02/11/2026 lúc 15:08 (GMT+7)
Breaking News

Giảm chi phí năng lượng: Đòn bẩy kiểm soát lạm phát và củng cố động lực tăng trưởng

Tóm tắt: Trong bối cảnh áp lực lạm phát gia tăng vào những tháng cuối năm 2026, việc điều chỉnh giảm giá bán lẻ điện bình quân 2% và đưa thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các loại xăng về mức 0% từ ngày 1/11/2026 là những quyết sách có ý nghĩa thiết thực đối với ổn định kinh tế vĩ mô. Không chỉ trực tiếp giảm một phần chi phí sinh hoạt cho người dân, tiết giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, các chính sách này còn tạo hiệu ứng lan tỏa tới mặt bằng giá hàng hóa, dịch vụ thông qua cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng. Tuy nhiên, hiệu quả kiểm soát lạm phát không chỉ phụ thuộc vào mức giảm giá tại thời điểm ban hành mà còn nằm ở khả năng duy trì ổn định nguồn cung, kiểm soát chi phí trung gian, bảo đảm cạnh tranh thị trường và phối hợp đồng bộ các công cụ điều hành. Từ thực tiễn đó, bài viết phân tích vai trò của chính sách giảm chi phí năng lượng trong điều hành kinh tế vĩ mô, đồng thời gợi mở một số định hướng nhằm phát huy hiệu quả chính sách, hài hòa mục tiêu kiểm soát lạm phát với yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội.

Từ khóa: Giá năng lượng; giảm giá điện; thuế xăng dầu; kiểm soát lạm phát; ổn định kinh tế vĩ mô; tăng trưởng bền vững.

Abstract: Against the backdrop of mounting inflationary pressures in the final months of 2026, the 2% reduction in the average retail electricity price and the reduction of the special consumption tax on gasoline to zero percent from November 1, 2026, represent practical policy measures supporting macroeconomic stability. Beyond directly easing household living expenses and reducing production costs for businesses, these measures can generate broader effects on the prices of goods and services through the transmission of energy costs across the economy. However, the effectiveness of inflation control depends not only on the immediate price reductions but also on stable supply, the management of intermediate costs, market competition and coordinated policy implementation. This article examines the role of energy cost reduction in macroeconomic management and proposes policy orientations to maximize its effectiveness while balancing inflation control, economic growth and social welfare.

Keywords: Energy prices; electricity price reduction; fuel taxation; inflation control; macroeconomic stability; sustainable growth.

Giảm chi phí năng lượng: Đòn bẩy kiểm soát lạm phát và củng cố động lực tăng trưởng. Ảnh minh họa - TL

Năng lượng và bài toán ổn định mặt bằng giá

Trong cấu trúc vận hành của nền kinh tế hiện đại, năng lượng không đơn thuần là một loại hàng hóa thiết yếu mà còn là yếu tố đầu vào có ảnh hưởng sâu rộng đến hầu hết các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Từ công nghiệp chế biến, chế tạo, xây dựng, vận tải, logistics đến thương mại, nông nghiệp và tiêu dùng dân cư, chi phí điện, xăng dầu đều tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình hình thành giá thành sản phẩm. Vì vậy, mỗi biến động của thị trường năng lượng đều có khả năng tạo ra những tác động dây chuyền đến chi phí sản xuất, giá bán hàng hóa và sức mua của toàn xã hội.

Đối với Việt Nam, yêu cầu bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô trong khi duy trì tốc độ tăng trưởng cao luôn đặt ra bài toán điều hành phức hợp. Một mặt, nền kinh tế cần nguồn lực đầu tư, tín dụng, tiêu dùng và xuất khẩu để tạo động lực phát triển. Mặt khác, việc gia tăng tổng cầu, giải ngân đầu tư, mở rộng sản xuất và biến động giá hàng hóa quốc tế có thể tạo thêm sức ép lên mặt bằng giá trong nước. Trong bối cảnh đó, điều hành giá năng lượng trở thành một trong những công cụ quan trọng nhằm hạn chế chi phí đầu vào, giảm áp lực lạm phát và củng cố niềm tin thị trường.

Những điều chỉnh chính sách từ ngày 1/11/2026, gồm giảm giá bán lẻ điện bình quân 2% và đưa thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các loại xăng về mức 0%, vì vậy cần được nhìn nhận trong tổng thể chiến lược ổn định kinh tế vĩ mô, thay vì chỉ xem xét như những biện pháp giảm giá đơn lẻ.

Theo thông tin được Báo Điện tử Chính phủ công bố ngày 1/11/2026, mức giảm giá điện bình quân 2% được triển khai cùng thời điểm với chính sách điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng. Chuyên gia Nguyễn Tiến Thỏa, Chủ tịch Hội Thẩm định giá Việt Nam, đánh giá các giải pháp này có tác động tích cực đến hoạt động kinh tế và công tác kiểm soát lạm phát trong những tháng cuối năm. PGS.TS. Ngô Trí Long cũng nhấn mạnh ý nghĩa chia sẻ chi phí với người dân và doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế phải đồng thời thực hiện mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát giá cả.

Đáng chú ý, theo số liệu được dẫn trong bài viết, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng đầu năm 2026 tăng 4,52%. Đây là mức cho thấy dư địa điều hành giá trong những tháng còn lại của năm không còn quá rộng. Khi nhu cầu tiêu dùng thường tăng mạnh vào dịp cuối năm, hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa được đẩy nhanh, cùng với áp lực từ tỷ giá và giá năng lượng thế giới, nguy cơ gia tăng chi phí có thể xuất hiện đồng thời ở nhiều lĩnh vực.

Trong hoàn cảnh đó, giảm chi phí năng lượng có ý nghĩa như một giải pháp chủ động tác động vào một trong những nhóm đầu vào quan trọng nhất của nền kinh tế. Chính sách không chỉ hướng đến việc giảm một khoản chi tiêu trước mắt mà còn góp phần hạn chế sự tích tụ của áp lực chi phí trong chuỗi cung ứng.

Giảm giá điện: Tác động trực tiếp và hiệu ứng lan tỏa đến sản xuất

Điện năng là đầu vào không thể thiếu trong hầu hết hoạt động kinh tế. Khác với một số loại chi phí có thể điều chỉnh linh hoạt theo quy mô sản xuất, nhu cầu sử dụng điện của doanh nghiệp thường gắn chặt với công nghệ, dây chuyền, thiết bị và cường độ vận hành. Đối với các ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng, biến động giá điện có thể ảnh hưởng đáng kể đến giá thành sản phẩm và khả năng cạnh tranh.

Việc giảm 2% giá bán lẻ điện bình quân vì thế có hai lớp tác động cơ bản. Lớp thứ nhất là tác động trực tiếp đến chi phí sử dụng điện của hộ gia đình, cơ sở sản xuất và đơn vị kinh doanh. Lớp thứ hai là tác động gián tiếp thông qua việc giảm giá thành sản xuất, từ đó tạo điều kiện để doanh nghiệp điều chỉnh giá bán hoặc cải thiện biên lợi nhuận.

Theo tính toán được chuyên gia Nguyễn Tiến Thỏa đề cập, việc giảm giá điện có thể giúp giá thành sản xuất của ngành thép giảm khoảng 0,12%, xi măng giảm khoảng 0,3% và dệt may giảm khoảng 0,2%. Mặc dù tỷ lệ tiết giảm ở từng ngành không lớn, nhưng cần đặt các con số này trong tương quan với quy mô sản xuất và mức độ sử dụng năng lượng của toàn nền kinh tế. Khi được áp dụng trên một lượng sản phẩm lớn, mức tiết giảm nhỏ ở đơn vị sản phẩm vẫn có thể tạo ra giá trị đáng kể về tổng chi phí.

Đặc biệt, đối với những doanh nghiệp có biên lợi nhuận thấp, thường xuyên chịu sức ép cạnh tranh về giá, mỗi khoản chi phí đầu vào được tiết giảm đều có ý nghĩa. Doanh nghiệp có thể sử dụng phần chi phí tiết kiệm được để duy trì giá bán, cải thiện khả năng cạnh tranh, bổ sung nguồn lực cho hoạt động đổi mới công nghệ hoặc đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm.

Ở góc độ thị trường, giảm giá điện còn góp phần hạn chế nguy cơ chuyển toàn bộ chi phí đầu vào tăng cao sang người tiêu dùng. Khi chi phí sản xuất được kiểm soát, doanh nghiệp có thêm dư địa để ổn định giá bán, tránh tạo ra những đợt điều chỉnh giá đồng loạt trong chuỗi cung ứng.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận một cách thực tế rằng mức giảm 2% giá điện bình quân không đồng nghĩa mọi hộ sử dụng điện và mọi doanh nghiệp đều được giảm đúng 2% hóa đơn. Mức chi phí thực tế phụ thuộc vào cơ cấu giá áp dụng, sản lượng tiêu thụ, nhóm khách hàng và các thành phần chi phí khác. Do đó, hiệu quả chính sách cần được đánh giá trên cơ sở tác động thực tế đến từng nhóm đối tượng, thay vì chỉ căn cứ vào tỷ lệ điều chỉnh bình quân.

Đối với người dân, giá điện là một khoản chi tiêu thiết yếu, có ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách gia đình. Trong bối cảnh giá thực phẩm, dịch vụ, giáo dục, y tế và nhiều khoản sinh hoạt khác có xu hướng tăng theo thời điểm, việc giảm giá điện góp phần giảm bớt gánh nặng chi tiêu, nhất là đối với những hộ có thu nhập thấp, người lao động và gia đình đông thành viên.

Việc tiếp tục duy trì chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ gia đình chính sách cũng có ý nghĩa quan trọng. Đây là cách tiếp cận kết hợp giữa điều hành giá theo tín hiệu thị trường với bảo đảm an sinh xã hội, giúp chính sách năng lượng không chỉ phục vụ mục tiêu kinh tế mà còn hướng đến công bằng trong tiếp cận các dịch vụ thiết yếu.

Về dài hạn, giảm giá điện chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng với nâng cao hiệu quả sản xuất, truyền tải và phân phối điện; giảm tổn thất năng lượng; đa dạng hóa nguồn cung và khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm. Một nền kinh tế có cường độ sử dụng năng lượng cao sẽ luôn dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường năng lượng. Vì vậy, bên cạnh điều chỉnh giá, chuyển đổi mô hình sử dụng năng lượng theo hướng hiệu quả và bền vững cần được coi là nhiệm vụ chiến lược.

Giảm thuế xăng: Hạ áp lực chi phí vận tải và lưu thông hàng hóa

Nếu điện năng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sản xuất công nghiệp và sinh hoạt, thì xăng dầu lại có tính lan tỏa rất mạnh trong hệ thống vận tải, logistics và lưu thông hàng hóa. Giá xăng dầu không chỉ ảnh hưởng đến chi phí đi lại của người dân mà còn tác động đến giá cước vận chuyển nguyên liệu, hàng hóa, dịch vụ giao nhận và nhiều hoạt động kinh tế khác.

Đặc điểm đáng chú ý của chi phí xăng dầu là khả năng truyền dẫn nhanh vào giá thành của nhiều loại sản phẩm. Một mặt hàng có thể không sử dụng xăng dầu trực tiếp trong quá trình sản xuất nhưng vẫn phải chịu tác động thông qua vận chuyển nguyên liệu, phân phối thành phẩm và các dịch vụ hỗ trợ. Do đó, khi giá nhiên liệu tăng, áp lực chi phí có thể lan truyền từ doanh nghiệp vận tải sang nhà sản xuất, nhà phân phối và cuối cùng là người tiêu dùng.

Việc đưa thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các loại xăng về mức 0% từ ngày 1/11/2026 được kỳ vọng tạo ra tác động giảm giá bán lẻ. Theo tính toán được dẫn trong bài viết của Báo Điện tử Chính phủ, chính sách này có thể giúp giá xăng giảm khoảng 1.500-1.700 đồng/lít. Đây là mức điều chỉnh có ý nghĩa đối với người tiêu dùng và các doanh nghiệp sử dụng nhiên liệu với sản lượng lớn.

Đối với lĩnh vực vận tải, chi phí nhiên liệu thường chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí hoạt động. Khi giá xăng giảm, doanh nghiệp vận tải có cơ hội tiết giảm chi phí khai thác phương tiện, giảm áp lực duy trì giá cước và cải thiện hiệu quả kinh doanh. Đối với ngành logistics, tác động này có thể lan tỏa tới chi phí vận chuyển hàng hóa giữa các vùng sản xuất, trung tâm phân phối và thị trường tiêu thụ.

Trong nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, năng lực logistics và chi phí lưu thông đóng vai trò quan trọng đối với sức cạnh tranh của hàng hóa. Chi phí vận tải cao không chỉ làm tăng giá bán trong nước mà còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu. Vì vậy, giảm chi phí nhiên liệu có thể góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn có khả năng chống chịu hạn chế trước biến động chi phí.

Ở góc độ tiêu dùng, giá xăng giảm giúp người dân tiết kiệm một phần chi phí đi lại, đồng thời có thể tạo hiệu ứng tích cực đối với sức mua. Khi khoản chi thiết yếu giảm xuống, một phần thu nhập khả dụng có thể được chuyển sang các nhu cầu tiêu dùng khác. Nếu được duy trì trong một thời gian đủ dài và kết hợp với các yếu tố hỗ trợ thu nhập, tác động này có thể góp phần kích thích tổng cầu.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa việc giảm giá nhiên liệu và việc giảm giá các mặt hàng, dịch vụ có sử dụng nhiên liệu. Giá xăng giảm không tự động dẫn đến giá cước vận tải, giá thực phẩm hay giá hàng tiêu dùng giảm tương ứng. Mức độ truyền dẫn phụ thuộc vào tỷ trọng nhiên liệu trong cơ cấu chi phí, hợp đồng kinh doanh, mức độ cạnh tranh và cách thức doanh nghiệp điều chỉnh giá bán.

Đây là vấn đề cần được quan tâm trong tổ chức thực thi chính sách. Nếu chi phí đầu vào giảm nhưng giá đầu ra không có sự điều chỉnh hợp lý, lợi ích của chính sách có thể chủ yếu tập trung ở một số khâu trung gian, trong khi người tiêu dùng chưa được thụ hưởng đầy đủ. Vì vậy, minh bạch cơ cấu giá, tăng cường cạnh tranh và giám sát thị trường là những điều kiện quan trọng để chính sách giảm thuế thực sự đi vào đời sống.

Kiểm soát lạm phát: Không chỉ là giảm giá một số mặt hàng

Lạm phát là hiện tượng tăng giá chung của hàng hóa và dịch vụ trong một khoảng thời gian, phản ánh sự thay đổi tương quan giữa cung, cầu, chi phí sản xuất và các yếu tố tiền tệ. Vì vậy, việc giảm giá một số mặt hàng thiết yếu có thể hỗ trợ kiềm chế CPI nhưng không đồng nghĩa với việc mọi áp lực lạm phát đều được giải quyết.

Theo đánh giá của các chuyên gia được Báo Điện tử Chính phủ dẫn lại, CPI bình quân 9 tháng đầu năm 2026 tăng 4,52%. Trong những tháng cuối năm, nhiều yếu tố có thể tiếp tục gây sức ép lên giá cả. Nhu cầu tiêu dùng thường gia tăng vào dịp cuối năm và Tết Nguyên đán; hoạt động giải ngân đầu tư công, mở rộng sản xuất và tăng trưởng tín dụng có thể thúc đẩy tổng cầu; trong khi biến động giá năng lượng thế giới và tỷ giá có khả năng làm gia tăng chi phí nhập khẩu.

Điều này cho thấy, điều hành lạm phát trong giai đoạn cuối năm cần được tiếp cận theo hướng chủ động, linh hoạt và phối hợp nhiều công cụ. Giảm giá điện, giảm thuế xăng là những biện pháp tác động vào phía chi phí, nhưng hiệu quả chung còn phụ thuộc vào khả năng kiểm soát các yếu tố khác.

Trước hết, cần bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa thiết yếu. Khi nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh, nếu nguồn cung không được chuẩn bị đầy đủ, giá cả có thể tăng ngay cả khi chi phí năng lượng giảm. Đối với các mặt hàng thực phẩm, nông sản, hàng tiêu dùng và nguyên liệu sản xuất, việc chủ động kế hoạch dự trữ, phân phối và lưu thông có vai trò đặc biệt quan trọng.

Thứ hai, cần phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ một cách hợp lý. Chính sách tiền tệ cần bảo đảm ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát tín dụng phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế và hạn chế dòng vốn chảy vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Trong khi đó, chính sách tài khóa cần hướng nguồn lực vào những lĩnh vực có khả năng tạo năng lực sản xuất mới, cải thiện hạ tầng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Thứ ba, cần kiểm soát tốt các mặt hàng và dịch vụ do Nhà nước định giá. Việc điều chỉnh giá các dịch vụ công thiết yếu cần được tính toán trên cơ sở hài hòa giữa yêu cầu bù đắp chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ và khả năng chi trả của người dân. Trong bối cảnh CPI đã tăng ở mức tương đối cao, sự phối hợp về thời điểm và lộ trình điều chỉnh giá có ý nghĩa quan trọng nhằm tránh tạo ra những cú sốc cộng hưởng đối với mặt bằng giá.

Thứ tư, cần tăng cường công tác dự báo. Trong một nền kinh tế có độ mở lớn, những biến động từ bên ngoài có thể nhanh chóng truyền vào trong nước thông qua giá dầu thô, giá nguyên liệu, chi phí vận tải quốc tế và tỷ giá. Việc xây dựng các kịch bản điều hành theo từng mức độ biến động sẽ giúp cơ quan quản lý chủ động lựa chọn công cụ ứng phó, thay vì chỉ phản ứng khi áp lực giá đã xuất hiện.

Mục tiêu kiểm soát CPI trong khoảng 4,5-5% như nhận định của chuyên gia Nguyễn Tiến Thỏa được Báo Điện tử Chính phủ dẫn lại cần được nhìn nhận trong tổng thể yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô. Quan trọng hơn một con số mục tiêu là chất lượng của quá trình kiểm soát lạm phát: duy trì sức mua của đồng tiền, bảo vệ thu nhập thực tế của người dân, hạn chế bất ổn chi phí và tạo môi trường dự báo được cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Từ lợi ích trước mắt đến năng lực cạnh tranh dài hạn

Một trong những điểm cần nhấn mạnh khi đánh giá chính sách giảm giá điện và giảm thuế xăng là không nên chỉ đo lường hiệu quả bằng mức giảm CPI trong ngắn hạn. Giá năng lượng thấp hơn có thể hỗ trợ doanh nghiệp trước mắt, nhưng lợi ích lâu dài chỉ được hình thành khi phần chi phí tiết kiệm được chuyển hóa thành năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh.

Đối với doanh nghiệp sản xuất, đây là cơ hội để rà soát cơ cấu chi phí, tối ưu hóa quy trình vận hành và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng. Thay vì chỉ sử dụng khoản chi phí giảm được để bù đắp khó khăn trước mắt, doanh nghiệp có thể đầu tư vào hệ thống quản lý năng lượng, thiết bị hiệu suất cao, tự động hóa và chuyển đổi số trong quản trị sản xuất.

Đặc biệt, những ngành có mức tiêu thụ năng lượng lớn cần coi tiết kiệm năng lượng là một cấu phần trong chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng chú trọng tiêu chuẩn môi trường, phát thải và trách nhiệm chuỗi cung ứng, việc giảm cường độ năng lượng trên mỗi đơn vị sản phẩm không chỉ giúp giảm chi phí mà còn nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu mới của thị trường quốc tế.

Đối với lĩnh vực vận tải và logistics, việc giá nhiên liệu giảm cần được kết hợp với tái cơ cấu phương thức vận tải, nâng cao hiệu suất sử dụng phương tiện và phát triển hạ tầng kết nối. Một hệ thống logistics hiệu quả không thể chỉ dựa vào nhiên liệu giá thấp mà cần được xây dựng trên nền tảng quy hoạch đồng bộ, giảm thời gian lưu thông, hạn chế vận tải rỗng và ứng dụng công nghệ trong quản lý chuỗi cung ứng.

Ở tầm vĩ mô, chính sách giá năng lượng cũng cần được đặt trong mối quan hệ với an ninh năng lượng quốc gia và mục tiêu chuyển dịch năng lượng. Việc duy trì nguồn cung ổn định, đa dạng hóa nguồn năng lượng, phát triển năng lượng tái tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng sẽ giúp nền kinh tế giảm mức độ phụ thuộc vào biến động bên ngoài.

Điều này đặc biệt quan trọng khi thị trường năng lượng thế giới thường xuyên chịu ảnh hưởng từ xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động nhu cầu và thay đổi chính sách của các nền kinh tế lớn. Một nền kinh tế có khả năng chống chịu tốt không chỉ là nền kinh tế có thể giảm giá năng lượng trong một thời điểm, mà còn là nền kinh tế có khả năng duy trì nguồn cung, kiểm soát rủi ro và sử dụng năng lượng hiệu quả trong dài hạn.

Hoàn thiện cơ chế điều hành để chính sách đi vào thực chất

Để các quyết sách giảm giá điện và giảm thuế xăng phát huy hiệu quả cao nhất, yêu cầu đặt ra không chỉ là tổ chức thực hiện đúng thời điểm mà còn phải bảo đảm tính minh bạch, nhất quán và khả năng giám sát trong toàn bộ quá trình truyền dẫn chính sách.

Trước hết, cần nâng cao chất lượng công khai thông tin về cơ cấu giá năng lượng. Người dân và doanh nghiệp cần được tiếp cận đầy đủ, dễ hiểu về căn cứ điều chỉnh giá, các thành phần cấu thành giá và phạm vi tác động của chính sách. Thông tin minh bạch sẽ giúp hạn chế tâm lý suy diễn, tạo điều kiện để thị trường chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng.

Đối với giá xăng dầu, cần tiếp tục bảo đảm cơ chế điều hành linh hoạt, phản ánh hợp lý biến động của thị trường thế giới, đồng thời duy trì các công cụ cần thiết để hạn chế những cú sốc quá lớn đối với thị trường trong nước. Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh xăng dầu cần được thực hiện thường xuyên, bảo đảm nguồn cung, chất lượng và quyền lợi của người tiêu dùng.

Đối với ngành điện, việc điều chỉnh giá cần gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống. Cần chú trọng minh bạch chi phí, giảm tổn thất điện năng, nâng cao hiệu quả quản trị và phát triển hạ tầng truyền tải. Chính sách giá hợp lý phải đồng thời bảo đảm khả năng tiếp cận điện năng của người dân, tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất và duy trì tính bền vững tài chính của hệ thống điện.

Một vấn đề khác là cần xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả chính sách sau khi triển khai. Không nên chỉ dừng lại ở việc thống kê mức giảm giá điện, mức giảm giá xăng hay tác động dự kiến đến CPI. Cần theo dõi cụ thể mức tiết giảm chi phí thực tế của doanh nghiệp, sự thay đổi giá cước vận tải, giá hàng hóa thiết yếu và mức độ cải thiện chi tiêu của các nhóm hộ gia đình.

Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý có thể xác định rõ khâu nào đã truyền dẫn tốt lợi ích chính sách, khâu nào còn độ trễ hoặc chưa phản ánh đầy đủ mức giảm chi phí. Đây là cơ sở quan trọng để điều chỉnh giải pháp điều hành, tăng cường giám sát cạnh tranh và bảo đảm lợi ích chính sách được phân bổ hợp lý hơn.

Bên cạnh đó, cần chú trọng các chính sách hỗ trợ có mục tiêu. Không phải mọi doanh nghiệp đều chịu tác động giống nhau từ biến động giá năng lượng. Những doanh nghiệp sử dụng nhiều năng lượng, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở sản xuất ở địa bàn khó khăn có thể chịu sức ép lớn hơn về chi phí và khả năng tiếp cận vốn. Vì vậy, các giải pháp hỗ trợ tiết kiệm năng lượng, đổi mới thiết bị, tư vấn quản trị chi phí và nâng cao năng suất cần được thiết kế phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Đối với người dân, chính sách hỗ trợ cần hướng tới những nhóm dễ bị tổn thương trước biến động giá cả. Việc duy trì hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo, hộ chính sách, đồng thời tăng cường bảo vệ người tiêu dùng và kiểm soát các hành vi đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý sẽ giúp chính sách điều hành giá gắn chặt hơn với mục tiêu an sinh xã hội.

Kiên định mục tiêu ổn định vĩ mô, tạo dư địa cho tăng trưởng

Giảm giá điện và giảm thuế xăng từ ngày 1/11/2026 là những giải pháp có ý nghĩa trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn cuối năm với nhiều áp lực đan xen. Tác động của chính sách không chỉ thể hiện ở khoản chi phí được tiết giảm trực tiếp mà còn ở khả năng hạn chế sự lan truyền của chi phí năng lượng sang giá thành sản phẩm, dịch vụ và đời sống dân cư.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng đây không phải là giải pháp duy nhất và cũng không thể thay thế toàn bộ các công cụ điều hành lạm phát. Hiệu quả chính sách phụ thuộc vào sự phối hợp đồng bộ giữa điều hành giá, chính sách tài khóa, tiền tệ, bảo đảm nguồn cung hàng hóa, quản lý thị trường và nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp.

Về dài hạn, yêu cầu đặt ra là chuyển từ tư duy ứng phó với biến động giá năng lượng sang chủ động xây dựng một nền kinh tế sử dụng năng lượng hiệu quả, có khả năng chống chịu tốt hơn trước các cú sốc bên ngoài. Khi chi phí năng lượng được kiểm soát bằng cả công cụ điều hành hợp lý và năng lực sản xuất tiên tiến, nền kinh tế sẽ có thêm dư địa để thúc đẩy đầu tư, mở rộng sản xuất, cải thiện sức cạnh tranh và nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Trong điều hành kinh tế vĩ mô, ổn định giá cả và thúc đẩy tăng trưởng không phải là hai mục tiêu đối lập tuyệt đối. Vấn đề nằm ở việc lựa chọn đúng công cụ, đúng thời điểm và bảo đảm sự phối hợp chính sách có hiệu quả. Giảm chi phí năng lượng, nếu được triển khai nhất quán và gắn với cải cách cơ cấu, sẽ không chỉ góp phần kiềm chế lạm phát cuối năm 2026 mà còn tạo nền tảng cho một môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch và thuận lợi hơn.

Suy cho cùng, giá năng lượng hợp lý không chỉ là lợi ích của người tiêu dùng hay doanh nghiệp trong một thời điểm cụ thể. Đó còn là điều kiện quan trọng để nâng cao năng suất toàn nền kinh tế, củng cố sức cạnh tranh quốc gia và bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội.

TS Hoàng Hiệp Phú

____________________________________________

Tài liệu tham khảo

  1. Báo Điện tử Chính phủ (2026), “Giảm giá điện, giảm thuế xăng dầu góp phần kiềm chế áp lực lạm phát cuối năm”, ngày 1/11/2026, https://baochinhphu.vn/giam-gia-dien-giam-thue-xang-dau-gop-phan-kiem-che-ap-luc-lam-phat-cuoi-nam-102261101123406951.htm.

  2. Quốc hội (2014), Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12 và các văn bản sửa đổi, bổ sung có liên quan.

  3. Quốc hội (2020), Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14.

  4. Quốc hội (2022), Luật Giá số 16/2023/QH15.

  5. Quốc hội (2024), Luật Điện lực số 61/2024/QH15.

  6. Tổng cục Thống kê (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026.

  7. Chính phủ (2026), Các văn bản chỉ đạo, điều hành về quản lý giá, bảo đảm cân đối cung cầu và ổn định kinh tế vĩ mô.