Tóm tắt: Trong thời kỳ mới, niềm tin chính trị vừa là nền tảng tinh thần, vừa là sức mạnh nội sinh cho sự phát triển của dân tộc. Đó là sự gắn kết máu thịt giữa ý Đảng, lòng dân, tạo nên sức mạnh đoàn kết vô song. Khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, niềm tin chính trị là “ngọn hải đăng” soi sáng, giúp khơi dậy khát vọng cống hiến, tạo đà cho Việt Nam phát triển mạnh mẽ, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Từ khoá: Niềm tin chính trị, nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, nâng cao năng lực phát triển của đất nước.

I.Niềm tin chính trị - Cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam
Niềm tin chính trị là nền tảng tinh thần làm nên sự thống nhất ý chí và hành động của toàn dân tộc trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Mỗi thắng lợi lớn của đất nước đều in dấu một bước trưởng thành của niềm tin trong lòng Nhân dân đối với Đảng. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, giữ vững và bồi đắp niềm tin chính trị trở thành yêu cầu trực tiếp của việc củng cố nền tảng tinh thần và khơi dậy sức mạnh nội sinh cho phát triển đất nước.
Trong đời sống của một quốc gia, khi nói tới nguồn lực phát triển, người ta thường nghĩ đến vốn, tài nguyên, công nghệ, hạ tầng, thể chế, chất lượng nhân lực, năng lực quản trị và tiềm lực quốc phòng, an ninh. Những nguồn lực ấy rất quan trọng, nhưng chưa đủ để cắt nghĩa sức bền của một dân tộc trong những thời khắc thử thách. Ở tầng sâu hơn, luôn tồn tại một nguồn lực tinh thần giữ vai trò quy tụ, nâng đỡ và định hướng các nguồn lực khác. Đó là niềm tin của Nhân dân vào mục tiêu phát triển của đất nước, vào tính chính đáng của sự lãnh đạo, vào hiệu lực của Nhà nước, vào giá trị của chế độ và vào triển vọng tương lai dân tộc.
Niềm tin chính trị không phải là một cảm xúc nhất thời, càng không phải là sự tin tưởng mơ hồ. Đó là sự tín nhiệm có cơ sở của Nhân dân đối với đường lối phát triển, đối với lực lượng lãnh đạo và đối với khả năng biến mục tiêu chung thành kết quả hiện thực. Niềm tin ấy được hình thành từ nhận thức, được kiểm chứng qua lịch sử, được bồi đắp bằng thực tiễn và được củng cố bằng những thành quả cụ thể trong đời sống. Một xã hội có niềm tin chính trị sâu bền là một xã hội mà Nhân dân nhìn thấy trong đường lối của Đảng lợi ích lâu dài của quốc gia, dân tộc và lợi ích thiết thân của chính mình; nhìn thấy trong bộ máy nhà nước năng lực tổ chức và trách nhiệm phục vụ; nhìn thấy trong những khó khăn của hiện tại một tương lai có ý nghĩa để cùng chung sức phấn đấu.
Từ niềm tin mà đồng thuận xã hội được hình thành. Cũng như vậy, từ đồng thuận mà ý chí được quy tụ và chính từ ý chí mà hành động lịch sử xuất hiện ở quy mô toàn dân tộc. Khi niềm tin được củng cố, xã hội có khả năng đứng vững trước gian nan, vượt qua tâm lý phân tán và quy tụ các nguồn lực khác nhau vào mục tiêu chung. Khi niềm tin bị bào mòn, ngay cả những chủ trương đúng cũng khó đi vào cuộc sống, những nguồn lực vật chất lớn cũng dễ rơi vào phân tán và sức sáng tạo của con người khó có môi trường tinh thần để bứt lên. Vì vậy, niềm tin chính trị là phần sâu nhất làm nên độ bền của chế độ và tầm vươn của dân tộc.
Suốt chiều dài lịch sử Việt Nam hiện đại, niềm tin chính trị mang một nội dung rất cụ thể. Đó là niềm tin của Nhân dân vào Đảng, vào Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vào sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và vào khả năng tự vươn lên của đất nước. Niềm tin ấy hình thành trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trưởng thành qua các cuộc kháng chiến giữ nước, được kiểm chứng trong công cuộc đổi mới và tiếp tục được thử thách trong từng bước chuyển của giai đoạn phát triển mới.
Một là, niềm tin chính trị là nền móng tinh thần của cách mạng Việt Nam, là nơi hình thành đồng thuận xã hội và quy tụ sức mạnh dân tộc
Cuộc cách mạng nào cũng đòi hỏi lực lượng vật chất, tổ chức lãnh đạo và phương pháp đấu tranh phù hợp. Nhưng những nhân tố ấy chỉ phát huy đầy đủ sức mạnh khi được đặt trên một nền móng tinh thần đủ vững. Với Việt Nam, nền móng đó được tạo lập từ niềm tin của Nhân dân vào tính đúng đắn của mục tiêu cách mạng và vào khả năng lãnh đạo của Đảng. Trước khi Đảng ra đời, dân tộc ta không thiếu lòng yêu nước, không thiếu tinh thần quật khởi, nhưng các phong trào cứu nước vẫn lâm vào khủng hoảng về đường lối, phân tán về tổ chức và thiếu một hệ mục tiêu đủ sức quy tụ toàn dân tộc.
Đảng ra đời đã giải quyết cuộc khủng hoảng ấy, xác lập con đường cứu nước phù hợp với quy luật phát triển của dân tộc và thời đại. Từ đây, những khát vọng yêu nước rời rạc được thống nhất trong một mục tiêu chính trị rõ ràng; lòng yêu nước được nâng lên thành ý chí cách mạng; sự bất bình trước áp bức được chuyển hóa thành hành động có tổ chức. Niềm tin chính trị làm cho những con người khác nhau về vùng miền, nghề nghiệp, tín ngưỡng, điều kiện sống và trình độ nhận thức có thể gặp nhau ở lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc.
Trong những bước ngoặt lớn của cách mạng, khi thử thách dồn đến, khi tương quan lực lượng bất lợi, khi điều kiện vật chất thiếu thốn và khi tương lai dân tộc đứng trước những lựa chọn nghiệt ngã, điều giữ cho một cộng đồng không rơi vào tan rã nhiều khi không phải những gì đang có trong tay, mà là điều đang được giữ trong lòng. Khi Nhân dân tin vào chính nghĩa, sức chịu đựng của xã hội lớn hơn giới hạn thông thường. Khi Nhân dân tin vào mục tiêu lịch sử, sự hy sinh có được ý nghĩa và vì thế trở thành động lực hành động. Khi cả dân tộc cùng giữ một điểm tựa tinh thần, sự cộng hưởng của niềm tin sẽ tạo ra nguồn lực mà không một phép đo vật chất thuần túy nào có thể lý giải trọn vẹn.
Chính từ góc nhìn đó, có thể khẳng định niềm tin chính trị là nền móng tinh thần của cách mạng Việt Nam. Nó không thay thế tổ chức, không thay thế đường lối, không thay thế lực lượng vật chất, nhưng làm cho tổ chức có sức sống, làm cho đường lối có điểm tựa trong lòng dân, làm cho lực lượng vật chất được huy động vào mục tiêu chung. Nền móng ấy càng vững, cách mạng càng có khả năng vượt qua biến cố, nền móng ấy càng sâu, sức mạnh dân tộc càng bền.
Hai là, lịch sử cách mạng Việt Nam chứng minh niềm tin của Nhân dân vào Đảng là mạch nguồn sâu xa làm nên những thắng lợi lớn của dân tộc
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là minh chứng tiêu biểu cho sức mạnh của niềm tin chính trị khi được khơi dậy đúng hướng và được tổ chức bằng đường lối đúng. Một dân tộc còn nghèo, bị áp bức lâu dài, điều kiện vật chất hạn chế, song đã vùng lên giành chính quyền trong một thời gian rất ngắn. Nếu chỉ nhìn vào thời cơ quốc tế, vào sự suy yếu của kẻ thù hay vào tình thế chính trị lúc bấy giờ thì chưa đủ để giải thích đầy đủ thắng lợi đó. Đằng sau thời cơ lịch sử là sự tích tụ niềm tin rất lớn trong lòng quần chúng.
Nhân dân tin rằng mình có quyền đứng lên làm chủ vận mệnh đất nước; tin rằng mục tiêu độc lập dân tộc là chính nghĩa và khả thi; tin rằng có một lực lượng lãnh đạo đủ bản lĩnh, trí tuệ và năng lực tổ chức để biến khát vọng độc lập thành hiện thực. Khi niềm tin đạt đến độ chín trong lòng xã hội, sức mạnh của quần chúng mới được giải phóng, được quy tụ và được chuyển hóa thành hành động cách mạng có tính bước ngoặt.
Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ càng cho thấy chiều sâu của vấn đề. Chiến tranh giữ nước chưa bao giờ chỉ là cuộc đọ sức của vũ khí, trang bị và nguồn lực vật chất. Ở tầng sâu hơn, đó là cuộc đọ sức giữa những ý chí chính trị, giữa những nền tảng tinh thần và giữa những quan niệm về lẽ phải lịch sử. Dân tộc Việt Nam có thể đi qua chiến tranh trường kỳ, chấp nhận những hy sinh vô cùng lớn, giữ vững quyết tâm chiến đấu đến cùng bởi trong lòng dân tộc có niềm tin bền chặt vào chính nghĩa của cuộc kháng chiến, vào sự lãnh đạo của Đảng, vào ngày mai thống nhất đất nước.
Trong thời kỳ hòa bình, đặc biệt từ khi đất nước tiến hành đổi mới, niềm tin chính trị tiếp tục hiện diện như mạch nguồn sâu xa của phát triển. Công cuộc đổi mới là một chuyển động lớn về tư duy phát triển, mô hình kinh tế, tổ chức thể chế và phương thức quản trị xã hội. Bất kỳ sự chuyển động nào ở quy mô ấy cũng tạo ra sức ép lớn về nhận thức, lợi ích và tâm lý xã hội. Nếu không có niềm tin vào đường lối đổi mới, vào năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng, vào triển vọng phát triển của đất nước, xã hội khó có thể giữ được sức bền trong những năm tháng đầu đầy thiếu thốn, biến động và thử thách.
Sau 40 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao, đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao, quốc phòng, an ninh được giữ vững, đối ngoại và hội nhập quốc tế được mở rộng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh. Những thành tựu đó không chỉ làm thay đổi diện mạo đất nước, mà còn tạo cơ sở hiện thực để củng cố niềm tin của Nhân dân. Niềm tin trong đổi mới không còn chỉ dựa vào ký ức lịch sử, mà được bồi đắp bằng kết quả phát triển, bằng sự cải thiện đời sống và bằng sự chứng minh rằng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là phù hợp với thực tiễn dân tộc và xu thế thời đại.
Từ bài học lịch sử ấy, có thể rút ra một kết luận có ý nghĩa phương pháp luận: Niềm tin của Nhân dân vào Đảng luôn là mạch nguồn âm thầm nhưng quyết định của sức mạnh cách mạng Việt Nam. Đường lối đúng mở ra phương hướng; tổ chức đúng tạo thành lực lượng; niềm tin của Nhân dân làm cho phương hướng ấy và lực lượng ấy có sức sống xã hội. Khi ý Đảng gặp lòng dân, khi mục tiêu chính trị của Đảng hòa vào khát vọng sâu xa của dân tộc, sức mạnh cách mạng sẽ vượt lên những giới hạn thông thường.
Ba là, trong kỷ nguyên phát triển mới, bồi đắp niềm tin chính trị là yêu cầu chiến lược vì đó là điều kiện để khơi dậy sức mạnh nội sinh và nâng cao năng lực phát triển của đất nước
Giai đoạn hiện nay đặt ra cho đất nước những yêu cầu rất mới về tầm nhìn chiến lược, chất lượng thể chế, năng lực quản trị quốc gia, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các không gian truyền thống và phi truyền thống,... Trong bối cảnh ấy, sức mạnh quốc gia không thể được hiểu một chiều từ tài nguyên, vốn đầu tư, cơ sở vật chất hay quy mô thị trường. Những yếu tố đó có ý nghĩa lớn, nhưng nền tảng sâu hơn vẫn nằm ở chất lượng con người, ở lòng dân, ở đồng thuận xã hội và ở niềm tin vào triển vọng phát triển của đất nước.
Niềm tin chính trị trong kỷ nguyên phát triển mới vì vậy phải được nhìn như một thành tố của năng lực phát triển quốc gia. Một quốc gia muốn đi nhanh phải có nguồn lực, nhưng muốn đi xa phải có niềm tin xã hội. Niềm tin làm cho các tầng lớp Nhân dân chấp nhận đổi mới, dám sáng tạo, dám cống hiến và cùng chia sẻ trách nhiệm trước tương lai đất nước. Không có niềm tin, cải cách dễ bị nhìn bằng tâm lý nghi ngại; có niềm tin, những quyết sách lớn mới có khả năng đi vào đời sống bằng sự đồng thuận và hành động tự giác của xã hội.
Đại hội XIV xác định mục tiêu chung của giai đoạn mới là phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó nhấn mạnh yêu cầu: “Củng cố niềm tin, phát huy sức sáng tạo, ý chí và khát vọng phát triển của toàn dân tộc tạo động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên phát triển mới”[1]. Nhận định này đặt niềm tin cùng với sức sáng tạo, ý chí và khát vọng phát triển, nghĩa là niềm tin không chỉ thuộc lĩnh vực tinh thần theo nghĩa hẹp, mà trực tiếp tham gia vào cấu trúc động lực phát triển của đất nước.
Muốn niềm tin chính trị bền vững trong giai đoạn hiện nay, bản thân đời sống chính trị và đời sống phát triển phải có chất lượng thực chất. Niềm tin được bồi đắp khi đường lối đúng được hiện thực hóa bằng kết quả phát triển; khi chính sách công bằng, minh bạch và có khả năng đi tới đúng đối tượng thụ hưởng; khi quyền lực được kiểm soát; khi đội ngũ cán bộ có trách nhiệm; khi bộ máy hành động vì dân; khi Nhân dân cảm nhận rõ lợi ích chính đáng của mình trong từng chuyển động của đất nước. Niềm tin không thể chỉ được kêu gọi bằng lời nói, niềm tin phải được nuôi dưỡng bằng trải nghiệm xã hội, bằng chất lượng quản trị, bằng sự liêm chính của bộ máy, bằng hiệu quả phục vụ Nhân dân và bằng khả năng xử lý những vấn đề thiết thân của đời sống.
Ở chiều ngược lại, mọi âm mưu chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay đều đánh mạnh vào niềm tin. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thường khai thác hạn chế, khoét sâu khuyết điểm, lấy hiện tượng phủ định bản chất, gây nhiễu nhận thức, kích thích tâm lý hoài nghi, làm suy giảm sự tín nhiệm của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Trong môi trường truyền thông số, sự bào mòn niềm tin có thể diễn ra nhanh hơn, tinh vi hơn và khó nhận diện hơn. Vì vậy, giữ vững và bồi đắp niềm tin chính trị hôm nay là một yêu cầu trực tiếp của phát triển đất nước, đồng thời là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc và củng cố thế trận lòng dân vững chắc.
Niềm tin chính trị là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam, bởi từ đó đồng thuận xã hội được hình thành, đoàn kết dân tộc được củng cố, ý chí chính trị được nâng đỡ và khát vọng phát triển được chuyển hóa thành hành động lịch sử. Sức mạnh ấy không phải lúc nào cũng hiện ra ồn ào trên bề mặt đời sống, nhưng lại là phần sâu nhất tạo nên sức bền của đất nước trong những giai đoạn đầy thử thách. Giữ vững và bồi đắp niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ vì thế chính là giữ gìn nền tảng tinh thần của xã hội, bảo vệ cội nguồn sâu xa của sức mạnh dân tộc và tạo dựng điều kiện bên trong để đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
II. Để dân tin, Đảng phải vững, cán bộ phải gương mẫu
Đảng giành được niềm tin của Nhân bởi hiệu quả lãnh đạo, bằng chất lượng đội ngũ cán bộ và tinh thần phục vụ Nhân dân. Đảng vững thì xã hội có điểm tựa; cán bộ gương mẫu thì niềm tin của Nhân dân được bồi đắp, củng cố. Trong kỷ nguyên mới, giữ vững niềm tin của Nhân dân không chỉ là yêu cầu về công tác tư tưởng, mà còn là yêu cầu trực tiếp đối với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiểm soát quyền lực, nâng cao đạo đức công vụ của mỗi cán bộ, đảng viên.
Niềm tin chính trị của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ được hình thành trong một quá trình lịch sử lâu dài, đi qua đấu tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng, công cuộc đổi mới và tiếp tục được kiểm chứng trong từng bước phát triển của đất nước hôm nay. Nhân dân đặt niềm tin vào Đảng khi nhận ra ở Đảng một lực lượng lãnh đạo có đường lối đúng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực tổ chức thực hiện, có khả năng tự sửa chữa khuyết điểm và có trách nhiệm đến cùng với lợi ích quốc gia, dân tộc, với đời sống của Nhân dân. Ở tầng sâu hơn, niềm tin ấy được bảo đảm bằng cảm nhận rất cụ thể rằng, quyền lực chính trị đang được sử dụng để phụng sự lợi ích chung, bảo vệ công bằng, mở rộng cơ hội phát triển, giữ cho xã hội vận hành trong ổn định, kỷ cương, văn minh.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Nhân dân đánh giá Đảng bằng chất lượng lãnh đạo, bằng hiệu lực của bộ máy, bằng phẩm chất của đội ngũ cán bộ, bằng khả năng giải quyết những vấn đề thiết thân của xã hội và bằng mức độ mà quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình được tôn trọng, bảo đảm. Một chủ trương dù đúng đắn đến đâu cũng chỉ thật sự có sức thuyết phục khi đi vào đời sống bằng kết quả cụ thể: thủ tục hành chính có thuận lợi hơn không, cán bộ có gần dân hơn không, chính sách có đến đúng người thụ hưởng không, sai phạm có bị xử lý nghiêm không, tiếng nói của dân có được lắng nghe không,... Vì vậy, muốn giữ vững niềm tin của Nhân dân, phải làm cho niềm tin có chỗ dựa trong thực tế. Chỗ dựa ấy nằm ở sự trong sạch, vững mạnh của Đảng; ở chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; ở sự nghiêm minh của kỷ luật, pháp luật; ở hiệu quả phục vụ dân của bộ máy; ở khả năng giữ cho quyền lực luôn vận hành trong khuôn khổ lợi ích quốc gia - dân tộc và lợi ích của Nhân dân.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu đó càng trở nên cấp thiết. Đất nước đang đứng trước những nhiệm vụ lớn về hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, phát triển nhanh và bền vững, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, xây dựng nền kinh tế tự chủ và hội nhập sâu rộng. Mỗi quyết sách lớn chỉ có thể đi vào cuộc sống bằng sức mạnh của tổ chức thực hiện và sự đồng thuận của xã hội. Khi Đảng vững, bộ máy mạnh, cán bộ đủ uy tín, niềm tin của Nhân dân trở thành lực đẩy cho phát triển. Khi Đảng yếu ở khâu tổ chức, khâu cán bộ hoặc khâu thực thi, niềm tin bị ảnh hưởng thì ngay cả chủ trương đúng cũng khó phát huy đầy đủ hiệu lực.
Một là, Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện thì niềm tin của Nhân dân mới có nền móng bền vững
Nhân dân đặt niềm tin vào Đảng, trước hết, vì Đảng có khả năng chỉ ra con đường phát triển đúng cho dân tộc và tổ chức thực hiện con đường ấy bằng bản lĩnh, trí tuệ, trách nhiệm chính trị. Khi đã trở thành đảng cầm quyền, Đảng không thể chỉ dựa vào quá khứ vẻ vang hay công lao lịch sử để duy trì niềm tin. Niềm tin trong điều kiện cầm quyền đòi hỏi cơ sở hiện thực hơn nhiều. Đó là sự trong sạch về chính trị, thống nhất về ý chí, chặt chẽ về tổ chức, nghiêm minh về kỷ luật, mẫu mực về đạo đức và hiệu quả trong lãnh đạo, quản trị. Một đảng cầm quyền yếu ở bất kỳ mắt xích nào trong số đó đều tác động trực tiếp đến chất lượng niềm tin xã hội.
Sự vững mạnh của Đảng được tạo dựng bằng quá trình tự soi, tự sửa, tự đổi mới và tự chỉnh đốn không ngừng. Một đảng cầm quyền muốn lãnh đạo xã hội đi lên phải có năng lực tự làm trong sạch chính mình. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vì thế có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi nội bộ. Khi Đảng chủ động sửa những bất cập của tổ chức bộ máy, chấn chỉnh lề lối làm việc, siết lại kỷ luật, kiểm soát quyền lực, kiên quyết xử lý biểu hiện suy thoái, Nhân dân nhìn thấy ở đó một tinh thần chính trị căn bản: Đảng không buông lỏng chính mình, không dễ dãi với chính mình, không né tránh khuyết điểm của chính mình. Niềm tin của Nhân dân được bồi đắp rất nhiều từ tinh thần ấy.
Trong thực tế, Nhân dân có thể chia sẻ với những khó khăn khách quan của quá trình phát triển, nhưng không thể an tâm trước một lực lượng cầm quyền tự mãn, trì trệ hoặc dễ dãi với yếu kém của mình. Đất nước càng phát triển, yêu cầu của Nhân dân đối với Đảng càng cao. Nhân dân không chỉ mong Đảng có đường lối đúng, mà còn mong Đảng đủ mạnh để tổ chức thực hiện đường lối ấy; không chỉ mong Đảng nghiêm với xã hội, mà còn mong Đảng nghiêm với chính mình; không chỉ mong bộ máy có thẩm quyền, mà còn mong quyền lực được sử dụng đúng mục đích, đúng pháp luật, đúng đạo lý phục vụ dân.
Muốn dân tin, Đảng phải mạnh từ bên trong. Sức mạnh ấy là sự thống nhất giữa bản lĩnh chính trị, chất lượng lãnh đạo, năng lực cầm quyền và phẩm chất đạo đức cách mạng. Khi Đảng mạnh về tư tưởng, đúng về đường lối, nghiêm về kỷ luật, chặt về tổ chức và quyết liệt trong tự đổi mới, niềm tin của Nhân dân sẽ có nền móng vững chắc. Niềm tin của dân vào Đảng không phải điều được trao một lần rồi mặc nhiên tồn tại mãi; niềm tin ấy phải được Đảng gìn giữ bằng chính chất lượng tồn tại và chất lượng cầm quyền của mình trong từng giai đoạn lịch sử.
Hai là, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải thật sự gương mẫu thì niềm tin của Nhân dân mới đi vào đời sống bằng những hình ảnh cụ thể
Đối với phần lớn người dân, Đảng hiện ra trong đời sống hằng ngày qua đội ngũ cán bộ, đảng viên: qua cách tiếp dân, cách giải quyết hồ sơ, cách ứng xử với dân, thái độ thực thi công vụ và việc sử dụng quyền lực. Vì thế, cán bộ là hình ảnh gần nhất của Đảng trong đời sống xã hội. Một cán bộ tận tụy, liêm chính, trách nhiệm, biết lắng nghe, giải quyết công việc đến nơi đến chốn sẽ làm cho người dân thêm tin vào tổ chức mà người ấy đại diện. Ngược lại, một cán bộ quan liêu, hách dịch, vô cảm, né tránh trách nhiệm hoặc lợi dụng quyền lực vì lợi ích riêng sẽ gây tổn hại không chỉ cho uy tín cá nhân, mà còn làm giảm sút niềm tin đối với cơ quan, bộ máy và rộng hơn là đối với Đảng.
Cán bộ gương mẫu là người giữ được sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa trách nhiệm chính trị và đạo lý công vụ, giữa quyền hạn được giao và nghĩa vụ phục vụ Nhân dân. Sự gương mẫu ấy không chỉ thể hiện trong những sự kiện lớn, mà trước hết trong những việc nhỏ, thường ngày: đúng giờ, đúng hẹn, đúng quy trình, đúng pháp luật, đúng thái độ phục vụ; không gây phiền hà, không né tránh, không đùn đẩy, không thờ ơ trước bức xúc của dân. Trong đời sống công vụ, có khi một lời nói thiếu chuẩn mực, một hồ sơ bị kéo dài vô lý, một thái độ vô cảm trước khó khăn của người dân cũng có thể làm tổn thương niềm tin nhiều hơn những điều tưởng như lớn lao. Trong giai đoạn hiện nay, vai trò nêu gương của cán bộ càng trở nên quyết định bởi đất nước đang chuyển mạnh sang yêu cầu quản trị hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và phụng sự. Khi bộ máy được tinh gọn hơn, trách nhiệm cá nhân phải rõ hơn. Khi phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh, năng lực và đạo đức của người thực thi càng có ý nghĩa trực tiếp.
Muốn dân tin, cần xây dựng cho được đội ngũ cán bộ mà ở đó tính đảng, văn hóa công vụ và tính nêu gương hòa vào nhau trong từng công việc cụ thể. Cán bộ càng có chức vụ cao càng phải gương mẫu; càng đứng gần dân càng phải trọng dân; càng được giao nhiều quyền lực càng phải tự ràng buộc mình bằng liêm chính và trách nhiệm. Chỉ khi Nhân dân thấy Đảng hiện diện qua những con người sống đúng, làm đúng, nói đi đôi với làm và chịu trách nhiệm đến cùng, niềm tin mới đi vào đời sống xã hội một cách bền vững.
Ba là, quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ, kỷ luật phải được giữ nghiêm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải bị xử lý kiên quyết thì niềm tin của Nhân dân mới được bảo vệ bằng việc làm thực tế
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nguy cơ làm tổn thương niềm tin của dân nhiều khi không bắt đầu từ những sai lầm lý luận lớn, mà xuất phát từ sự tha hóa trong thực thi quyền lực. Khi quyền lực không được kiểm soát chặt chẽ, khi kỷ luật bị nới lỏng, khi lợi ích riêng chen vào quá trình sử dụng quyền lực công, hậu quả đầu tiên không chỉ là thất thoát tài sản hay sự méo mó của chính sách, mà còn là sự tổn thương đối với niềm tin của Nhân dân. Nhân dân có thể chấp nhận khó khăn khách quan của phát triển, nhưng không dễ chấp nhận tình trạng quyền lực bị lợi dụng để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm.
Niềm tin của dân được giữ bằng cảm nhận rõ ràng rằng cái sai bị xử lý nghiêm, quyền lực không nằm ngoài kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không có vùng cấm và không có ngoại lệ. Mỗi vụ việc tham nhũng, tiêu cực được phát hiện và xử lý nghiêm minh có tác dụng vượt ra ngoài phạm vi pháp lý của chính vụ việc ấy. Nó gửi đi một thông điệp chính trị rằng Đảng không chấp nhận sự tha hóa trong hàng ngũ của mình, rằng quyền lực phải đi kèm trách nhiệm, rằng lợi ích của Nhân dân và của quốc gia không thể bị hi sinh để bao che cho bất cứ cá nhân nào.
Đại hội XIV khẳng định: “Mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn”[2]. Đây không chỉ là nguyên tắc tổ chức quyền lực, mà còn là yêu cầu trực tiếp để bảo vệ niềm tin của Nhân dân. Một hệ thống mà quyền lực được ràng buộc bằng trách nhiệm, vận hành trong cơ chế giám sát chặt chẽ, chịu kiểm tra thường xuyên sẽ hạn chế rất nhiều khả năng phát sinh tha hóa. Điều đó đem lại cảm giác an tâm cho xã hội, bởi Nhân dân không chỉ cần thấy sai phạm bị xử lý, mà còn cần thấy quyền lực được tổ chức theo hướng không cho cái sai có điều kiện nảy nở.
Kiểm soát quyền lực vì vậy phải đi cùng kiểm soát trách nhiệm. Không thể có niềm tin bền vững nếu quyền lực thì rõ mà trách nhiệm lại mờ; thẩm quyền thì lớn mà giải trình lại yếu; sai phạm thì có địa chỉ nhưng trách nhiệm chính trị lại bị né tránh. Muốn dân tin, phải làm cho Nhân dân thấy quyền lực công đang được vận hành dưới sự kiểm soát của kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước và sự giám sát xã hội. Chỉ trên nền tảng ấy, niềm tin mới có chiều sâu, chứ không dừng ở cảm xúc nhất thời trước những đợt chấn chỉnh.
Bốn là, mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân phải được củng cố bằng dân chủ thực chất, hiệu quả phục vụ và sự tôn trọng con người
Muốn dân tin thì mọi chủ trương, đường lối của Đảng phải bắt đầu từ lợi ích chính đáng của Nhân dân và quay trở lại phục vụ Nhân dân bằng kết quả thực tế. Niềm tin chính trị, xét đến cùng, không được giữ trong phạm vi nội bộ hệ thống chính trị, mà được kiểm chứng trong đời sống xã hội. Nhân dân đánh giá Đảng qua cách bộ máy phục vụ mình, qua cách cán bộ lắng nghe và đối thoại với mình, qua việc những vấn đề bức xúc của đời sống có được giải quyết hay không, qua mức độ mà quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình được tôn trọng và bảo đảm. Đại hội XIV yêu cầu “Quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc’”, đồng thời nhấn mạnh phải “lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ”[3]. Yêu cầu ấy đặt ra thước đo rất thực tế cho niềm tin. Niềm tin không chỉ nằm trong nhận thức chính trị, mà còn nằm trong trải nghiệm của người dân khi đến cơ quan công quyền, khi tiếp cận dịch vụ công, khi kiến nghị được lắng nghe, khi quyền lợi hợp pháp được bảo vệ, khi chính sách an sinh đến đúng đối tượng, khi cán bộ giải quyết công việc với tinh thần phụng sự.
Dân chủ trong điều kiện hiện nay cần được hiểu như một phương thức củng cố niềm tin chính trị. Khi Nhân dân được thông tin đầy đủ hơn, được lắng nghe nhiều hơn, được tham gia và phản ánh nhiều hơn, được đối thoại một cách thực chất hơn, niềm tin có cơ sở để bền vững. Khi bộ máy xa dân, thiếu minh bạch, giải quyết công việc chậm trễ, né tránh, đùn đẩy hoặc thiếu trách nhiệm, khoảng cách giữa Đảng với dân sẽ giãn ra và niềm tin sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân không thể dừng ở các hoạt động vận động mang tính hình thức. Điều cần hơn là làm cho Nhân dân cảm thấy bộ máy thực sự vận hành vì mình, các chủ trương thực sự gắn với cuộc sống của mình, sự tiến bộ của xã hội thực sự được đo bằng mức độ con người được phục vụ tốt hơn, được bảo vệ tốt hơn và được phát triển đầy đủ hơn. Nơi nào tổ chức đảng và chính quyền gần dân, sát dân, hiểu dân, giải quyết đúng những điều dân quan tâm, nơi ấy niềm tin được bồi đắp; nơi nào tiếng nói của Nhân dân được tôn trọng, lợi ích chính đáng của Nhân dân được bảo vệ, nơi ấy nền tảng tinh thần của chế độ thêm vững chắc; nơi nào cán bộ giải quyết công việc với tinh thần phụng sự, nơi ấy Nhân dân thấy Đảng gần gũi hơn.
Muốn dân tin, trước hết Đảng phải vững, cán bộ phải gương mẫu. Đây không chỉ là một đòi hỏi về đạo đức hay phong cách công tác, mà là một chân lý chính trị được rút ra từ toàn bộ thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đồng thời, cũng là con đường bền vững nhất để củng cố nền tảng tinh thần của chế độ, làm sâu sắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo thế đứng vững chắc cho Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
III. Bộ đội Cụ Hồ - Điểm tựa niềm tin của Nhân dân
Bộ đội Cụ Hồ là hình tượng kết tinh bản chất cách mạng, tính nhân văn và tính dân tộc sâu sắc. Trong chiến tranh, Quân đội chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong hòa bình, Quân đội bảo vệ Nhân dân, giữ vững chủ quyền, giúp dân vượt qua hiểm nguy, góp phần dựng xây cuộc sống trên những địa bàn khó khăn nhất. Chính những phẩm chất và hành động đó, Bộ đội Cụ Hồ trở thành một điểm tựa tinh thần bền vững của Nhân dân trong kỷ nguyên phát triển mới.
Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ không tồn tại như một trạng thái tinh thần tách rời đời sống, mà luôn được nuôi dưỡng, được kiểm chứng và được củng cố thông qua những lực lượng mà Nhân dân trực tiếp nhìn thấy, trực tiếp tiếp xúc, trực tiếp cảm nhận trong từng biến cố của đất nước. Trong hệ thống chính trị nước ta, Quân đội nhân dân Việt Nam giữ một vị trí rất đặc biệt ở phương diện này. Nhân dân nhìn Quân đội không chỉ như một lực lượng vũ trang bảo vệ Tổ quốc, mà còn như một lực lượng chính trị - xã hội mang bản chất từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, hi sinh. Từ đó, niềm tin của Nhân dân đối với Quân đội hình thành và ngày thêm bền vững.
Nói tới Bộ đội Cụ Hồ là nói tới một biểu tượng chính trị - văn hóa rất riêng của Việt Nam. Danh hiệu ấy là kết quả của sự gặp gỡ giữa bản chất cách mạng của Quân đội với trải nghiệm lịch sử của Nhân dân trong suốt chiều dài đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Trong tên gọi ấy lắng đọng lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; lắng đọng tinh thần kỷ luật, đức hi sinh, lối sống trong sạch, giản dị, nghĩa tình; lắng đọng cả một hệ giá trị làm cho Quân đội đi vào lòng dân như một bộ phận đáng tin cậy của chế độ. Nhân dân trao cho Quân đội danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ vì ở đó, Nhân dân nhận ra lý tưởng cách mạng không chỉ nằm trong lời nói, mà hiện thân trong con người, trong tổ chức, trong kỷ luật và trong hành động.
Trong mọi chế độ chính trị, niềm tin xã hội luôn cần những điểm tựa cụ thể. Điểm tựa ấy có thể là kết quả phát triển, hiệu quả quản trị, sự liêm chính của bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ. Nhưng trong những thời điểm đất nước đứng trước nguy cơ, thiên tai, thảm họa, bất ổn hoặc những thử thách lớn về quốc phòng, an ninh, Nhân dân luôn cần một lực lượng có khả năng hiện diện trực tiếp, tổ chức được sức mạnh, giữ được trật tự và mang lại cảm giác an tâm cho cộng đồng. Quân đội nhân dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu đó như một bộ phận máu thịt của Nhân dân. Chính ở điểm này, Quân đội trở thành chỗ dựa của niềm tin vì Quân đội đem lại cho xã hội cảm giác rằng trong bất cứ tình huống nào, đất nước vẫn có một lực lượng đủ trung thành, đủ kỷ luật, đủ bản lĩnh và đủ tinh thần hi sinh để bảo vệ dân, giữ nước và gìn giữ những giá trị căn bản của chế độ.
Bước vào kỷ nguyên mới, vị trí ấy của Quân đội càng có ý nghĩa sâu sắc hơn. Đất nước đang phát triển trong điều kiện hòa bình, hội nhập và đổi mới mạnh mẽ, nhưng môi trường chiến lược diễn biến ngày càng phức tạp; thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen; không gian mạng, thiên tai cực đoan, dịch bệnh, sự cố môi trường, khủng hoảng thông tin và các hình thái tác động mới tới ổn định xã hội ngày càng đa dạng. Trong bối cảnh ấy, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ cần được nâng đỡ bằng những lực lượng đủ sức hiện thực hóa đường lối ở những nơi khó khăn nhất, vào những thời điểm nhạy cảm nhất. Quân đội có vai trò đặc biệt ở phương diện đó: vừa là lực lượng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; vừa là lực lượng giữ gìn bình yên, chia sẻ mất mát, giúp dân vượt qua hiểm nghèo và góp phần kiến tạo điều kiện phát triển trên những địa bàn chiến lược.
Một là, trong chức năng đội quân chiến đấu, Quân đội nhân dân Việt Nam tạo ra chỗ dựa sâu nhất của niềm tin xã hội, bởi ở đó tập trung ý chí bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ và bảo vệ môi trường hòa bình cho phát triển
Nhân dân tin Quân đội trước hết vì Quân đội là lực lượng trực tiếp cầm súng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Đây là chức năng cốt lõi làm nên vị trí không thể thay thế của Quân đội trong hệ thống chính trị và trong lòng dân. Một dân tộc muốn phát triển lâu dài phải có khả năng tự bảo vệ mình trước mọi nguy cơ xâm phạm từ bên ngoài. Một chế độ muốn đứng vững phải có lực lượng đủ trung thành, đủ sức mạnh, đủ kỷ luật và đủ bản lĩnh để bảo vệ nền tảng tồn tại của chế độ ấy. Trong ý nghĩa đó, chức năng đội quân chiến đấu của Quân đội là phương diện tập trung nhất của năng lực tự vệ dân tộc và của ý chí giữ nước được tổ chức thành sức mạnh hiện thực.
Niềm tin của Nhân dân đối với Quân đội ở phương diện này gắn trực tiếp với nhận thức rằng hòa bình, ổn định và phát triển của đất nước đang có một điểm tựa đủ tin cậy. Khi Quân đội của đất nước đang có một điểm tựa đủ tin cậy. Khi Quân đội không ngừng trưởng thành về tổ chức, trình độ làm chủ vũ khí, trang bị, khả năng hiệp đồng, năng lực dự báo, xử lý tình huống quốc phòng, Nhân dân có cơ sở để tin rằng đất nước không bị đặt trong trạng thái bị động trước những biến động của thời cuộc. Đại hội XIV của Đảng xác định: “Tiếp tục xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của đất nước” [4]. Yêu cầu đó đặt niềm tin của Nhân dân trên nền tảng của một thực lực quốc phòng ngày càng vững chắc.
Ở tầng sâu hơn, Quân đội là hiện thân của ý chí độc lập và năng lực tự bảo vệ của dân tộc. Một dân tộc có thể nghèo trong một giai đoạn, có thể phải đối diện với nhiều khó khăn khách quan, nhưng nếu đánh mất khả năng tự bảo vệ thì mọi thành quả phát triển đều trở nên mong manh. Quân đội nhân dân Việt Nam giữ cho dân tộc điều tối quan trọng ấy “khả năng tự bảo vệ mình”. Nhân dân tin Quân đội vì từ Quân đội, Nhân dân nhận ra đất nước mình có đủ bản lĩnh và lực lượng để bảo vệ chính mình. Đó là niềm tin mang ý nghĩa chính trị rất sâu, nó làm cho tình yêu Tổ quốc có điểm tựa cụ thể, làm cho khát vọng phát triển gắn với cảm giác an toàn chiến lược và làm cho Nhân dân tin rằng tương lai đất nước đang được giữ gìn bằng kỷ luật, trí tuệ, ý chí của một quân đội trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và Nhân dân.
Hai là, trong chức năng đội quân công tác, hình tượng Bộ đội Cụ Hồ đi vào đời sống thường nhật của Nhân dân, làm cho niềm tin chính trị có hình hài cụ thể và sức lan tỏa bền sâu
Nếu chức năng đội quân chiến đấu tạo cho Nhân dân niềm tin vào sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, thì chức năng đội quân công tác làm cho niềm tin ấy bước ra khỏi bình diện biểu tượng để đi vào đời sống hằng ngày. Quân đội có mặt ở những nơi thiên tai vừa đi qua, ở những vùng dân cư cần sơ tán, ở những địa bàn xa xôi cần củng cố cơ sở chính trị, ở những cộng đồng đang thiếu chỗ dựa tinh thần giữa lúc gian nan. Từ thực tiễn ấy, Bộ đội Cụ Hồ hiện lên như một lực lượng mà Nhân dân có thể nhìn thấy bằng mắt, chạm tới bằng trải nghiệm sống và đo bằng sự tận tụy trong hành động. Chính sự hiện diện gần gũi, đúng lúc, đúng chỗ ấy làm cho niềm tin của Nhân dân đối với chế độ được cụ thể hóa thành cảm nhận sống động. Trong những lúc khó khăn nhất, Nhà nước và chế độ hiện diện ở ngay nơi Nhân dân cần nhất, thông qua người chiến sĩ.
Sức mạnh chính trị - xã hội của đội quân công tác nằm ở chỗ nó bồi đắp thế trận lòng dân từ đời sống thực. Lòng dân được xây dựng từ niềm tin, từ trải nghiệm, từ cách Nhân dân cảm nhận trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các lực lượng của chế độ đối với cuộc sống của mình. Khi bộ đội có mặt giữa bão lũ, giữa đổ nát, giữa hiểm nguy, giữa mất mát của dân, điều được củng cố không chỉ là sự biết ơn đối với một lực lượng giúp dân. Sâu hơn, đó là cảm nhận rằng chế độ này có trách nhiệm với con người, quyền lực chính trị đang vận hành vì dân và giữa những khắc nghiệt của cuộc sống vẫn có một lực lượng nhận phần gian khổ về mình để giữ cho xã hội không rơi vào hoảng loạn, đứt gãy hay tuyệt vọng.
Chức năng đội quân công tác vì vậy có chiều sâu vượt lên trên việc giúp dân theo nghĩa thông thường. Quân đội làm công tác dân vận, xây dựng cơ sở, củng cố địa bàn, tham gia phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, xử lý tình huống khẩn cấp, đồng hành cùng dân ở những nơi sự hiện diện của Nhà nước cần phải mạnh, rõ và tin cậy nhất. Từ đó, Quân đội trực tiếp tham gia giữ ổn định xã hội, ngăn ngừa đứt gãy niềm tin và làm vững thêm mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân. Trong điều kiện mới, chức năng đội quân công tác cần được nhận thức như một phương diện cốt lõi của sức mạnh Quân đội. Bộ đội Cụ Hồ đi vào lòng dân vì biết hiện diện trong cuộc sống của dân bằng trách nhiệm, nghĩa tình và sự tận tụy đến cùng.
Ba là, trong chức năng đội quân lao động sản xuất và tham gia xây dựng địa bàn chiến lược, Quân đội góp phần làm cho niềm tin của Nhân dân bám rễ vào những đổi thay thực chất của đời sống
Niềm tin của Nhân dân đối với Quân đội và đối với chế độ không chỉ được tạo nên từ những thời điểm đặc biệt của chiến tranh, thiên tai hay thảm họa. Niềm tin bền vững còn phải được nâng đỡ bằng những điều kiện sống cụ thể, bằng sinh kế, bằng ổn định xã hội, bằng cơ sở vật chất thiết yếu, bằng những đổi thay mà người dân có thể cảm nhận trong đời sống thường ngày. Ở phương diện này, chức năng đội quân lao động sản xuất và tham gia xây dựng địa bàn chiến lược của Quân đội mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc. Quân đội tham gia phát triển kinh tế - xã hội trên những địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo để tạo ra sự gắn kết giữa phát triển với giữ đất, giữa an cư của dân với an ninh địa bàn, giữa sinh kế bền vững với thế trận lòng dân vững chắc.
Ở những vùng chiến lược, khó khăn và nhạy cảm, Quân đội thường không hiện diện như một lực lượng hỗ trợ nhất thời, mà như một chủ thể góp phần định hình trật tự phát triển từ cơ sở. Những chương trình kinh tế - quốc phòng, những mô hình giúp dân ổn định đời sống, những công trình dân sinh, những hỗ trợ về sinh kế, sản xuất, hạ tầng đều có giá trị vượt lên trên bình diện vật chất thuần túy. Giá trị sâu hơn, làm cho Nhân dân nhận ra rằng sự hiện diện của Quân đội gắn với sự ổn định của cuộc sống, với cơ hội vươn lên và với một cảm giác an tâm lâu dài trên chính mảnh đất của mình. Khi Nhân dân biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa thấy mình không bị bỏ lại phía sau, thấy có một lực lượng cùng mình dựng làng, giữ đất, tạo sinh kế và bảo vệ cộng đồng, niềm tin đối với Quân đội không chỉ là sự kính trọng, mà trở thành sự gắn bó bền sâu.
Từ đây có thể thấy, người lính không chỉ giữ nước bằng súng đạn, không chỉ cứu dân trong hoạn nạn, mà còn góp phần tạo dựng nền tảng vật chất - xã hội cho lòng dân bền vững. Một địa bàn có dân cư ổn định, có sinh kế, có hạ tầng, có cơ sở chính trị được củng cố và có Quân đội đồng hành trong phát triển sẽ là một địa bàn vừa vững về quốc phòng, vừa sâu về niềm tin. Sự phát triển bền vững không thể tách khỏi nền tảng xã hội bền vững, còn nền tảng xã hội bền vững luôn cần một chỗ dựa chính trị - tinh thần đủ chắc. Bộ đội Cụ Hồ trở thành điểm tựa niềm tin của Nhân dân, trong ý nghĩa đầy đủ, chính là vì Quân đội góp phần giữ cho Tổ quốc được bảo vệ, cho dân được che chở và cho đời nghĩa đầy đủ, chính là vì Quân đội góp phần giữ cho Tổ quốc được bảo vệ, cho dân được che chở và cho đời sống được dựng xây.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc giữ vững và phát huy hình tượng Bộ đội Cụ Hồ đặt ra yêu cầu rất cao. Hình tượng ấy phải tiếp tục được bồi đắp bằng bản lĩnh chính trị, sức mạnh chiến đấu, chất lượng công tác dân vận, kỷ luật quân đội, sự trong sạch của đội ngũ và những đóng góp thực chất của Quân đội đối với đất nước, Nhân dân. Khi đời sống xã hội biến động nhanh, môi trường thông tin phức tạp, các giá trị tốt đẹp càng cần được hiện thân trong những lực lượng có uy tín và có sức thuyết phục thực tế. Bộ đội Cụ Hồ là một chuẩn mực như vậy.
Giữ vững hình tượng Bộ đội Cụ Hồ trong giai đoạn hiện nay không chỉ là giữ một danh hiệu cao quý, mà là giữ một chuẩn mực niềm tin của Nhân dân đối với Quân đội và rộng hơn là đối với chế độ. Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, kỷ luật, năng lực chuyên môn, tinh thần gần dân, trọng dân, giúp dân và bảo vệ dân. Quân đội càng tiến lên hiện đại càng phải giữ vững tính nhân dân; càng làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại càng phải làm sáng hơn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; càng đứng trước những thách thức mới càng phải chứng minh bằng hành động rằng mình là lực lượng trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Quân đội trong điều kiện lịch sử mới cũng chính là giữ vững một điểm tựa tinh thần rất quan trọng của chế độ trong lòng dân. Khi Bộ đội Cụ Hồ còn sáng trong đời sống Nhân dân, niềm tin chính trị còn có một hình ảnh cụ thể để bám vào; khi Quân đội tiếp tục xứng đáng là lực lượng từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, vì Nhân dân mà phụng sự, nền tảng tinh thần của xã hội sẽ thêm vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc sẽ được bồi đắp, đất nước sẽ có thêm điểm tựa để tiến vững chắc trong kỷ nguyên mới./.
Ths Đặng Văn Tiến
Khoa KHXH&NV, Trường Sĩ quan Thông tin
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, t.II, tr.387.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.99.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.237-238.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.387.




