng và Nhà nước liên quan tới vấn đề tổ chức thực thi pháp luật.

1. Văn bản của Đảng về chỉ đạo tổ chức thi hành pháp luật

1.1. Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong đó, Chỉ thị nhấn mạnh phải nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân; Coi phổ biến giáo dục pháp luật là điều kiện quan trọng để pháp luật được thực thi hiệu quả.

1.2. Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 32-CT/TW. Mục tiêu của vấn đề đặt ra là: Tăng cường ý thức tuân thủ pháp luật, gắn với tổ chức thi hành pháp luật trong thực tế.

1.3. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về việc Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong đó, Nghị quyết nhấn mạnh phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; Khắc phục tình trạng pháp luật ban hành nhiều nhưng thực thi chưa nghiêm, chưa đồng bộ; Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước trong tổ chức thi hành pháp luật.

1.4. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây là nghị quyết chuyên sâu về đổi mới đồng thời cả xây dựng và thi hành pháp luật. Nghị quyết xác định: Thi hành pháp luật phải trở thành khâu trọng tâm; Phải xóa bỏ tình trạng “luật ban hành xong chậm đi vào cuộc sống”.

2. Văn bản của Nhà nước về tổ chức thi hành pháp luật:

2.1. Hiến pháp năm 2013: Điều 8 quy định: Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Đây là cơ sở hiến định cho việc tổ chức thi hành pháp luật.

2.2. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Phiên bản 2015 (sửa đổi 2020) và Luật mới năm 2025. Trong đó có các nội dung quan trọng: Quy định trách nhiệm tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật; Gắn trách nhiệm của cơ quan ban hành và người đứng đầu; Yêu cầu ban hành văn bản hướng dẫn thi hành kịp thời.

2.3. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với mục tiêu: Nâng cao nhận thức pháp luật của người dân, và tạo điều kiện để pháp luật được thực thi trong thực tiễn.

2.4. Nghị định của Chính phủ về theo dõi thi hành pháp luật: Gồm các Nghị định tiêu biểu: Nghị định 59/2012/NĐ-CP (sau sửa đổi bởi Nghị định 32/2020/NĐ-CP) Quy định theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Nghị định 80/2025/NĐ-CP Quy định chi tiết trách nhiệm tổ chức thi hành, theo dõi, sơ kết, tổng kết việc thi hành VBQPPL.

3. Các văn bản khác liên quan đến nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

- Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến 2045.

- Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội.

- Chương trình công tác của Chính phủ về theo dõi thi hành pháp luật hằng năm.

Các văn bản này đều nhấn mạnh việc khắc phục tình trạng “pháp luật ban hành nhưng tổ chức thực hiện còn yếu”, một hạn chế đã được chỉ ra nhiều lần trong các báo cáo của Đảng và Nhà nước.

Thực trạng thực thi pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Pháp luật là công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý xã hội, bảo đảm trật tự, công bằng và phát triển bền vững. Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, việc thực thi pháp luật vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục.

1.Những kết quả đạt được

Trước hết, có thể khẳng định rằng công tác thực thi pháp luật tại Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể, thể hiện ở các mặt cụa thể sau:

- Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện: Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành tương đối đầy đủ, bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

- Ý thức pháp luật của người dân được nâng cao: Người dân ngày càng hiểu và tôn trọng pháp luật hơn, đặc biệt trong các lĩnh vực như giao thông, kinh doanh, và dân sự.

- Hiệu quả quản lý nhà nước được cải thiện: Các cơ quan chức năng từng bước nâng cao năng lực thực thi, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.

- Ứng dụng công nghệ trong thực thi pháp luật: Chính phủ điện tử, chuyển đổi số giúp minh bạch hóa hoạt động quản lý và giảm tiêu cực.

2. Những hạn chế, bất cập

Bên cạnh những thành tựu, thực trạng thực thi pháp luật tại Việt Nam vẫn còn những hạn chế, bất cập:

a)Thế nào là sự yếu kém trong khâu tổ chức thực thi pháp luật ?

Sự yếu kém trong tổ chức thực thi pháp luật là tình trạng các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền không thực hiện đầy đủ, hiệu quả hoặc đúng quy định việc áp dụng và bảo đảm thực hiện pháp luật trong thực tế. Điều này khiến pháp luật dù đã ban hành nhưng không được thực hiện nghiêm túc hoặc không đạt mục tiêu quản lý xã hội.

Sự yếu kém trong thực thi pháp luật gồm những dấu hiệu: Thi hành pháp luật không nghiêm; Thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật; Chậm trễ, trì trệ trong giải quyết công việc theo quy định của pháp luật; Thiếu trách nhiệm hoặc năng lực của cán bộ thực thi; Tình trạng nhũng nhiễu, tham nhũng, lợi dụng chức vụ quyền hạn; Thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả.

Một cách khái quát có thể thấy: Sự yếu kém trong tổ chức thực thi pháp luật là tình trạng pháp luật không được triển khai đúng, đủ và hiệu quả trong thực tế do hạn chế về tổ chức, con người, cơ chế hoặc trách nhiệm. Theo nhận định của các chuyên gia pháp lý, tình trạng này dẫn đến hiện tượng “pháp luật trên giấy” – nghĩa là luật tồn tại trong văn bản nhưng chưa được thực hiện đầy đủ trong đời sống xã hội.

b) Những hạn chế, bất cập:

- Tình trạng vi phạm pháp luật còn phổ biến: Ví dụ vấn đề vi phạm giao thông, trật tự công cộng, môi trường vẫn diễn ra thường xuyên; một số lĩnh vực như đất đai, xây dựng, kinh doanh còn tồn tại nhiều sai phạm.

- Thực thi pháp luật chưa nghiêm: Có hiện tượng “nhờn luật”, xử lý chưa đủ sức răn đe; một số cán bộ còn thiếu trách nhiệm, thậm chí tiêu cực, tham nhũng dẫn đến việc thực thi luật bị sai và không hiệu quả.

- Chồng chéo, thiếu thống nhất trong pháp luật: Một số quy định còn mâu thuẫn, gây khó khăn cho việc áp dụng. Hướng dẫn thi hành chậm ban hành, làm giảm hiệu lực của luật.

- Ý thức pháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế: Một số người vẫn cố tình vi phạm luật vì lợi ích cá nhân; Tình trạng “lách luật” trong kinh doanh, thuế, và hành chính còn nhiều.

c).Nguyên nhân của những hạn chế:

Nguyên nhân của vấn đề này có nhiều. Có thể nêu một số nguyên nhân cơ bản sau:

1. Hệ thống pháp luật còn chồng chéo, thiếu tính khả thi:

Một trong những nguyên nhân cơ bản là gây ra sự chồng chéo là chất lượng pháp luật chưa đồng đều. Nhiều quy định pháp luật chưa thống nhất, chưa đồng bộ giữa các ngành, các cấp, dẫn đến khó khăn khi triển khai. Bên cạnh đó, một số quy định thiếu tính ổn định và khả năng dự báo, gây trở ngại cho việc thực thi trên thực tế. Ví dụ: Luật được ban hành nhưng chậm có nghị định hoặc thông tư hướng dẫn; Quy định giữa các luật đôi khi mâu thuẫn hoặc trùng lặp; Nhiều chính sách thay đổi nhanh khiến cơ quan thực thi lúng túng. Điều này làm cho việc áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các địa phương và cơ quan.

Vấn đề hệ thống pháp luật còn chồng chéo, thiếu tính khả thi thường được thể hiện ở việc nhiều văn bản pháp luật quy định trùng lặp, mâu thuẫn hoặc khó áp dụng trong thực tế, gây khó khăn cho cơ quan quản lý và người dân/doanh nghiệp. Đó là sự chồng chéo giữa các luật điều chỉnh cùng một lĩnh vực; chồng chéo trong quản lý giữa các bộ, ngành; là Quy định thiếu tính khả thi trong thực tế; hệ thống văn bản dưới luật nhiều và thay đổi liên tục…

2. Bộ máy thực thi pháp luật còn hạn chế về năng lực:

Một nguyên nhân quan trọng khác là chất lượng đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật chưa đồng đều. Vấn đề này thể hiện ở một số mặt như: Thiếu kiến thức pháp lý chuyên sâu; Năng lực quản lý và tổ chức thực thi còn hạn chế; Tình trạng né tránh trách nhiệm hoặc làm việc hình thức. Khi cán bộ thực thi không hiểu rõ hoặc không đủ năng lực áp dụng pháp luật, quy định pháp luật khó được thực hiện đúng và đầy đủ.

Vấn đề “bộ máy thực thi pháp luật còn hạn chế về năng lực” thường thể hiện ở các khía cạnh như: Hạn chế về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ; Hạn chế về kỹ năng thực thi và quản lý; Hạn chế về số lượng và cơ cấu nhân lực; Hạn chế về đạo đức công vụ và trách nhiệm; Hạn chế về điều kiện làm việc và công nghệ; Hạn chế trong cơ chế đào tạo và bồi dưỡng.

3. Cơ chế giám sát và chế tài chưa đủ mạnh:

Trong nhiều trường hợp, vi phạm pháp luật chưa bị xử lý nghiêm, dẫn đến tâm lý coi thường pháp luật. Về mặt này, có một số biểu hiện như: Tình trạng xây dựng trái phép, buôn lậu, trốn thuế vẫn diễn ra; Các hành vi vi phạm trong môi trường mạng, quảng cáo sai sự thật, hàng giả… cũng còn phổ biến. Nguyên nhân chủ yếu là do: Cơ chế kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả; Chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe; việc xử lý vi phạm đôi khi thiếu kiên quyết.

Nói “Cơ chế giám sát và chế tài chưa đủ mạnh trong thực thi pháp luật” nghĩa là hệ thống theo dõi việc tuân thủ pháp luật và các hình thức xử lý vi phạm chưa hiệu quả, chưa đủ sức răn đe, nên luật ban hành nhưng việc thực hiện trong thực tế còn yếu. Điều này thường xuất phát từ một số nguyên nhân chính là: Cơ chế giám sát chưa chặt chẽ; Chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe; Quá trình thực thi còn hạn chế; Hệ thống pháp luật còn bất cập.

Khi cơ chế giám sát lỏng lẻo và chế tài xử lý vi phạm không đủ mạnh, pháp luật dù được ban hành nhưng khó đảm bảo thực thi nghiêm minh, làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước và tính công bằng trong xã hội.

4. Ý thức pháp luật của một bộ phận người dân và doanh nghiệp còn hạn chế

Pháp luật chỉ thực sự phát huy hiệu lực khi người dân tự giác tuân thủ. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có một số cá nhân, tổ chức cố tình vi phạm để trục lợi. Có thể minh chứng vấn đề này bằng nhiều hiện tượng thực tế trong đời sống xã hội, như:

- Vi phạm giao thông còn nhiều: Nhiều người vượt đèn đỏ, đi ngược chiều, không đội mũ bảo hiểm, chở quá số người quy định. Tình trạng uống rượu bia khi lái xe vẫn diễn ra mặc dù pháp luật đã xử phạt rất nặng theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ.

- Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế ở một số doanh nghiệp: Một số doanh nghiệp khai báo doanh thu không đúng, lập hóa đơn khống, trốn thuế để giảm nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Ví dụ: nhiều vụ mua bán hóa đơn giá trị gia tăng trái phép bị cơ quan thuế và công an phát hiện.

- Vi phạm về môi trường: Một số cơ sở sản xuất xả thải chưa qua xử lý ra sông, hồ gây ô nhiễm môi trường. Một vụ việc điển hình là sự cố môi trường biển do Formosa Hà Tĩnh Steel gây ra trong Sự cố môi trường biển miền Trung năm 2016.

- Vi phạm pháp luật về kinh doanh: Một số doanh nghiệp sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm sở hữu trí tuệ. Ví dụ: làm giả các thương hiệu lớn hoặc bán hàng nhập lậu không rõ nguồn gốc.

- Vi phạm pháp luật trên không gian mạng: Một số cá nhân đăng tải thông tin sai sự thật, xúc phạm danh dự người khác, lừa đảo trực tuyến. Những hành vi này bị xử lý theo Luật An ninh mạng 2018.

- Không tuân thủ quy định lao động: Một số doanh nghiệp không ký hợp đồng lao động, chậm đóng bảo hiểm xã hội, trả lương thấp hơn quy định cho người lao động.
Các hiện tượng trên cho thấy ở một bộ phận người dân và doanh nghiệp, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật chưa cao, dẫn đến nhiều hành vi vi phạm trong các lĩnh vực như giao thông, kinh doanh, môi trường, lao động và không gian mạng.

5. Sự phối hợp giữa các cơ quan thực thi chưa hiệu quả

Trong nhiều lĩnh vực quản lý, nhiều cơ quan cùng có thẩm quyền, nhưng cơ chế phối hợp chưa rõ ràng. Điều đó dẫn đến sự đùn đẩy trách nhiệm, việc thực thi pháp luật không thống nhất, chậm xử lý các vấn đề phát sinh. Thường gặp nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai, bảo vệ môi trường, quản lý thị trường.

Dưới đây là một số dẫn chứng cụ thể về việc sự phối hợp giữa các cơ quan chưa hiệu quả trong quá trình thực thi pháp luật:

5.1. Quản lý xây dựng và trật tự đô thị: Ở nhiều địa phương, công trình xây dựng trái phép tồn tại thời gian dài vì UBND phường/xã, thanh tra xây dựng và phòng quản lý đô thị chưa phối hợp chặt chẽ. Ví dụ: có trường hợp công trình xây dựng sai phép nhưng thanh tra xây dựng phát hiện chậm, khi xử lý thì chính quyền địa phương và cơ quan cấp phép lại đùn đẩy trách nhiệm, dẫn đến việc cưỡng chế kéo dài.

5.2. Quản lý an toàn thực phẩm: Công tác quản lý liên quan đến nhiều cơ quan như y tế, công thương, nông nghiệp. Thực tế cho thấy khi xảy ra ngộ độc thực phẩm hoặc thực phẩm bẩn, việc xác định trách nhiệm quản lý và xử lý vi phạm còn chồng chéo, kiểm tra nhiều lần nhưng hiệu quả chưa cao.

5.3. Phòng chống khai thác cát trái phép: Hoạt động khai thác cát lậu trên sông thường cần sự phối hợp của công an, chính quyền địa phương, tài nguyên – môi trường, giao thông đường thủy. Tuy nhiên ở một số nơi, việc tuần tra không đồng bộ, khi kiểm tra thì các đối tượng đã bỏ trốn, hoặc khó xác định cơ quan chịu trách nhiệm chính.

5.4. Xử lý vi phạm môi trường: Một số vụ xả thải gây ô nhiễm cần sự phối hợp giữa cơ quan môi trường, chính quyền địa phương, công an và cơ quan thanh tra. Có trường hợp phát hiện vi phạm nhưng việc xử lý kéo dài do phải chuyển hồ sơ qua nhiều cơ quan để xác định thẩm quyền.

5.5. Quản lý đất đai: Trong nhiều vụ lấn chiếm đất công hoặc tranh chấp đất đai, hồ sơ phải qua văn phòng đăng ký đất đai, chính quyền địa phương, tòa án, cơ quan thanh tra. Sự phối hợp chưa nhịp nhàng khiến quá trình giải quyết kéo dài nhiều năm, gây bức xúc cho người dân.

Giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng yếu kém trong tổ chức thực thi pháp luật

1. Hoàn thiện thể chế về tổ chức thi hành pháp luật

1.1. Thể chế hóa đầy đủ trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật

Một nguyên nhân quan trọng của việc thực thi pháp luật kém hiệu quả là trách nhiệm tổ chức thi hành chưa được quy định rõ ràng trong nhiều văn bản pháp luật. Vì vậy, giải pháp ở đây là: Quy định cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan trong việc tổ chức thực thi pháp luật (Chính phủ, bộ, địa phương). Thiết lập cơ chế phân công, phối hợp, chịu trách nhiệm giải trình.

Ví dụ: Khi ban hành luật phải kèm theo kế hoạch triển khai thực hiện (implementation plan). Quy định rõ cơ quan chủ trì, phối hợp, thời hạn thực hiện.

Thực hiện giải pháp đó sẽ tránh được tình trạng “luật có nhưng không biết ai chịu trách nhiệm thực hiện”. Đồng thời nâng cao tính trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước.

1.2. Bảo đảm sự đồng bộ giữa xây dựng và thi hành pháp luật:

Một hạn chế phổ biến là tách rời giữa khâu lập pháp và thực thi pháp luật. Để khắc phục, ngay từ khi xây dựng Luật, cần đánh giá khả năng thực thi (feasibility); đánh giá tác động chính sách (RIA). Đi đôi với việc hạn chế các quy định chung chung, quy định khó áp dụng. Ví dụ: quy định rõ về nguồn lực thực hiện, về cơ quan chịu trách nhiệm và cơ chế xử lý vi phạm.

Những giải pháp đó sẽ giúp giảm tình trạng luật “treo”, giảm văn bản hướng dẫn chậm ban hành.

2. Cải cách tổ chức bộ máy thực thi pháp luật:

2.1. Rà soát và phân định rõ chức năng, thẩm quyền: Một nguyên nhân lớn của thực thi pháp luật yếu là chồng chéo thẩm quyền giữa các cơ quan. Để khắc phục, cần phân định rõ: thẩm quyền trung ương – địa phương; thẩm quyền giữa các bộ ngành; nhằm tránh tình trạng một việc nhiều cơ quan quản lý, hoặc không cơ quan nào chịu trách nhiệm. Ví dụ: Các lĩnh vực quản lý đất đai, môi trường, xây dựng thường xảy ra chồng chéo.

Vấn đề cải cách tổ chức bộ máy thực thi pháp luật nếu được thực hiện sẽ giúp tăng hiệu lực quản lý nhà nước, giảm xung đột thẩm quyền.

2.2. Tinh gọn bộ máy thực thi pháp luật: Bộ máy cồng kềnh dẫn đến sự chậm trễ, chi phí quản lý cao, giảm hiệu quả thực thi. Giải pháp cho vấn đề này là sắp xếp lại cơ quan pháp chế, cơ quan thanh tra, cơ quan quản lý chuyên ngành. Đi đôi với áp dụng mô hình quản trị theo chức năng, theo kết quả… Qua đó, tăng hiệu quả công việc và giảm trung gian hành chính.

3. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật:

Con người là yếu tố quyết định trong tổ chức thi hành pháp luật. Vì vậy, không thể coi nhẹ việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực thực thi pháp luật. Cụ thể:

3.1. Nâng cao năng lực chuyên môn: Sở dĩ như vậy vì có những cán bộ thực thi pháp luật mà chưa nắm chắc quy định pháp luật, lại thiếu kỹ năng áp dụng pháp luật. Trong trường hợp này, cần đào tạo chuyên sâu về các mặt: kỹ năng áp dụng pháp luật, kỹ năng giải thích pháp luật, kỹ năng xử lý vi phạm. Song song với đó là tổ chức đào tạo liên tục cho cán bộ hành chính, thanh tra, công an, tòa án.

3.2. Tăng cường kỷ luật và trách nhiệm công vụ: Đây cũng là một thực tế rất cần phải chấn chỉnh nhằm khắc phục tình trạng khá phổ biến hiện nay là thiếu trách nhiệm, nhũng nhiễu, lạm quyền.

Muốn vậy, cần áp dụng cơ chế đánh giá công vụ theo kết quả. Đồng thời xử lý nghiêm cán bộ vi phạm pháp luật, cán bộ thiếu trách nhiệm. Qua đó giúp tăng tính răn đe và nâng cao kỷ cương hành chính.

4. Tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật

4.1. Hoàn thiện cơ chế theo dõi thi hành pháp luật: Việc theo dõi thi hành pháp luật là công cụ quan trọng để phát hiện những vướng mắc, bất cập, sai phạm trong thực thi.

Muốn hoàn thiện vấn đề này, cần thiết lập hệ thống báo cáo định kỳ, kiểm tra chuyên đề; xây dựng chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật.

4.2. Tăng cường giám sát của xã hội: Giám sát không chỉ từ nhà nước mà còn từ người dân, báo chí, tổ chức xã hội. Thông qua các giải pháp cụ thể: Công khai thông tin về quá trình thực thi pháp luật, kết quả xử lý vi phạm; Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các Tổ chức xã hội, Báo chí… trong việc giám sát, nhằm tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền.

5. Đẩy mạnh phổ biến, giáo dục pháp luật

Trong thực tế, Pháp luật chỉ phát huy hiệu lực khi người dân hiểu và tuân thủ. Do vậy, cần đẩy mạnh việc phổ biến, giáo dục pháp luật.

Giải pháp ở đây là: Đổi mới phương thức phổ biến pháp luật thông qua truyền thông số, mạng xã hội, ứng dụng pháp luật điện tử, đưa giáo dục pháp luật vào trường học, trong cộng đồng. Qua đó, nâng cao ý thức pháp luật của xã hội, giúp giảm vi phạm pháp luật.

6. Ứng dụng công nghệ số trong tổ chức thi hành pháp luật

Chuyển đổi số là xu hướng quan trọng giúp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Cần đẩy mạnh quá trình xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Thực hiện số hoá hồ sơ, thủ tục hành chính, dữ liệu pháp luật. Ví dụ: hệ thống tra cứu pháp luật trực tuyến, cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia.

7. Tăng cường nguồn lực cho công tác thi hành pháp luật

Thực tế cho thấy, một số địa phương thiếu kinh phí, nhân lực, cơ sở vật chất cho công tác thi hành pháp luật. Để khắc phục, cần có giải pháp bố trí ngân sách hợp lý; đầu tư hạ tầng công nghệ và đào tạo cán bộ. Qua đó giúp nâng cao năng lực thực thi, đảm bảo pháp luật được áp dụng đồng bộ.

Những giải pháp này có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh và hiệu quả trong đời sống xã hội.

Để khắc phục những hạn chế trong thực thi pháp luật, cần một hệ thống giải pháp toàn diện, từ hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng bộ máy thực thi đến xây dựng văn hóa pháp quyền trong xã hội. Khi pháp luật được thực thi nghiêm minh và hiệu quả, nó sẽ trở thành công cụ quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện đại./.

TS Đỗ Văn Toàn