
Với vùng nguyên liệu tập trung, hệ thống doanh nghiệp chế biến và năng lực nghiên cứu từng bước được kết nối, Vĩnh Long đang chuyển cách tiếp cận từ mở rộng sản xuất sang nâng cao giá trị ngành hàng dừa. Thực tiễn của địa phương cho thấy, lợi thế nông nghiệp chỉ có thể trở thành năng lực cạnh tranh khi khoa học, công nghệ được đgiá trịưa vào sản xuất, liên kết chuỗi được củng cố và tiêu chuẩn thị trường được chuyển hóa thành phương thức quản trị vùng nguyên liệu. Đây là những kinh nghiệm có ý nghĩa đối với quá trình phát triển nông nghiệp xanh, hiện đại và bền vững.
I. TỪ LỢI THẾ SẢN XUẤT ĐẾN TƯ DUY PHÁT TRIỂN NGÀNH HÀNG
Trong phát triển nông nghiệp, quy mô vùng nguyên liệu thường tạo ra lợi thế ban đầu về nguồn cung, khả năng chuyên môn hóa và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, lợi thế ấy chưa tự động chuyển thành giá trị gia tăng cao. Một địa phương có thể sở hữu diện tích canh tác lớn nhưng vẫn phụ thuộc vào thị trường nguyên liệu, chịu tác động mạnh của biến động giá và khó giữ lại phần giá trị đáng kể nếu các khâu giống, chế biến, tiêu chuẩn, logistics và thương hiệu chưa phát triển tương xứng.
Thực tiễn Vĩnh Long phản ánh khá rõ yêu cầu chuyển đổi này. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, địa phương hiện có hơn 120.000ha dừa, chiếm trên 50% diện tích dừa cả nước; khoảng 33.000ha đã đáp ứng các tiêu chuẩn hữu cơ, VietGAP và GlobalGAP. Tỉnh đặt mục tiêu giá trị sản xuất, chế biến của ngành dừa đạt hơn 1 tỷ USD trong năm 2026. Những con số đó cho thấy tiềm lực đáng kể, đồng thời đặt ra yêu cầu tổ chức lại ngành hàng trên một không gian sản xuất lớn hơn và có mức độ liên kết cao hơn.
Điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của Vĩnh Long là mục tiêu phát triển không dừng ở tăng diện tích hoặc sản lượng. Trọng tâm đang chuyển sang hình thành vùng nguyên liệu đạt chuẩn, phát triển chế biến, đa dạng hóa sản phẩm và nâng khả năng tiếp cận thị trường. Đây là sự chuyển dịch từ tư duy quản lý cây trồng sang tư duy phát triển ngành hàng. Nếu quản lý cây trồng chủ yếu quan tâm đến diện tích, năng suất và sản lượng, thì phát triển ngành hàng phải giải quyết đồng thời chất lượng đầu vào, tổ chức sản xuất, năng lực chế biến, hệ thống tiêu chuẩn và đầu ra của sản phẩm.
Sự chuyển đổi ấy có cơ sở từ chính cấu trúc kinh tế của ngành dừa tại địa phương. Năm 2025, Vĩnh Long có 156 mã số vùng trồng dừa tươi và 17 cơ sở đóng gói đủ điều kiện xuất khẩu sang Trung Quốc. Trên địa bàn tỉnh có 183 doanh nghiệp chế biến sản phẩm từ dừa, tạo việc làm cho hơn 9.000 lao động. Khoảng 60–65% sản lượng được đưa vào chế biến trong tỉnh; kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ dừa đạt khoảng 500 triệu USD.
Các dữ kiện trên cho thấy Vĩnh Long không bắt đầu từ một vùng nguyên liệu biệt lập. Địa phương đã hình thành những yếu tố ban đầu của một hệ sinh thái sản xuất, bao gồm hộ trồng dừa, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, cơ sở nghiên cứu, cơ sở đóng gói và mạng lưới thị trường. Vấn đề đặt ra ở giai đoạn tiếp theo là nâng chất lượng liên kết giữa các chủ thể để lợi thế về quy mô được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh.
Theo tiếp cận chuỗi giá trị, giá trị của một sản phẩm nông nghiệp được hình thành qua toàn bộ quá trình từ giống, canh tác, thu hoạch, bảo quản, chế biến đến phân phối và xây dựng thương hiệu. Chủ thể nào làm chủ được nhiều công đoạn có hàm lượng công nghệ, tri thức và thị trường cao hơn sẽ có khả năng giữ lại phần giá trị lớn hơn. Bởi vậy, phát triển ngành dừa không thể chỉ đặt lên vai người trồng dừa. Năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng phối hợp giữa khu vực sản xuất nguyên liệu với nghiên cứu khoa học, công nghiệp chế biến và hệ thống phân phối.
Từ thực tiễn Vĩnh Long có thể nhận thấy một kinh nghiệm quan trọng: quy hoạch ngành hàng cần được xây dựng theo chuỗi tạo giá trị, thay vì chia tách thành những chương trình riêng về sản xuất, chế biến và thương mại. Diện tích dừa chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được tổ chức thành vùng nguyên liệu phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp, có dữ liệu phục vụ truy xuất và được kết nối với công nghệ chế biến. Ngược lại, nhà máy khó vận hành ổn định nếu nguồn nguyên liệu phân tán, chất lượng không đồng đều hoặc thiếu cơ chế phối hợp lâu dài với người sản xuất.
Mục tiêu hơn 1 tỷ USD vì thế nên được xem như một mốc thúc đẩy quá trình tái cấu trúc, không đơn thuần là chỉ tiêu về quy mô. Kết quả cần hướng tới là phần giá trị tạo ra tại địa phương ngày càng lớn hơn, thu nhập của người sản xuất ổn định hơn, doanh nghiệp làm chủ thêm các công đoạn chế biến và thị trường, còn tài nguyên nông nghiệp được sử dụng hiệu quả, bền vững hơn.
II. KẾT NỐI KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VỚI NHU CẦU SẢN XUẤT
Một nét nổi bật trong thực tiễn Vĩnh Long là sự hiện diện tương đối rõ của khoa học, công nghệ trong quá trình phát triển ngành hàng. Tuy nhiên, giá trị của hoạt động nghiên cứu không nên chỉ được đánh giá qua số lượng đề tài hoặc kết quả kỹ thuật. Tiêu chuẩn quan trọng hơn là khả năng giải quyết những điểm nghẽn cụ thể của sản xuất, tạo ra sản phẩm có thể thương mại hóa và cải thiện hiệu quả kinh tế của người dân, doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu giống dừa sáp bằng phương pháp nuôi cấy phôi của Đại học Trà Vinh là một trường hợp tiêu biểu. Với phương pháp nhân giống truyền thống, tỷ lệ cho trái sáp thường chỉ đạt khoảng 20–30% mỗi buồng. Kỹ thuật nuôi cấy phôi đã nâng tỷ lệ này lên trên 85%, qua đó cải thiện đáng kể khả năng kiểm soát chất lượng và hiệu quả khai thác vườn cây. Quy trình đã được đưa vào thương mại hóa từ năm 2011; hoạt động nghiên cứu hiện tiếp tục được mở rộng sang công nghệ nuôi cấy mô nhằm tạo nguồn giống đồng đều hơn và giảm chi phí tiếp cận cho người sản xuất.
Ý nghĩa của trường hợp này vượt ra ngoài phạm vi cải tiến một giống cây. Nó cho thấy khoa học, công nghệ có thể tham gia trực tiếp vào việc tái cấu trúc năng lực sản xuất của địa phương. Khi tỷ lệ sản phẩm đạt yêu cầu được nâng lên, người trồng có cơ sở đầu tư ổn định hơn; doanh nghiệp chế biến thuận lợi hơn trong việc xây dựng tiêu chuẩn nguyên liệu; thị trường cũng có nguồn cung với chất lượng ít biến động hơn. Một kết quả nghiên cứu, nếu được chuyển giao đúng cách, có thể đồng thời tác động đến năng suất, khả năng chế biến và tổ chức thị trường.
Từ đó có thể rút ra rằng, đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp cần được đặt trong mối quan hệ với nhu cầu thực tế của chuỗi. Nghiên cứu giống phải trả lời được doanh nghiệp cần đặc tính nguyên liệu nào, người dân có đủ khả năng tiếp nhận công nghệ hay không, sản phẩm cuối cùng hướng tới phân khúc thị trường nào. Nếu thiếu sự kết nối này, kết quả nghiên cứu có thể có giá trị về học thuật nhưng khó tạo ra thay đổi trên quy mô sản xuất.
Mô hình của Công ty TNHH một thành viên Phát Đặng tại xã Song Lộc cho thấy một hướng chuyển giao khá cụ thể. Từ thử nghiệm trồng dừa sáp cấy phôi, chủ thể sản xuất từng bước mở rộng vùng trồng, đầu tư nhà máy chế biến, cung cấp cây giống, hướng dẫn kỹ thuật và liên kết bao tiêu với các hộ dân. Ở đây, đổi mới giống không tồn tại như một khâu riêng lẻ mà được nối với chế biến và thị trường. Đây chính là điều kiện để tri thức khoa học chuyển thành năng lực kinh tế.
Thực tiễn trên cũng gợi mở vai trò mới của doanh nghiệp nông nghiệp. Doanh nghiệp không nên chỉ xuất hiện ở cuối chuỗi để thu mua sản phẩm, mà cần tham gia từ khâu xác định tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức vùng nguyên liệu. Khi doanh nghiệp cung cấp thông tin thị trường cho người sản xuất, còn cơ sở nghiên cứu chuyển các yêu cầu đó thành bài toán công nghệ, chuỗi liên kết có khả năng vận hành chủ động hơn.
Cùng với đổi mới giống, Vĩnh Long chú trọng thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến. Hướng đi này xuất phát từ thực tế giá trị của nông sản thô thường bị giới hạn bởi thời gian bảo quản, tính mùa vụ và biến động cung cầu. Công nghệ chế biến giúp kéo dài thời gian lưu thông, mở rộng phạm vi sử dụng của nguyên liệu và tạo thêm nhiều phân khúc sản phẩm. Giá trị khi đó được hình thành từ năng lực thiết kế, công nghệ, quản trị chất lượng và tổ chức thị trường, thay vì chủ yếu dựa vào số lượng nguyên liệu được tiêu thụ.
Công ty cổ phần Trà Bắc là một ví dụ về khai thác đồng thời phần chính phẩm và phụ phẩm của cây dừa. Việc phát triển cơm dừa sấy, nước cốt dừa cấp đông, than và than hoạt tính từ gáo dừa cho thấy nguyên liệu có thể được tổ chức theo nhiều dòng sản phẩm. Đặc biệt, sản phẩm than hoạt tính đã được xuất khẩu tới nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Mô hình này phản ánh khả năng chuyển phụ phẩm có giá trị thấp thành nguyên liệu cho sản phẩm công nghiệp, qua đó giảm chất thải và mở rộng giá trị thu được trên cùng một đơn vị đầu vào.
Ở một hướng khác, Công ty TNHH Chế biến dừa sáp Cầu Kè tập trung phát triển các sản phẩm từ đặc sản bản địa thông qua công nghệ bảo quản, sấy và chế biến thực phẩm. Kinh nghiệm ở đây nằm ở việc doanh nghiệp không chỉ bán một loại nguyên liệu có giá trị cao, mà tìm cách kéo dài thời hạn sử dụng, đa dạng hóa hình thức tiêu dùng và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Mỗi phương thức chế biến tạo ra một không gian thương mại mới cho sản phẩm địa phương.
Những mô hình này cho thấy phát triển công nghiệp chế biến không đồng nghĩa với mở rộng nhà máy bằng mọi giá. Hiệu quả cần được xem xét trên khả năng gắn kết với vùng nguyên liệu, trình độ công nghệ, hiệu suất sử dụng tài nguyên và sức hấp thụ của thị trường. Nếu công suất chế biến vượt xa nguồn cung đạt chuẩn, doanh nghiệp có thể thiếu nguyên liệu; nếu sản phẩm được phát triển nhưng chưa xác định rõ thị trường, chi phí đầu tư khó chuyển thành giá trị thương mại.
Kinh nghiệm từ Vĩnh Long vì thế đặt ra yêu cầu xây dựng mối liên kết thường xuyên giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp và người sản xuất. Nhà nước tạo điều kiện về quy hoạch, hạ tầng, nghiên cứu và xúc tiến đầu tư; cơ sở khoa học giải quyết các vấn đề về giống, quy trình và công nghệ; doanh nghiệp tổ chức chế biến, thị trường; hợp tác xã và hộ dân bảo đảm vùng nguyên liệu. Mỗi chủ thể giữ một vai trò khác nhau nhưng cùng hướng đến chất lượng cuối cùng của ngành hàng.
III. TỔ CHỨC VÙNG NGUYÊN LIỆU THEO TIÊU CHUẨN XANH VÀ MINH BẠCH
Thị trường nông sản đang thay đổi theo hướng ngày càng coi trọng khả năng kiểm chứng. Chất lượng cảm quan hoặc sản lượng lớn không còn đủ để bảo đảm khả năng tiếp cận thị trường. Các yêu cầu về an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật, mã số vùng trồng, điều kiện đóng gói, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm môi trường đang trở thành một bộ phận của năng lực cạnh tranh.
Thị trường Trung Quốc là một ví dụ. Nhu cầu tiêu thụ dừa hằng năm của nước này vượt 4 tỷ trái, trong đó có khoảng 2,6 tỷ trái dừa tươi. Quy mô thị trường mở ra cơ hội đáng kể, nhưng khả năng tận dụng phụ thuộc vào việc tuân thủ yêu cầu kiểm dịch, quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc
Việc Vĩnh Long phát triển vùng dừa hữu cơ, VietGAP, GlobalGAP, cấp mã số vùng trồng và xây dựng cơ sở đóng gói cho thấy địa phương đang từng bước chuyển yêu cầu thị trường thành yêu cầu tổ chức sản xuất. Đây không đơn thuần là quá trình hoàn thiện hồ sơ để xuất khẩu. Tiêu chuẩn chỉ có giá trị thực chất khi trở thành quy trình được tuân thủ thường xuyên, dữ liệu được cập nhật và trách nhiệm của từng chủ thể được xác định rõ.
Trong điều kiện sản xuất nông nghiệp còn phân tán, một hộ dân riêng lẻ khó tự mình xây dựng hệ thống truy xuất, duy trì chứng nhận hoặc đàm phán ổn định với doanh nghiệp. Hợp tác xã và tổ hợp tác do đó giữ vai trò kết nối. Thông qua các tổ chức này, quy trình canh tác có thể được thống nhất, vật tư đầu vào được kiểm soát, dữ liệu sản xuất được tập hợp và sản lượng được tổ chức theo yêu cầu của doanh nghiệp. Hợp tác xã không làm thay người sản xuất, nhưng giúp các hộ nhỏ lẻ tham gia vào một cấu trúc thị trường có tiêu chuẩn cao hơn.
Vai trò của doanh nghiệp cũng cần được đặt trong quan hệ chia sẻ trách nhiệm. Nếu chỉ yêu cầu người dân tuân thủ tiêu chuẩn mà thiếu hợp đồng ổn định, hướng dẫn kỹ thuật hoặc cơ chế phản ánh chi phí vào giá thu mua, liên kết khó duy trì lâu dài. Một chuỗi bền vững phải tạo ra lợi ích đủ rõ cho các bên: người dân có đầu ra và thu nhập ổn định hơn; doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu đạt chuẩn; địa phương nâng hiệu quả sử dụng đất, tạo việc làm và mở rộng giá trị sản xuất.
Chuyển đổi xanh làm cho yêu cầu phối hợp trở nên sâu hơn. Sản xuất phát thải thấp không nên được hiểu như việc bổ sung một chứng nhận mới vào sản phẩm. Về bản chất, đó là quá trình sử dụng tiết kiệm đầu vào, quản lý sức khỏe đất, hạn chế thất thoát dinh dưỡng, tận dụng phụ phẩm và giảm tác động môi trường trong toàn bộ chuỗi. Những biện pháp như quản lý dinh dưỡng theo nhu cầu cây, tăng vật chất hữu cơ, che phủ đất hoặc bố trí cây trồng xen có thể góp phần nâng hiệu quả sử dụng tài nguyên. Mức độ tác động cần được đo lường đối với từng vùng đất và quy trình cụ thể, tránh áp dụng máy móc một con số chung cho mọi mô hình.
Dấu chân carbon, truy xuất nguồn gốc và hệ thống đo lường, báo cáo, thẩm tra nên được coi là hạ tầng quản trị mới của vùng nguyên liệu. Dữ liệu giúp cơ quan quản lý nhận diện rủi ro, doanh nghiệp kiểm soát chất lượng, hợp tác xã tổ chức sản xuất và người dân điều chỉnh cách sử dụng đầu vào. Minh bạch, theo nghĩa đó, vừa đáp ứng yêu cầu thị trường, vừa giúp nâng cao năng lực quản lý nội tại của ngành hàng.
Tuy nhiên, chuyển đổi xanh cũng có chi phí. Người sản xuất phải thay đổi tập quán, ghi chép dữ liệu và tuân thủ quy trình; hợp tác xã cần nhân lực quản lý; doanh nghiệp phải đầu tư cho kiểm nghiệm, chứng nhận và hệ thống truy xuất. Chính sách hỗ trợ nên tập trung vào những chi phí hình thành năng lực chung như hạ tầng dữ liệu, đào tạo kỹ thuật, thử nghiệm, chứng nhận ban đầu và kết nối thị trường. Hỗ trợ sẽ thiếu hiệu quả nếu chỉ phân bổ theo số lượng chủ thể tham gia mà không đánh giá chất lượng vùng nguyên liệu sau chuyển đổi.
Từ thực tiễn Vĩnh Long có thể thấy, xây dựng nông nghiệp xanh cần bắt đầu từ tổ chức lại quan hệ giữa các chủ thể, chứ không dừng ở thay đổi kỹ thuật canh tác. Sản xuất phân tán phải được kết nối bằng hợp tác xã; yêu cầu của thị trường phải được chuyển thành tiêu chuẩn; tiêu chuẩn phải được bảo đảm bằng dữ liệu; dữ liệu phải phục vụ cả quản lý chất lượng và nâng cao hiệu quả sản xuất. Đó là chuỗi điều kiện để chuyển đổi xanh trở thành năng lực cạnh tranh thay vì chỉ là chi phí tuân thủ.
IV. NHỮNG KINH NGHIỆM TỪ THỰC TIỄN VĨNH LONG
Quá trình phát triển ngành hàng dừa tại Vĩnh Long đang tiếp diễn và chưa phải mọi điểm nghẽn đều đã được giải quyết. Sản xuất ở một số nơi còn phân tán; chất lượng liên kết chưa đồng đều; năng lực chế biến giữa các doanh nghiệp có sự chênh lệch; dữ liệu vùng trồng và khả năng chứng minh phát thải cần tiếp tục hoàn thiện. Chính những vấn đề đó làm cho trường hợp Vĩnh Long có giá trị nghiên cứu thực tiễn: kinh nghiệm không chỉ nằm ở kết quả đạt được, mà còn ở cách địa phương nhận diện và xử lý các yêu cầu mới của phát triển.
Trước hết, địa phương đã từng bước chuyển từ phát triển một loại cây trồng sang tổ chức một ngành hàng. Sự chuyển đổi được thể hiện qua việc gắn vùng nguyên liệu với tiêu chuẩn, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, doanh nghiệp chế biến và thị trường. Đây là cơ sở để các quyết định về diện tích, giống, đầu tư nhà máy và xúc tiến thương mại được đặt trong cùng một định hướng.
Kinh nghiệm thứ hai là đưa khoa học, công nghệ đến gần hơn với nhu cầu sản xuất. Nghiên cứu giống dừa sáp cho thấy một kết quả khoa học chỉ tạo ra tác động rộng khi được thương mại hóa, chuyển giao và gắn với mô hình sản xuất cụ thể. Trong mối quan hệ này, trường đại học không chỉ đào tạo và nghiên cứu; doanh nghiệp không chỉ thu mua; người dân không chỉ cung cấp nguyên liệu. Các chủ thể cùng tham gia vào quá trình thử nghiệm, hoàn thiện và mở rộng công nghệ.
Kinh nghiệm tiếp theo nằm ở việc phát triển chế biến gắn với sử dụng tổng hợp nguyên liệu. Những mô hình khai thác cơm dừa, nước dừa, gáo dừa, xơ dừa và các phụ phẩm khác giúp gia tăng giá trị, đồng thời mở đường cho kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, chế biến sâu phải được dẫn dắt bởi công nghệ, tiêu chuẩn và nhu cầu thị trường. Số lượng sản phẩm nhiều chưa đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh cao nếu chất lượng không ổn định hoặc thiếu hệ thống phân phối phù hợp.
Một bài học khác là coi tiêu chuẩn và dữ liệu như bộ phận của năng lực sản xuất. Mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận không nên được thực hiện theo từng đợt để đáp ứng một thị trường nhất thời. Chúng cần trở thành phương thức quản trị thường xuyên, cho phép theo dõi đầu vào, chất lượng, sản lượng và trách nhiệm của các bên. Khi dữ liệu được tổ chức tốt, địa phương có cơ sở hoạch định chính sách sát hơn, doanh nghiệp chủ động nguồn cung và người sản xuất có khả năng chứng minh giá trị sản phẩm.
Sau cùng, vai trò kiến tạo của chính quyền địa phương cần được đặt đúng phạm vi. Nhà nước không lựa chọn sản phẩm thay doanh nghiệp hoặc tổ chức sản xuất thay người dân. Trách nhiệm chủ yếu là xây dựng quy hoạch, hỗ trợ hạ tầng, kết nối nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn, tạo điều kiện tiếp cận tiêu chuẩn và bảo đảm môi trường hợp tác minh bạch. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm về công nghệ, chất lượng và thị trường; hợp tác xã tổ chức liên kết; người dân thực hiện quy trình và chủ động nâng cao năng lực sản xuất.
Thước đo của chính sách phát triển ngành hàng vì thế không chỉ là diện tích được mở rộng hay số doanh nghiệp được hỗ trợ. Cần đánh giá phần giá trị được tạo ra và giữ lại tại địa phương, mức cải thiện thu nhập của người sản xuất, tỷ lệ nguyên liệu được chế biến, khả năng tận dụng phụ phẩm, số vùng trồng duy trì tiêu chuẩn thực chất và mức độ ổn định của liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân.
Thực tiễn Vĩnh Long cho thấy lợi thế nông nghiệp chỉ trở thành động lực phát triển khi được tổ chức bằng tư duy chuỗi, được nâng đỡ bởi khoa học, công nghệ và được bảo đảm bằng các thiết chế liên kết. Đổi mới giống tạo nền tảng chất lượng; chế biến mở rộng không gian tạo giá trị; tiêu chuẩn xanh và dữ liệu củng cố khả năng tiếp cận thị trường. Ba phương diện này cần vận hành trong một chỉnh thể thống nhất.
Mục tiêu hơn 1 tỷ USD giá trị sản xuất, chế biến dừa vì thế mang ý nghĩa của một quá trình chuyển đổi mô hình phát triển. Điều quan trọng không phải chỉ tạo ra nhiều sản phẩm hơn, mà là hình thành năng lực nghiên cứu, sản xuất, chế biến và tổ chức thị trường có thể tiếp tục phát huy trong dài hạn. Khi năng lực ấy được củng cố, Vĩnh Long có điều kiện chuyển ưu thế về vùng nguyên liệu thành sức cạnh tranh của ngành hàng, đồng thời bảo đảm sinh kế, sử dụng hiệu quả tài nguyên và đóng góp thiết thực vào quá trình phát triển nông nghiệp xanh, hiện đại, bền vững./.
ThS.Phạm Khánh Linh




