Đắk Lắk từ lâu đã được biết đến là thủ phủ nông sản lớn bậc nhất của cả nước, sở hữu những mặt hàng chiến lược mang tầm quốc tế như cà phê và sầu riêng. Thế nhưng, ngành nông nghiệp mũi nhọn này đang phải đối mặt với những thách thức chưa từng có do tác động của biến đổi khí hậu, chi phí vật tư đầu vào leo thang, và đặc biệt là thực trạng thiếu hụt lao động nông thôn ngày càng nghiêm trọng. Trước bối cảnh cấp bách đó, ngày 26/5/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Kế hoạch số 5063/KH-SNNMT về phát triển cơ giới hóa nông nghiệp và chế biến nông lâm thủy sản giai đoạn 2026-2030. Đây được xem là một quyết sách mang tính bước ngoặt, mở đường cho sự chuyển dịch mạnh mẽ từ phương thức canh tác phụ thuộc vào "sức người" sang chủ động bằng "sức máy". Sự thay đổi mang tính chiến lược này không chỉ hiện đại hóa quy trình sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm chủ lực, mà còn là nền tảng tất yếu để bảo đảm và khẳng định năng lực cạnh tranh của nông sản địa phương trên trường quốc tế.
Kế hoạch số 5063/KH-SNNMT được xây dựng dựa trên việc cụ thể hóa các định hướng lớn của Trung ương và Ủy ban nhân dân tỉnh, đặt ra những mục tiêu mang tính chiến lược và đột phá cho từng lĩnh vực cụ thể đến năm 2030. Trong lĩnh vực trồng trọt, tỉnh hướng tới một viễn cảnh đầy tham vọng khi phấn đấu đạt tỷ lệ cơ giới hóa tuyệt đối ở các khâu làm đất và chăm sóc, đồng thời nâng tỷ lệ thu hoạch bằng máy lên khoảng 70%. Sự chuyển dịch này cũng diễn ra mạnh mẽ trong ngành chăn nuôi và thủy sản khi trọng tâm sản xuất được dời sang việc tự động hóa quản lý chuồng trại, kiểm soát chặt chẽ môi trường nuôi và xử lý đồng bộ chất thải nhằm hướng tới sự phát triển bền vững. Song song đó, công nghệ bảo quản và chế biến sau thu hoạch cũng được đẩy mạnh đầu tư để giảm thiểu tỷ lệ tổn thất, thúc đẩy tỷ lệ chế biến sâu thay vì phụ thuộc vào xuất khẩu thô như trước đây. Nhằm hiện thực hóa những đích đến này, Đắk Lắk tập trung triển khai đồng bộ các nhóm nhiệm vụ từ hoàn thiện cơ chế chính sách, đẩy mạnh tuyên truyền đến nhân rộng các mô hình hiệu quả để tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong toàn ngành.
Nhìn từ góc độ kinh tế – xã hội, kế hoạch này không chỉ là một phương án vận hành mới mà còn là lời giải cấp thiết cho bài toán tồn tại của nông nghiệp địa phương. Việc thay thế phương thức canh tác thủ công bằng máy móc hiện đại giúp giải phóng sâu sắc sức lao động, trực tiếp bù đắp cho thực trạng già hóa dân số và làn sóng dịch chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị đang diễn ra gay gắt. Đồng thời, trước những yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế, việc duy trì và phát triển hàng trăm mã số vùng trồng xuất khẩu đối với các loại trái cây chủ lực như sầu riêng, xoài hay vải đòi hỏi nông sản phải đạt độ đồng đều tối đa về chất lượng và chuẩn an toàn. Điều mà phương thức thô sơ không thể đáp ứng, bắt buộc phải có sự can thiệp của cơ giới hóa và công nghệ hóa để kiểm soát triệt để quy trình sơ chế, làm sạch từ nhà xưởng đến tay người tiêu dùng. Việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ vào toàn bộ chuỗi sản xuất chính là đòn bẩy tối ưu hóa kinh tế, giúp giảm giá thành trên mỗi đơn vị diện tích và nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng, tạo cơ sở bền vững để người nông dân Đắk Lắk làm giàu thực chất từ chính mảnh ruộng của mình.
Để đưa những mục tiêu đầy tham vọng của Kế hoạch số 5063/KH-SNNMT từ văn bản vào thực tiễn sản xuất, tỉnh Đắk Lắk đã vạch ra một hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện, tác động trực tiếp và sâu sắc vào toàn bộ chuỗi giá trị của ngành. Giải pháp tiên quyết mang tính bệ đỡ chính là việc hoàn thiện thể chế và nâng cao nhận thức, thông qua việc xây dựng các cơ chế, chính sách thông thoáng, ưu đãi về thuế, tín dụng và đất đai nhằm thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội hóa. Quá trình này song hành với công tác tuyên truyền sâu rộng nhằm thay đổi căn bản tư duy của người nông dân, giúp họ dứt khoát xóa bỏ phương thức sản xuất manh mún, nhỏ lẻ để tiếp cận tư duy kinh tế nông nghiệp quy mô lớn. Trong cấu trúc này, các doanh nghiệp lớn giữ vai trò đầu tàu dẫn dắt về công nghệ, bao tiêu sản phẩm và định hình tiêu chuẩn thị trường; trong khi đó, các hợp tác xã đóng vai trò vệ tinh cốt lõi, kết nối các hộ nông dân riêng lẻ thành một khối thống nhất để đủ năng lực tiếp nhận các dòng máy móc công suất lớn. Đặc biệt, yếu tố chuyển đổi số và khoa học công nghệ được xác định là chìa khóa vận hành tối cao. Việc đưa công nghệ cao, hệ thống quản lý chuồng trại, tưới tiêu thông minh bằng AI, và giải pháp truy xuất nguồn gốc bằng mã QR vào quy trình vận hành không còn là viễn cảnh xa vời, mà được siết chặt bằng kỷ cương hành chính. Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cụ thể hóa bằng kế hoạch chi tiết ngay từ quý I hằng năm, kết hợp với chế độ báo cáo định kỳ 6 tháng để bảo đảm tiến độ thực thi được giám sát liên tục, không chồng chéo hay mang tính hình thức.
Dù sở hữu một lộ trình toàn diện và bài bản, Đắk Lắk vẫn cần phải nhìn nhận thẳng thắn những rào cản nội tại và thách thức khách quan đang hiện hữu. Rào cản lớn nhất nằm ở áp lực về vốn và hạ tầng cơ sở. Việc đầu tư vào hệ thống máy móc hiện đại, đồng bộ hay xây dựng các nhà máy chế biến sâu đối với các sản phẩm như cà phê, sầu riêng, ca cao và hồ tiêu đòi hỏi nguồn kinh phí khổng lồ – một con số vượt quá khả năng tích lũy của phần lớn các nông hộ nhỏ lẻ tại địa phương, trong khi hệ thống hạ tầng giao thông nội đồng và lưới điện phục vụ sản xuất tại nhiều vùng sâu, vùng xa vẫn chưa được hoàn thiện. Bên cạnh đó, năng lực tiếp cận công nghệ của lực lượng lao động nông thôn hiện tại đang là một điểm nghẽn lớn. Để vận hành và làm chủ được các thiết bị số, các hệ thống tự động hóa hay máy móc nông nghiệp thế hệ mới, địa phương bắt buộc phải thực hiện một cuộc cách mạng thực sự trong công tác đào tạo nghề và nâng cao trình độ kỹ thuật cho nông dân. Nếu không có những giải pháp tháo gỡ quyết liệt cho hai bài toán kinh tế và con người này, việc hiện thực hóa mục tiêu đầy áp lực như nâng tỷ lệ cơ giới hóa các khâu sản xuất lâm nghiệp, diêm nghiệp từ mức 15% lên trên 50%, hay duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định 10% giá trị gia tăng cho ngành công nghiệp chế biến nông sản sẽ phải đối mặt với nguy cơ phát triển lệch pha, thiếu đồng bộ và kém bền vững.
Kế hoạch phát triển cơ giới hóa nông nghiệp và chế biến nông lâm thủy sản giai đoạn 2026-2030 của tỉnh Đắk Lắk là biểu tượng mạnh mẽ cho một cuộc cách mạng về tư duy: dịch chuyển căn bản từ “sản xuất nông nghiệp” thuần túy sang phát triển nền “kinh tế nông nghiệp” quy mô và hiện đại. Để hiện thực hóa những mục tiêu chiến lược này, biến các con số trên văn bản thành quả ngọt thực tế trên những nông trường đất đỏ đại ngàn, đòi hỏi phải có sự đồng lòng, quyết liệt từ các cơ quan quản lý nhà nước cùng sự chủ động bứt phá, không ngại đổi mới của từng doanh nghiệp, hợp tác xã và mỗi người nông dân. Đây chính là con đường tất yếu và duy nhất để nông nghiệp Đắk Lắk bứt tốc phát triển bền vững, khẳng định vị thế và tự tin hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu./.
Lê Diệu Châu





