Việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đang được đặt trong yêu cầu lớn hơn: chuyển từ tư duy quản lý từng loại tài nguyên sang quản trị tổng hợp không gian biển, qua đó tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý, tạo dư địa cho các ngành kinh tế biển mới và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế. Khi biển được nhìn nhận như một không gian phát triển đa ngành, vấn đề không còn chỉ là khai thác được bao nhiêu tài nguyên, mà là tổ chức không gian, phân bổ nguồn lực và xây dựng một hệ sinh thái kinh tế biển có sức cạnh tranh, xanh và bền vững.
![]()
Mở rộng không gian phát triển từ đột phá thể chế và quản trị biển. Ảnh minh họa - TL
Từ quản lý tài nguyên sang quản trị không gian phát triển
Ngày 22/9/2026, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Theo hồ sơ được trình, dự thảo gồm 6 chương, 76 điều, tập trung vào bốn nhóm vấn đề lớn: hoàn thiện cơ chế quản lý, phân bổ và sử dụng không gian biển; chuẩn hóa quyền và nghĩa vụ của người sử dụng khu vực biển; xây dựng cơ chế ưu đãi, tài chính biển xanh; đồng thời tăng cường bảo vệ môi trường và ứng phó sự cố.
Điểm đáng chú ý nằm ở sự thay đổi cách tiếp cận. Nếu trước đây quản lý biển thường được phân chia theo từng lĩnh vực như dầu khí, hàng hải, thủy sản, du lịch, năng lượng hay bảo tồn, thì thực tiễn phát triển đang đòi hỏi một cách nhìn tích hợp hơn. Cùng một vùng biển có thể đồng thời chứa đựng nhiều giá trị và nhu cầu sử dụng: tuyến hàng hải, khu vực nuôi biển, vùng khai thác năng lượng tái tạo, công trình hạ tầng, khu vực bảo tồn và không gian phục vụ quốc phòng, an ninh.
Chính sự giao thoa ấy làm phát sinh nguy cơ chồng lấn về quy hoạch, quyền sử dụng, cấp phép đầu tư và trách nhiệm quản lý. Báo cáo thẩm tra dự án Luật cũng đặt vấn đề phải làm rõ cơ chế xử lý xung đột giữa các quy hoạch, dự án cụ thể, các vấn đề liên vùng, liên ngành và trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý.
Ở góc độ kinh tế, đây không đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật lập pháp. Không gian biển nếu được quy hoạch rõ ràng, quyền sử dụng được xác lập minh bạch và cơ chế phối hợp giữa các ngành được vận hành hiệu quả sẽ trở thành một loại “hạ tầng thể chế” để thu hút đầu tư.
Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng trong bối cảnh những ngành kinh tế biển mới đang phát triển nhanh. Điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, dịch vụ logistics biển, cảng biển thế hệ mới, du lịch biển chất lượng cao, công nghệ quan trắc đại dương, dịch vụ dữ liệu biển và các hoạt động kinh tế xanh đều cần một không gian pháp lý đủ rõ để doanh nghiệp có thể tính toán đầu tư dài hạn.
Dự thảo Luật đã đưa ra một số cơ chế đáng chú ý như giao, cho thuê, đăng ký, đấu giá quyền sử dụng khu vực biển; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển; đồng thời nghiên cứu cơ chế chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền với khu vực biển. Cùng với đó là các đề xuất về miễn, giảm tiền sử dụng khu vực biển, ưu tiên tiếp cận hạ tầng, dữ liệu số, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và tài chính biển xanh.
Nếu được thiết kế đồng bộ, đây có thể trở thành bước chuyển quan trọng từ tư duy “xin - cho” trong tiếp cận không gian biển sang cơ chế quản trị dựa trên quyền, quy hoạch, dữ liệu và trách nhiệm giải trình.
Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 139/2024/QH15, xác định đây là quy hoạch khung, tổng thể, tích hợp, đa ngành, động và mở. Mục tiêu là tạo cơ sở cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển, đồng thời hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo tồn các giá trị biển.
Như vậy, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có thể được nhìn nhận như một bước tiếp theo trong quá trình hoàn thiện “kiến trúc thể chế” cho không gian biển Việt Nam.
Động lực mới cho kinh tế biển xanh và hội nhập quốc tế
Kinh tế biển ngày nay không còn giới hạn trong những ngành khai thác tài nguyên truyền thống. Trên phạm vi toàn cầu, biển đang trở thành không gian của năng lượng tái tạo, logistics, công nghệ cao, kinh tế dữ liệu, du lịch bền vững, nuôi trồng thủy sản hiện đại và các dịch vụ sinh thái.
Đối với Việt Nam, xu hướng này mở ra một dư địa phát triển đáng kể, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu phải thay đổi phương thức khai thác lợi thế biển.
Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã xác định chín nhóm nhiệm vụ. Trong đó có hoàn thiện thể chế và quy hoạch không gian biển; huy động nguồn lực và phát triển doanh nghiệp biển; thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và ngành kinh tế biển mới; phát triển hạ tầng và hình thành các trung tâm kinh tế biển; đồng thời tăng cường bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế.
Điều này cho thấy kinh tế biển đang được đặt trong một hệ sinh thái phát triển rộng hơn, thay vì được xem như tập hợp các ngành kinh tế riêng lẻ.
Trong chuỗi giá trị đó, hạ tầng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Một cảng biển hiện đại không chỉ tạo doanh thu từ dịch vụ bốc xếp mà còn có khả năng hình thành trung tâm logistics, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ tài chính, thương mại và phân phối. Một khu vực có tiềm năng năng lượng tái tạo ngoài khơi nếu được kết nối tốt với hệ thống điện có thể tạo ra chuỗi giá trị từ khảo sát, thiết kế, chế tạo thiết bị, xây dựng, vận hành đến dịch vụ kỹ thuật.
Tương tự, nuôi biển nếu chuyển từ mô hình nhỏ lẻ sang nuôi công nghiệp, ứng dụng công nghệ giám sát môi trường, tự động hóa và truy xuất nguồn gốc có thể tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Đây chính là điểm giao giữa kinh tế biển và hội nhập quốc tế. Các thị trường xuất khẩu ngày càng coi trọng tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và trách nhiệm xã hội. Vì vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp biển Việt Nam trong tương lai không chỉ phụ thuộc vào giá thành mà còn phụ thuộc vào khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh.
Dự thảo Luật dành một nhóm nội dung cho “tài chính biển xanh”, đồng thời bổ sung các cơ chế phòng ngừa, quản lý rủi ro, giám sát, cảnh báo và phục hồi hệ sinh thái. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với xu thế quốc tế khi nguồn vốn xanh ngày càng gắn chặt với yêu cầu về môi trường và phát triển bền vững.
Đáng chú ý, dự thảo cũng đề cập việc nội luật hóa các cam kết quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học tại các vùng biển ngoài quyền tài phán quốc gia. Điều này cho thấy pháp luật biển Việt Nam không thể chỉ được thiết kế theo nhu cầu quản lý trong nước mà còn phải tính đến sự tương thích với các chuẩn mực và nghĩa vụ quốc tế.
Với một nền kinh tế có độ mở cao, đây là yêu cầu mang tính chiến lược. Không gian biển càng được quản trị minh bạch, tiêu chuẩn môi trường càng rõ ràng và dữ liệu càng được chuẩn hóa thì khả năng kết nối doanh nghiệp Việt Nam với chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và dòng vốn quốc tế càng được cải thiện.
Thể chế đồng bộ để biến tiềm năng thành năng lực cạnh tranh
Thách thức lớn nhất của kinh tế biển Việt Nam trong giai đoạn mới có thể không nằm ở việc thiếu tiềm năng, mà ở khả năng biến tiềm năng đó thành năng lực cạnh tranh thực tế.
Thực tiễn triển khai Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam cho thấy vẫn tồn tại những hạn chế như một số mục tiêu chưa đạt yêu cầu, phát triển các ngành kinh tế biển mũi nhọn chưa tương xứng với tiềm năng, liên kết giữa các vùng biển và giữa các địa phương còn hạn chế; khoa học - công nghệ, điều tra cơ bản và nguồn nhân lực biển chưa thực sự trở thành nhân tố then chốt.
Những hạn chế này cho thấy cần một phương thức quản trị mới, trong đó thể chế, quy hoạch, dữ liệu, hạ tầng và doanh nghiệp phải được đặt trong cùng một hệ thống.
Trước hết, quy hoạch không gian biển cần thực sự trở thành công cụ phân bổ nguồn lực. Một vùng biển không thể đồng thời dành toàn bộ cho nhiều mục tiêu nếu không có nguyên tắc phân bổ rõ ràng. Bởi vậy, việc dự thảo Luật yêu cầu xác định cơ chế xử lý chồng lấn giữa dầu khí, điện gió, hàng hải, nuôi biển, quốc phòng và bảo tồn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Thứ hai, cần xây dựng hệ thống dữ liệu biển có khả năng dùng chung. Trong nền kinh tế số, dữ liệu về địa chất, hải văn, môi trường, dòng chảy, hệ sinh thái, giao thông hàng hải, tài nguyên và quy hoạch không chỉ phục vụ quản lý nhà nước mà còn có thể trở thành đầu vào quan trọng cho hoạt động đầu tư, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Nếu doanh nghiệp phải mất nhiều năm để xác định thông tin cơ bản về một khu vực biển, chi phí đầu tư và rủi ro pháp lý sẽ tăng lên. Ngược lại, khi dữ liệu được số hóa, chuẩn hóa và công khai theo phạm vi phù hợp, quá trình chuẩn bị dự án sẽ minh bạch và hiệu quả hơn.
Thứ ba, cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành đủ mạnh. Biển không có ranh giới theo ngành quản lý. Một dự án điện gió ngoài khơi có thể liên quan đến năng lượng, môi trường, hàng hải, quốc phòng, đầu tư, đất đai và quy hoạch. Một dự án cảng biển có thể liên quan đến logistics, công nghiệp, đô thị và kết nối giao thông.
Vì vậy, nếu mỗi ngành chỉ nhìn dự án từ một “lát cắt” riêng, nguy cơ phát sinh điểm nghẽn sẽ còn tồn tại. Chính cơ quan thẩm tra dự án Luật cũng đề nghị làm rõ vai trò của Chính phủ, cơ quan quản lý tổng hợp về biển và các bộ chuyên ngành, cũng như thẩm quyền xử lý xung đột quy hoạch, dự án và các vấn đề liên vùng, liên ngành.
Thứ tư, phải đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của quá trình hình thành các chuỗi giá trị biển mới. Chương trình hành động của Chính phủ về quốc gia biển mạnh đã xác định nhiệm vụ huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn.
Tuy nhiên, doanh nghiệp lớn chỉ là một bộ phận của hệ sinh thái. Cùng với đó cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp công nghệ, các viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng cư dân ven biển tham gia vào chuỗi giá trị.
Cuối cùng là yêu cầu phát triển phải đi cùng bảo vệ môi trường. Dự thảo Luật đã đặt trọng tâm vào phòng ngừa rủi ro, giám sát, cảnh báo, phục hồi hệ sinh thái và xử lý ô nhiễm rác thải nhựa đại dương; đồng thời đề cập trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu và hóa chất.
Đây không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn là yêu cầu kinh tế. Một nền kinh tế biển suy giảm hệ sinh thái sẽ phải trả chi phí ngày càng lớn cho phục hồi, trong khi những ngành phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên biển như thủy sản, du lịch và dịch vụ ven biển sẽ chịu tác động trước tiên.
Vì vậy, “không gian phát triển mới” cần được hiểu theo nghĩa rộng: không phải mở rộng khai thác bằng mọi giá, mà là mở rộng giá trị tạo ra trên mỗi đơn vị không gian biển, dựa trên công nghệ, quản trị hiện đại và nguyên tắc sử dụng bền vững.
Việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo diễn ra đúng vào thời điểm Việt Nam đang định hình một giai đoạn phát triển mới của quốc gia biển. Nếu các quy định về quyền sử dụng khu vực biển, phân bổ không gian, xử lý chồng lấn, tài chính xanh, dữ liệu và trách nhiệm môi trường được thiết kế thống nhất với hệ thống pháp luật liên quan, biển có thể trở thành một không gian kinh tế mới với sức lan tỏa lớn.
Đối với hội nhập kinh tế quốc tế, ý nghĩa còn rộng hơn. Một nền kinh tế biển hiện đại sẽ tạo thêm năng lực tham gia các chuỗi giá trị quốc tế, thu hút dòng vốn đầu tư xanh, phát triển logistics, năng lượng sạch, du lịch chất lượng cao và các dịch vụ công nghệ biển.
Từ góc nhìn đó, bài toán của Việt Nam trong giai đoạn tới không chỉ là “khai thác biển” mà là kiến tạo một nền kinh tế biển có khả năng cạnh tranh trong không gian kinh tế toàn cầu. Muốn vậy, thể chế phải đi trước một bước; quy hoạch phải tạo ra trật tự; dữ liệu phải tạo ra minh bạch; công nghệ phải tạo ra năng suất; còn bảo vệ hệ sinh thái phải trở thành điều kiện nền tảng của tăng trưởng.
Khi những yếu tố đó được kết nối thành một chỉnh thể, không gian biển sẽ không chỉ là nơi chứa đựng tài nguyên, mà thực sự trở thành một trong những không gian phát triển quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong thế kỷ XXI.
ThS Hà Sơn Thủy
_______________________________________
Tài liệu tham khảo
- Báo Điện tử Chính phủ (2026), Tạo không gian phát triển mới cho các ngành kinh tế biển, ngày 22/9/2026.
- Báo Điện tử Chính phủ (2026), Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tháng 8/2026, trong đó thông tin về Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026.
- Quốc hội (2024), Nghị quyết số 139/2024/QH15 về Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Chính phủ (2024), Thông báo số 202/TB-VPCP về kết luận tại kỳ họp lần thứ nhất Ủy ban Chỉ đạo quốc gia thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
- Chính phủ (2026), Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.




