11/07/2026 lúc 00:22 (GMT+7)
Breaking News

Khơi dậy khát vọng cống hiến, đổi mới sáng tạo: Động lực xây dựng Quân đội hiện đại trong kỷ nguyên mới

1. MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã khẳng định đây là một trong những động lực then chốt để đất nước bứt phá trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo không còn được hiểu đơn thuần là hoạt động nghiên cứu khoa học hay tạo ra công nghệ mới, mà trở thành quá trình chuyển hóa tri thức thành các giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, năng suất lao động và chất lượng thực hiện nhiệm vụ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Đối với lĩnh vực quốc phòng, đổi mới sáng tạo vừa là yêu cầu khách quan của tiến trình hiện đại hóa Quân đội, vừa là nhân tố góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và khả năng làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại. Trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao, tác chiến đa miền và chuyển đổi số quân sự đang trở thành xu thế phát triển của nhiều quốc gia, việc ứng dụng khoa học, công nghệ vào huấn luyện, nghiên cứu, bảo đảm kỹ thuật, hậu cần, y tế quân sự và quản lý điều hành ngày càng có ý nghĩa quyết định. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy công nghệ không tự tạo ra sức mạnh nếu thiếu đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn, tư duy đổi mới và khát vọng cống hiến. Chính con người mới là chủ thể sáng tạo, là nhân tố chuyển hóa thành tựu khoa học, công nghệ thành năng lực thực hiện nhiệm vụ, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy phong trào thi đua "Lao động giỏi, Lao động sáng tạo" trong Công đoàn Quân đội cùng Giải thưởng Lao động sáng tạo lần thứ I đã tạo động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, cải tiến kỹ thuật và ứng dụng khoa học, công nghệ trong toàn quân. Hàng chục nghìn sáng kiến được hình thành từ thực tiễn huấn luyện, sản xuất, sửa chữa, bảo đảm kỹ thuật, y tế và giáo dục đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ và tiết kiệm đáng kể nguồn lực. Những kết quả đó khẳng định đổi mới sáng tạo không chỉ là hoạt động của các viện nghiên cứu hay cơ sở khoa học chuyên ngành mà đang từng bước trở thành động lực phát triển trong nhiều cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại trong giai đoạn mới, việc khuyến khích các sáng kiến riêng lẻ là chưa đủ; điều quan trọng hơn là xây dựng một môi trường thuận lợi, cơ chế khuyến khích phù hợp và văn hóa đổi mới sáng tạo để khơi dậy khát vọng cống hiến, phát huy trí tuệ tập thể và lan tỏa tinh thần sáng tạo trong toàn quân.

Khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo, phát huy trí tuệ và khát vọng cống hiến của cán bộ, chiến sĩ là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại trong giai đoạn mới.

Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của khát vọng cống hiến và đổi mới sáng tạo trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại; làm rõ những kết quả đạt được, những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh mới, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm phát huy hiệu quả phong trào sáng tạo, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong Quân đội, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và khả năng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện mục tiêu đó, bài viết sử dụng các phương pháp phân tích chính sách, phân tích lý luận về đổi mới sáng tạo trong khu vực công và lĩnh vực quốc phòng; tổng hợp, hệ thống hóa các văn kiện của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng cùng các kết quả nghiên cứu liên quan; đồng thời kết hợp nghiên cứu trường hợp điển hình và so sánh kinh nghiệm quốc tế nhằm bảo đảm tính khách quan, khoa học và gắn kết chặt chẽ giữa cơ sở lý luận với thực tiễn.

2. KHƠI DẬY KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO - NỀN TẢNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI HIỆN ĐẠI

Trong lý luận quản trị hiện đại, nguồn lực con người ngày càng được coi là yếu tố quyết định năng lực đổi mới sáng tạo của mọi tổ chức. Nếu trước đây lợi thế cạnh tranh chủ yếu dựa trên vốn, tài nguyên hay công nghệ thì trong nền kinh tế tri thức, tri thức, kỹ năng và khả năng sáng tạo của con người mới là nhân tố tạo nên giá trị khác biệt và sức phát triển bền vững. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, yêu cầu xây dựng lực lượng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại không chỉ đặt ra nhiệm vụ hiện đại hóa vũ khí, trang bị mà còn đòi hỏi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực làm chủ khoa học, công nghệ và tinh thần đổi mới sáng tạo. Chính vì vậy, khơi dậy khát vọng cống hiến và phát huy trí tuệ của cán bộ, chiến sĩ cần được nhìn nhận là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong giai đoạn mới.

Theo cách tiếp cận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), đổi mới sáng tạo không chỉ được hiểu là việc tạo ra công nghệ mới hay sản phẩm mới mà là quá trình tạo lập và ứng dụng các tri thức, ý tưởng hoặc phương thức mới nhằm tạo ra giá trị và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức. Cách tiếp cận này mở rộng phạm vi của đổi mới sáng tạo từ lĩnh vực khoa học, công nghệ sang các hoạt động quản trị, tổ chức, quy trình và phương thức vận hành. Đồng quan điểm đó, Peter Drucker cho rằng đổi mới sáng tạo là "sự thay đổi có mục đích" (Innovation is purposeful change), nghĩa là mọi cải tiến đều hướng tới giải quyết những vấn đề thực tiễn và tạo ra giá trị mới cho tổ chức.

Vận dụng vào lĩnh vực quốc phòng, đổi mới sáng tạo không nên chỉ được nhìn nhận qua số lượng sáng chế hay các công trình nghiên cứu quy mô lớn mà cần được hiểu là quá trình liên tục cải tiến mọi mặt hoạt động quân sự. Điều đó bao gồm đổi mới phương pháp huấn luyện sát thực tế chiến đấu; ứng dụng công nghệ số trong chỉ huy, điều hành và quản lý; cải tiến quy trình bảo đảm kỹ thuật, hậu cần; nâng cao hiệu quả quản trị đơn vị; phát triển các giải pháp phục vụ nghiên cứu khoa học quân sự, y học quân sự và công nghiệp quốc phòng. Không ít sáng kiến tuy có quy mô nhỏ nhưng nếu giải quyết hiệu quả những khó khăn nảy sinh trong thực tiễn sẽ góp phần nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ, tiết kiệm thời gian, nhân lực và nguồn lực. Chính sự tích lũy của những cải tiến liên tục đó tạo nên năng lực đổi mới sáng tạo của một tổ chức hiện đại.

Đặc điểm của Quân đội cũng tạo nên sự khác biệt trong động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo so với khu vực doanh nghiệp. Nếu trong khu vực sản xuất, đổi mới sáng tạo thường gắn với mục tiêu gia tăng lợi nhuận, mở rộng thị phần và nâng cao hiệu quả kinh doanh thì trong Quân đội, động lực sáng tạo trước hết bắt nguồn từ trách nhiệm chính trị, tinh thần phụng sự Tổ quốc, danh dự quân nhân và yêu cầu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đây là yếu tố tạo nên bản chất riêng của hoạt động đổi mới sáng tạo trong môi trường quân sự, nơi mọi sáng kiến đều hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm kỹ thuật, bảo vệ tính mạng cán bộ, chiến sĩ và sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc phòng.

Từ góc độ đó, khát vọng cống hiến không chỉ là phẩm chất đạo đức mà còn là nguồn lực tinh thần quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong toàn quân. Khi mỗi cán bộ, chiến sĩ luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của Quân đội và của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, họ sẽ chủ động tìm tòi, nghiên cứu và đề xuất những giải pháp mới nhằm nâng cao chất lượng công tác. Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy phần lớn các sáng kiến có giá trị trong Quân đội đều xuất phát từ chính những khó khăn, vướng mắc của quá trình huấn luyện, bảo đảm kỹ thuật, khám chữa bệnh, quản lý hoặc sản xuất quốc phòng. Đó không phải là kết quả của những yêu cầu mang tính áp đặt mà được hình thành từ tinh thần trách nhiệm, ý thức nghề nghiệp và mong muốn cống hiến của đội ngũ cán bộ, quân nhân và người lao động.

Quan điểm này cũng thống nhất với tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước. Người nhiều lần khẳng định thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất. Trong tư tưởng của Người, thi đua không đơn thuần là phong trào mang tính thời điểm mà là phương thức khơi dậy sức mạnh của quần chúng, phát huy trí tuệ tập thể để hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng. Trong điều kiện hiện nay, các phong trào thi đua về nghiên cứu khoa học, lao động sáng tạo và cải tiến kỹ thuật trong Quân đội chính là sự kế thừa và phát triển tư tưởng đó, góp phần chuyển hóa tinh thần trách nhiệm thành những sáng kiến cụ thể phục vụ nhiệm vụ quốc phòng. Điều quan trọng là phong trào thi đua cần hướng tới chất lượng, hiệu quả và khả năng ứng dụng thực tiễn, thay vì chạy theo số lượng hoặc thành tích hình thức.

Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy đổi mới sáng tạo chỉ có thể phát triển bền vững khi trở thành một bộ phận của văn hóa tổ chức. Việc tổ chức các cuộc thi, giải thưởng hay phong trào thi đua có ý nghĩa khuyến khích ban đầu nhưng chưa đủ để tạo nên năng lực đổi mới lâu dài nếu thiếu một môi trường làm việc khuyến khích học hỏi, chia sẻ tri thức và cải tiến liên tục.

Theo mô hình "Tổ chức học tập" (Learning Organization) của Peter Senge, những tổ chức có khả năng phát triển bền vững là những tổ chức biết tạo điều kiện để mọi thành viên không ngừng học tập, trao đổi kinh nghiệm, tích lũy tri thức và cùng nhau giải quyết các vấn đề phát sinh. Giá trị của đổi mới sáng tạo vì vậy không nằm ở một vài cá nhân xuất sắc mà ở khả năng biến tri thức của từng cá nhân thành năng lực chung của cả tổ chức.

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo cần được triển khai đồng bộ thông qua việc hình thành môi trường khuyến khích cán bộ, chiến sĩ mạnh dạn đề xuất sáng kiến; xây dựng cơ chế đánh giá khách quan, ghi nhận kịp thời các đóng góp; tạo điều kiện để những sáng kiến có giá trị được hoàn thiện, nhân rộng và ứng dụng vào thực tiễn. Đồng thời, cần tăng cường kết nối giữa các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu, doanh nghiệp quốc phòng và các đơn vị cơ sở nhằm thúc đẩy chia sẻ tri thức, phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và nâng cao năng lực nghiên cứu ứng dụng trong toàn quân. Khi đổi mới sáng tạo trở thành một giá trị văn hóa được nuôi dưỡng thường xuyên, nó sẽ tạo ra động lực nội sinh để Quân đội không ngừng nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện phát triển mới.

Có thể khẳng định rằng, hiện đại hóa Quân đội không chỉ là quá trình đầu tư trang bị kỹ thuật tiên tiến mà trước hết là quá trình phát triển con người. Đổi mới sáng tạo, xét đến cùng, là sự đổi mới trong tư duy, phương pháp làm việc và khả năng vận dụng tri thức để giải quyết hiệu quả các yêu cầu thực tiễn. Vì vậy, khơi dậy khát vọng cống hiến, phát huy trí tuệ của cán bộ, chiến sĩ và xây dựng văn hóa học hỏi, sáng tạo trong toàn quân chính là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và năng lực thích ứng của Quân đội nhân dân Việt Nam trước những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.

3. TỪ PHONG TRÀO THI ĐUA ĐẾN NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO: NHỮNG CHUYỂN BIẾN TÍCH CỰC TRONG THỰC TIỄN QUÂN ĐỘI

Nếu cơ sở lý luận khẳng định con người là trung tâm của đổi mới sáng tạo thì thực tiễn trong Quân đội nhân dân Việt Nam những năm gần đây đã cho thấy quá trình chuyển hóa tư duy đó thành những kết quả cụ thể. Đổi mới sáng tạo không còn được giới hạn trong các viện nghiên cứu hay những công trình khoa học quy mô lớn mà từng bước lan tỏa đến các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp quốc phòng và các lĩnh vực bảo đảm hoạt động quân sự. Điều đáng chú ý là sự phát triển này không chỉ phản ánh ở số lượng sáng kiến ngày càng gia tăng mà quan trọng hơn là sự thay đổi về chất trong tư duy nghiên cứu và ứng dụng, chuyển từ mục tiêu tạo ra sáng kiến để hoàn thành phong trào sang giải quyết trực tiếp những vấn đề đặt ra từ thực tiễn công tác, huấn luyện, sản xuất và bảo đảm kỹ thuật. Đây là dấu hiệu cho thấy phong trào thi đua sáng tạo đang từng bước chuyển hóa thành năng lực đổi mới sáng tạo của tổ chức.

Một trong những chuyển biến rõ nét nhất là xu hướng các sáng kiến ngày càng xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của đơn vị thay vì thiên về tính hình thức hoặc chỉ phục vụ mục tiêu báo cáo thành tích. Theo số liệu của Bộ Quốc phòng, trong giai đoạn 2023–2025, toàn quân đã có gần 20.800 sáng kiến được ứng dụng vào thực tiễn, mang lại giá trị làm lợi gần 1.000 tỷ đồng. Những con số này không chỉ phản ánh quy mô của phong trào thi đua mà còn cho thấy hiệu quả kinh tế - kỹ thuật ngày càng rõ nét của hoạt động nghiên cứu, cải tiến trong toàn quân.

Điều đáng quan tâm hơn cả không nằm ở số lượng sáng kiến mà ở sự thay đổi trong cách tiếp cận nghiên cứu. Nếu trước đây không ít sáng kiến được thực hiện chủ yếu nhằm đáp ứng yêu cầu thi đua hoặc cải tiến ở phạm vi hẹp thì hiện nay nhiều đề tài được hình thành trực tiếp từ những "điểm nghẽn" trong thực tiễn công tác. Các sáng kiến hướng đến giải quyết những vấn đề cụ thể như rút ngắn thời gian bảo dưỡng trang bị, nâng cao hiệu quả huấn luyện, giảm tiêu hao vật tư, tăng độ an toàn trong khám chữa bệnh hay tối ưu hóa quy trình quản lý. Điều này phản ánh sự dịch chuyển từ tư duy nghiên cứu theo khả năng sang nghiên cứu theo nhu cầu, lấy hiệu quả thực tiễn làm tiêu chí đánh giá giá trị của đổi mới sáng tạo. Đây cũng là xu hướng phù hợp với quan điểm quản trị đổi mới hiện đại, trong đó giá trị của một sáng kiến không được đo bằng mức độ phức tạp về kỹ thuật mà bằng khả năng tạo ra những thay đổi tích cực đối với hoạt động của tổ chức.

Thực tiễn cũng cho thấy giá trị của đổi mới sáng tạo trong Quân đội không nhất thiết được quyết định bởi quy mô đầu tư hay tính phức tạp của công nghệ mà trước hết nằm ở hiệu quả ứng dụng. Nhiều sáng kiến có quy mô nhỏ nhưng mang lại tác động thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ và cải thiện điều kiện làm việc của cán bộ, chiến sĩ. Điển hình là sáng kiến ứng dụng công nghệ in 3D để thiết kế thiết bị sắp xếp dây điện châm tại Khoa Phục hồi chức năng, Bệnh viện Quân y 354. Xuất phát từ những bất cập trong quá trình điều trị điện châm, nhóm nghiên cứu đã thiết kế một thiết bị đơn giản bằng vật liệu nhựa ABS nhằm sắp xếp hệ thống dây dẫn khoa học hơn, giúp giảm thời gian thao tác, nâng cao mức độ an toàn và tạo thuận lợi cho cả nhân viên y tế lẫn người bệnh. Theo tính toán, sáng kiến này giúp tiết kiệm hơn ba phút cho mỗi lượt điều trị, tương đương gần mười giờ lao động mỗi ngày với quy mô khoảng 150 lượt điều trị.

Giá trị của sáng kiến không nằm ở chi phí đầu tư lớn hay việc tạo ra một công nghệ hoàn toàn mới mà ở khả năng giải quyết hiệu quả một khó khăn cụ thể phát sinh trong hoạt động chuyên môn. Cách tiếp cận này có nhiều điểm tương đồng với triết lý Kaizen của Nhật Bản, coi cải tiến liên tục là động lực nâng cao chất lượng tổ chức. Theo mô hình Kaizen, sự phát triển bền vững không nhất thiết phải bắt đầu từ những đột phá công nghệ quy mô lớn mà được hình thành từ hàng nghìn cải tiến nhỏ, được thực hiện thường xuyên bởi chính những người trực tiếp tham gia quá trình lao động. Khi áp dụng vào môi trường quân sự, tư duy này càng có ý nghĩa bởi nhiều vấn đề trong huấn luyện, bảo đảm kỹ thuật hay khám chữa bệnh có thể được giải quyết hiệu quả thông qua những sáng kiến giản dị nhưng sát với yêu cầu thực tế. Chính quá trình tích lũy liên tục các cải tiến nhỏ sẽ góp phần nâng cao chất lượng tổng thể của tổ chức và tạo dựng năng lực đổi mới sáng tạo lâu dài.

Một điểm nổi bật khác trong giai đoạn hiện nay là phạm vi của hoạt động đổi mới sáng tạo ngày càng được mở rộng, vượt ra ngoài lĩnh vực nghiên cứu khoa học quân sự truyền thống để lan tỏa sang nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống quân đội. Nếu trước đây các sáng kiến chủ yếu tập trung vào cải tiến vũ khí, trang bị hoặc bảo đảm kỹ thuật thì hiện nay đổi mới sáng tạo đã xuất hiện trong y tế quân sự, hậu cần, logistics, giáo dục - đào tạo, công nghệ thông tin, quản trị doanh nghiệp quốc phòng và chuyển đổi số. Điều này phản ánh nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về vai trò của đổi mới sáng tạo như một phương thức nâng cao hiệu quả hoạt động trên toàn hệ thống, thay vì chỉ giới hạn trong lĩnh vực nghiên cứu công nghệ.

Sáng kiến "Áp dụng chứng từ điện tử trong quy trình giao nhận container tại Tân Cảng - Cát Lái" là minh chứng rõ nét cho xu hướng này. Xuất phát từ thực trạng quy trình giao nhận truyền thống còn mất nhiều thời gian, phát sinh khối lượng lớn hồ sơ giấy và chưa đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại, nhóm nghiên cứu đã xây dựng hệ thống giao nhận điện tử, số hóa toàn bộ quy trình xử lý chứng từ và lưu trữ dữ liệu tập trung trên nền tảng số. Sau khi triển khai đồng bộ, hệ thống đã xử lý hơn bốn triệu chứng từ điện tử trong năm 2025, góp phần rút ngắn thời gian làm thủ tục, giảm đáng kể chi phí in ấn, hạn chế sai sót và nâng cao hiệu quả khai thác cảng.

Từ góc nhìn quản trị hiện đại, đây không đơn thuần là ứng dụng công nghệ thông tin mà là quá trình đổi mới mô hình quản lý và tái thiết kế quy trình hoạt động trên nền tảng số. Điều đó cũng phản ánh xu hướng chuyển đổi từ đổi mới sáng tạo dựa trên công nghệ đơn lẻ sang đổi mới sáng tạo mang tính hệ thống, trong đó công nghệ số trở thành công cụ hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị, kết nối dữ liệu và tối ưu hóa quy trình. Sự lan tỏa của các sáng kiến trong nhiều lĩnh vực khác nhau cho thấy đổi mới sáng tạo đang dần trở thành một phương thức làm việc mới trong toàn quân, phù hợp với yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại và thúc đẩy chuyển đổi số quốc phòng.

Những kết quả đạt được thời gian qua cũng khẳng định vai trò quan trọng của các phong trào thi đua và cơ chế khuyến khích trong việc hình thành động lực đổi mới sáng tạo. Các phong trào như "Lao động giỏi, Lao động sáng tạo" hay Giải thưởng Lao động sáng tạo trong Công đoàn Quân đội không chỉ có ý nghĩa tôn vinh các tập thể, cá nhân tiêu biểu mà còn tạo ra diễn đàn để chia sẻ kinh nghiệm, kết nối các nhóm nghiên cứu và lan tỏa những mô hình hiệu quả trong toàn quân. Thông qua các hoạt động đánh giá, tuyển chọn và giới thiệu sáng kiến, nhiều công trình có giá trị đã được biết đến rộng rãi, tạo điều kiện để tiếp tục hoàn thiện, chuyển giao và ứng dụng tại các đơn vị khác.

Tuy nhiên, dưới góc độ quản trị đổi mới, giải thưởng chỉ là một mắt xích trong toàn bộ hệ sinh thái sáng tạo. Điều quan trọng hơn là hình thành cơ chế phát hiện ý tưởng từ thực tiễn, hỗ trợ nghiên cứu, tạo điều kiện thử nghiệm, đánh giá khách quan và nhân rộng các sáng kiến có hiệu quả. Khi cơ chế này được vận hành đồng bộ, phong trào thi đua sẽ không dừng lại ở việc phát động theo từng đợt mà trở thành động lực thường xuyên thúc đẩy mỗi cán bộ, chiến sĩ chủ động tìm tòi, cải tiến và hoàn thiện phương pháp công tác. Đây cũng là cách để chuyển hóa động lực thi đua thành năng lực đổi mới sáng tạo của tổ chức.

Có thể thấy, thực tiễn những năm gần đây đã phản ánh bước chuyển tích cực từ phong trào thi đua sang xây dựng năng lực đổi mới sáng tạo trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Các sáng kiến ngày càng gắn với yêu cầu thực tiễn, phạm vi ứng dụng không ngừng được mở rộng và hiệu quả mang lại ngày càng rõ nét. Tuy nhiên, để đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực phát triển lâu dài, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế khuyến khích nghiên cứu, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ khoa học, tăng cường liên kết giữa các học viện, viện nghiên cứu, doanh nghiệp quốc phòng và các đơn vị cơ sở, đồng thời xây dựng môi trường thuận lợi để những sáng kiến xuất phát từ thực tiễn có thể được phát hiện, hoàn thiện và nhân rộng. Chỉ khi đổi mới sáng tạo trở thành năng lực nội sinh của toàn hệ thống, Quân đội mới có thể phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong bối cảnh phát triển mới.

4. XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG QUÂN ĐỘI: ĐIỀU KIỆN PHÁT HUY HIỆU QUẢ LÂU DÀI

Những kết quả đạt được từ phong trào thi đua "Lao động giỏi, Lao động sáng tạo" và Giải thưởng Lao động sáng tạo trong Công đoàn Quân đội cho thấy tiềm năng đổi mới sáng tạo trong toàn quân là rất lớn. Tuy nhiên, kinh nghiệm của nhiều quốc gia cũng như thực tiễn phát triển khoa học, công nghệ cho thấy, các sáng kiến riêng lẻ dù có giá trị đến đâu cũng khó tạo nên chuyển biến mang tính bền vững nếu thiếu một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ. Theo cách tiếp cận của OECD, đổi mới sáng tạo không phải là kết quả của nỗ lực đơn lẻ mà được hình thành từ sự tương tác giữa thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở nghiên cứu, hạ tầng công nghệ và cơ chế hợp tác. Đối với Quân đội, điều đó càng có ý nghĩa khi yêu cầu xây dựng lực lượng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đòi hỏi phải phát huy đồng thời trí tuệ con người, khoa học, công nghệ và năng lực tổ chức. Vì vậy, để đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, cần từng bước xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thống nhất, trong đó con người là trung tâm, thể chế là nền tảng và công nghệ là công cụ hỗ trợ.

Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phát hiện, hỗ trợ và nhân rộng các sáng kiến xuất phát từ thực tiễn. Đặc thù của hoạt động quân sự là mọi sáng kiến đều hướng đến giải quyết những yêu cầu cụ thể trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm kỹ thuật, hậu cần, quản lý và sản xuất quốc phòng. Vì vậy, giá trị của đổi mới sáng tạo không chỉ nằm ở ý tưởng mới mà quan trọng hơn là khả năng ứng dụng vào thực tiễn và tạo ra hiệu quả rõ rệt trong thực hiện nhiệm vụ. Những năm qua, nhiều sáng kiến đã được triển khai hiệu quả tại cơ sở, song không ít công trình vẫn chủ yếu được áp dụng trong phạm vi hẹp, chưa có điều kiện phổ biến rộng rãi hoặc tiếp tục hoàn thiện để nhân rộng trong toàn quân. Điều này cho thấy bên cạnh việc khuyến khích nghiên cứu, cần xây dựng cơ chế đồng bộ từ khâu phát hiện, đánh giá, lựa chọn, bảo hộ kết quả nghiên cứu đến chuyển giao và ứng dụng phù hợp với đặc thù quốc phòng. Mục tiêu không phải là gia tăng số lượng sáng kiến mà là tạo điều kiện để các giải pháp có giá trị được lan tỏa, trở thành tri thức chung và năng lực chung của toàn quân. Kinh nghiệm của Defense Innovation Unit thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ cho thấy, việc thiết lập cơ chế kết nối nhanh giữa nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng thực tiễn có thể rút ngắn đáng kể khoảng cách từ ý tưởng đến triển khai, qua đó nâng cao hiệu quả đổi mới sáng tạo. Dù điều kiện phát triển của mỗi quốc gia khác nhau, cách tiếp cận lấy nhu cầu thực tiễn làm trung tâm của hoạt động nghiên cứu là kinh nghiệm có thể tham khảo trong quá trình hoàn thiện cơ chế đổi mới sáng tạo của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cùng với hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao cần được xác định là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Trong mọi lĩnh vực, công nghệ chỉ phát huy giá trị khi được làm chủ bởi con người, và trong lĩnh vực quốc phòng điều này càng trở nên quan trọng khi yêu cầu làm chủ các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, công nghệ số và phương thức tác chiến mới ngày càng cao. Phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học, kỹ sư, chuyên gia về trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, dữ liệu lớn, điện tử, tự động hóa và kỹ thuật quốc phòng không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn tạo nền tảng cho năng lực tự chủ về khoa học, công nghệ trong tương lai. Bên cạnh đào tạo chuyên sâu, cần tăng cường liên kết giữa các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu, doanh nghiệp quốc phòng và các đơn vị trực tiếp sử dụng công nghệ để hình thành chu trình khép kín từ nghiên cứu, thử nghiệm đến ứng dụng. Theo OECD, nguồn nhân lực có khả năng học tập liên tục và thích ứng với sự thay đổi của công nghệ là yếu tố quyết định năng lực đổi mới sáng tạo của một tổ chức. Đối với Quân đội, xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, tư duy đổi mới và khả năng tiếp cận công nghệ hiện đại chính là đầu tư cho sức mạnh lâu dài của lực lượng.

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cũng cần gắn chặt với phát triển hạ tầng số và ứng dụng các công nghệ mới vào thực tiễn hoạt động quân sự. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, mô phỏng số hay công nghệ Digital Twin đang mở ra nhiều khả năng nâng cao chất lượng huấn luyện, nghiên cứu, chỉ huy và bảo đảm kỹ thuật. Tuy nhiên, mục tiêu của chuyển đổi số trong Quân đội không phải là chạy theo xu hướng công nghệ mà là nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, tăng cường khả năng dự báo, tối ưu hóa công tác quản lý và nâng cao năng lực sẵn sàng chiến đấu. Việc xây dựng các nền tảng số phục vụ quản lý sáng kiến, chia sẻ tri thức, lưu trữ dữ liệu nghiên cứu và kết nối giữa các cơ quan, đơn vị sẽ góp phần tạo môi trường thuận lợi để các ý tưởng sáng tạo được hình thành, trao đổi và nhân rộng nhanh hơn. Đồng thời, quá trình ứng dụng công nghệ cần luôn gắn với yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật quân sự và phù hợp với đặc thù tổ chức của Quân đội, qua đó phát huy hiệu quả của chuyển đổi số trong nâng cao chất lượng hoạt động quốc phòng.

Bên cạnh con người, thể chế và công nghệ, xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo là điều kiện quan trọng để tạo nên sức sống lâu dài cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong Quân đội. Thực tiễn cho thấy, những tổ chức có năng lực đổi mới cao thường là những tổ chức biết khuyến khích học tập, chia sẻ tri thức và ghi nhận các sáng kiến có giá trị. Peter Senge khi nghiên cứu về mô hình "Tổ chức học tập" đã nhấn mạnh rằng khả năng học hỏi và cải tiến liên tục là nền tảng tạo nên năng lực phát triển bền vững của mỗi tổ chức. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, tư tưởng này cần được vận dụng phù hợp với đặc thù của môi trường quân sự, trong đó đổi mới sáng tạo luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm nguyên tắc tổ chức, kỷ luật và bí mật quân sự. Xây dựng văn hóa sáng tạo không có nghĩa là khuyến khích sự khác biệt bằng mọi giá, mà là tạo môi trường để mỗi cán bộ, chiến sĩ chủ động nghiên cứu, phát hiện vấn đề từ thực tiễn, mạnh dạn đề xuất giải pháp mới, đồng thời được ghi nhận, động viên và nhân rộng khi sáng kiến mang lại hiệu quả. Khi tinh thần học tập, đổi mới và trách nhiệm trở thành giá trị chung của từng cơ quan, đơn vị, đổi mới sáng tạo sẽ không còn là hoạt động mang tính phong trào mà trở thành một bộ phận của văn hóa tổ chức và động lực nội sinh cho sự phát triển của Quân đội.

Có thể thấy, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong Quân đội là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy chuyển đổi số và bồi đắp văn hóa sáng tạo trong toàn quân. Chỉ khi các yếu tố này được gắn kết trong một chỉnh thể thống nhất, các sáng kiến mới có điều kiện được phát hiện, phát triển, ứng dụng và lan tỏa rộng rãi, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và khả năng thích ứng của Quân đội nhân dân Việt Nam trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây cũng là nền tảng quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại theo tinh thần các nghị quyết của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia./.

Ths. Nguyễn Đình Nghiêm