
Sản xuất nông, lâm, thủy sản tiếp tục duy trì ổn định và phát triển
Bước sang năm 2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa đã chủ động tham mưu, điều hành quyết liệt, bám sát các nghị quyết, chính sách của Chính phủ và Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh để ban hành kịp thời các chương trình, kế hoạch, kịch bản tăng trưởng nhằm hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch tỉnh giao phụ trách. Sở đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện bảo đảm tiến độ và kịch bản tăng trưởng đã đề ra; chủ động, tích cực trong công tác chỉ đạo phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản; phòng chống thiên tai, dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi; quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; quản lý tài nguyên đất đai, khoáng sản, nước và môi trường. Trong đó lĩnh vực sản xuất nông, lâm, thủy sản tiếp tục phát triển ổn định, có nhiều chuyển biến tích cực trong 6 tháng đầu năm 2026.

Trong lĩnh vực trồng trọt, quy mô giá trị sản xuất toàn ngành ước đạt 9.808 tỷ đồng, đạt 54,3% kế hoạch, tăng 2,1% cùng kỳ (tốc độ tăng giá trị gia tăng 2,05% cùng kỳ). Để đạt được kết quả trên, thời gian qua tỉnh Thanh Hóa đã tập trung hình thành các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hiện đại, bền vững, ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ để tạo ra sản phẩm chất lượng cao, thích ứng với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng từng vùng. Cơ cấu cây trồng, giống cây được bố trí hợp lý hơn, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. Hiện trên địa bàn tỉnh đang duy trì 8 doanh nghiệp thu mua chế biến lúa gạo; 30 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm với tổng diện tích trên 35 nghìn ha, góp phần đảm bảo sản xuất ổn định, nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân.

Theo số liệu thống kê từ Sở Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026 hơn 1.054 ha đất lúa kém hiệu quả đã được chuyển đổi sang cây trồng khác hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản, mang lại giá trị vượt trội. Nhiều diện tích đất nông nghiệp đã được tích tụ, tập trung để phục vụ sản xuất quy mô lớn, vượt xa kế hoạch đề ra. Trong đó có 3.690,7 ha được sản xuất nông nghiệp sạch, đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, đây là những cây trồng được sản xuất theo hướng hữu cơ như (lúa 357 ha; rau, đậu các loại 100,5 ha; cây ăn quả 24 ha, cây khác 10 ha); Diện tích sản xuất theo hướng công nghệ cao đạt 984 ha; Diện tích cây trồng đã chứng nhận VietGAP đạt 610,4 ha; Diện tích đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm (theo Thông tư số 38/2018/TT-BNN&PTNT) 2.688,8 ha chủ yếu trên cây lúa, rau màu các loại.
Đơn cử tại xã Quảng Bình cho thấy, thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ xã về phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, xã Quảng Bình đang từng bước cụ thể hóa các mục tiêu bằng những chương trình, kế hoạch sát thực tiễn, lấy phát triển kinh tế ổn định, bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân làm trọng tâm. Trong đó, nông nghiệp tiếp tục được xác định là trụ cột, phát triển theo hướng hàng hóa, gia tăng giá trị, gắn sản xuất với thị trường, lấy hợp tác xã và tổ hợp tác làm hạt nhân liên kết sản xuất - tiêu thụ.
Hiện xã Quảng Bình đang duy trì mô hình sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP tại thôn Lê Hưng (xã Quảng Lộc cũ) với tổng diện tích 6 ha. Trong quá trình sản xuất, các hộ dân tích cực ứng dụng khoa học - kỹ thuật, tuân thủ quy trình canh tác an toàn, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Mô hình không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế ổn định và thu nhập cho người dân mà còn góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng an toàn, bền vững.

Cũng tại xã Hoằng Giang, từ những thửa ruộng manh mún, nhỏ lẻ, địa phương đã hình thành các vùng sản xuất tập trung với quy mô từ 3 đến 5 ha trở lên, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ giới hóa đồng bộ trong các khâu sản xuất. Đến nay các hộ tham gia mô hình tập trung phát triển giống lúa chất lượng cao đã ứng dụng máy cấy, máy gặt đập liên hợp và máy bay không người lái trong phun thuốc bảo vệ thực vật, góp phần giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm nhân công và nâng cao hiệu quả canh tác. Đặc biệt, địa phương đã đưa giống lúa nếp cao sản vào sản xuất theo quy trình liên kết với doanh nghiệp, bảo đảm các tiêu chuẩn kỹ thuật phục vụ xuất khẩu và sản xuất giống. Hiện trên địa bàn xã có 3 hộ tiêu biểu tham gia tích tụ ruộng đất quy mô lớn gồm anh Sỹ với 3 ha, anh Trung với 12 ha và anh Vinh với 22,2 ha. Nhờ áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất theo quy trình liên kết, năng suất lúa đạt khoảng của các hộ đạt 700 - 750 kg/sào, mang lại giá trị kinh tế cao hơn so với phương thức canh tác truyền thống, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, Thanh Hóa đã có những chuyển biến rõ nét về hình thức tổ chức sản xuất: từ chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, quy mô lớn, theo mô hình trang trại, gia trại an toàn sinh học và theo hướng VietGAHP. Đến nay, tỉnh nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về tổng đàn vật nuôi. Sản lượng thịt hơi các loại đạt 170,8 nghìn tấn; sữa tươi đạt 46,2 nghìn tấn và sản lượng trứng đạt 172,4 triệu quả. Giá trị sản xuất toàn ngành chăn nuôi ước đạt 6.388 tỷ đồng, đạt 52% kế hoạch. Trên cơ sở đó, nhiều chuỗi giá trị đã được hình thành, gắn kết từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ, tập trung vào các sản phẩm chủ lực, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh.
Bên cạnh đó, dịch bệnh động vật được kiểm soát, không để dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm xảy ra diện rộng trên đàn gia súc, gia cầm và động vật thủy sản. Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xây dựng được 106 cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh, công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đợt 1/2026, đạt 97,25% kế hoạch.
Hiện có 04 dự án trang trại chăn nuôi quy mô lớn hoàn thành đi vào hoạt động gồm: Dự án Chăn nuôi công nghệ cao Xuân Thiện Thanh Hóa 2 công suất 170 nghìn lợn các loại, Xuân Thiện Thanh Hóa 3 công suất 180 nghìn lợn các loại, Trang trại chăn nuôi lợn thịt Cẩm Phú công suất 20 nghìn lợn thịt/năm và Dự án trang trại chăn nuôi lợn tập trung Trường Lộc, công suất 65.000 con lợn thịt/năm và 40.000 lợn cai sữa/năm.

Đơn cử tại xã Đông Thành, xác định phát triển chăn nuôi là một trong những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người dân, đang là hướng đi có hiệu quả tại xã Đông Thành. Mô hình chăn nuôi gà đẻ trứng của hộ gia đình anh Lê Quang Vinh ở Thôn Đồng Tiến, xã Đông Thành là một mô hình tiêu biểu mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hiện nay, gia đình anh Vinh đang nuôi đàn gà đẻ trứng khoảng 6.000 con, trên tổng diện tích khu chăn nuôi là 14.500m². Sản lượng trứng bình quân đạt từ 5.000 - 5.400 quả/ngày, tương đương khoảng 150.000 - 162.000 quả/tháng. Tạo việc làm thường xuyên cho 06 lao động địa phương, lợi nhuận bình quân năm đạt khoảng 900 - 1.100 triệu đồng. Khi sản phẩm được hình thành sẽ tiêu thụ thông qua các trường Mầm Non trên địa bàn xã, các cửa hàng thực phẩm sạch, chợ dân sinh trên địa bàn xã và các xã lân cận, các đơn vị thu mua, đại lý phân phối, kênh bán hàng trực tuyến và mạng xã hội. Sản lượng tiêu thụ bình quân đạt khoảng 150.000 - 162.000 quả/tháng. Hiện UBND xã Đông Thành lấy sản phẩm “Trứng gà sạch Quang Vinh” để xây dựng sản phẩm OCOP của địa phương năm 2026.
Mô hình chăn nuôi gà đẻ trứng của gia đình anh Vinh được xem là mô hình tiêu biểu, điển hình trong phong trào làm kinh tế, thoát nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng tại địa phương. Với cách làm kinh tế của gia đình anh được đánh giá là hướng đi hiệu quả trong việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tạo ra sản phẩm sạch, an toàn với môi trường và con người. Góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình, nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển sản phẩm đặc trưng của địa phương.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, tiếp tục phát triển theo hướng bền vững, Thanh Hóa kiên định chuyển hướng: từ khai thác rừng tự nhiên sang phát triển rừng kinh tế, rừng gỗ lớn, gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, công tác bảo về An ninh rừng được đảm bảo ổn định, không để xảy ra cháy rừng mặc mặc dù thời tiết nắng nóng kéo dài, nguy cơ cháy rừng cao. Theo số liệu thống kê toàn tỉnh sản xuất được 23 triệu cây giống lâm nghiệp các loại, trong đó trồng rừng đạt 5.200 ha, số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 1,4 triệu cây, khai thác gỗ 590.000 m³, cây tre luồng 34 triệu cây, nguyên liệu chế biến giấy đạt 43.700 tấn, nâng giá trị sản xuất của toàn ngành lâm nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.329 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh công tác trồng, chăm sóc rừng trồng thay thế được tỉnh chú trọng quan tâm; hiện đã cập nhật được 14.713 ha/28.750 ha diện tích rừng và đất lâm nghiệp có biến động. Để đạt được những kết quả trên, thời gian qua tỉnh đã chỉ đạo thực hiện tốt phương án quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng (FSC). Hiện đã hình thành và duy trì 14 chuỗi liên kết giữa chủ rừng (hộ gia đình, nhóm hộ) với các nhà máy chế biến gắn với cấp chứng chỉ rừng FSC; diện tích rừng được cấp chứng chỉ đạt 48.479 ha (với sự tham gia liên kết của 12.405 hộ, nhóm hộ), tăng 11.529 ha so với năm 2025.
Đối với lĩnh vực Thủy sản, giá trị sản xuất toàn ngành ước đạt 3.859 tỷ đồng, đạt 50,4% kế hoạch, tăng 5,2%. Tỉnh Thanh Hóa tiếp tục triển khai Kế hoạch phát triển vùng nuôi tôm - lúa giai đoạn 2026-2030; phát triển nuôi trồng theo hướng an toàn, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Từ đó, đã khai thác hiệu quả diện tích đất lúa kém hiệu quả, góp phần nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp và ổn định sinh kế cho người dân.
Theo đó, sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 111.670 tấn; đạt 50,1% kế hoạch, tăng 2,6% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng khai thác 70.601,66 tấn; sản lượng nuôi trồng thủy sản 41.069 tấn. Tập trung phát triển nuôi các đối tượng chủ lực như, Tôm 4.200 ha (tôm sú kết hợp với cua xanh, cá 3.200 ha, tôm thẻ chân trắng 1.000 ha); ngao nuôi 1.000 ha. Tổng số phương tiện khai thác hải sản trên đại bàn tỉnh là 6.210 chiếc, trong đó tàu có chiều dài trên 15 m là 972 chiếc; tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) trên địa bàn tỉnh.

Hướng đến ngành nông nghiệp phát triển bền vững
Trong quá trình phát triển nông nghiệp theo hướng xanh, thông minh và bền vững, tỉnh Thanh Hóa xác định tái cơ cấu ngành nông nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm, gắn chặt với mục tiêu xây dựng nông thôn mới (NTM). Do vậy, tỉnh Thanh Hóa tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc và hướng dẫn Nhân dân tập trung chăm sóc tốt diện tích cây trồng hiện có, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho gieo trồng vụ kế cận; Tích tụ tập trung đất đai để sản xuất nông nghiệp quy mô lớn công nghệ cao; chủ động phòng trừ sinh vật gây hại trên cây trồng, cây lâm nghiệp và cây ăn quả.
Đồng thời, tăng cường các biện pháp phòng, chống đói, rét và dịch bệnh cho đàn vật nuôi; triển khai hiệu quả các phương án phòng, chống, giảm nhẹ và khắc phục hậu quả thiên tai. Cùng với đó, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân chấp hành nghiêm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; chỉ đạo lực lượng kiểm lâm địa bàn phối hợp chặt chẽ với chính quyền và chủ rừng tổ chức tuần tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm trong khai thác, mua bán, vận chuyển, chế biến và kinh doanh lâm sản.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng tiếp tục hướng dẫn, hỗ trợ sản xuất đối với các chuỗi cung ứng nông sản, thủy sản an toàn; tăng cường quản lý chất lượng nông, lâm, thủy sản; quản lý, khai thác hiệu quả các công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước. Đồng thời, thực hiện nghiêm chế độ trực phòng, chống thiên tai; nâng cao chất lượng công tác dự báo, cảnh báo; hướng dẫn Nhân dân chủ động ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai theo quy định, bảo đảm sản xuất ổn định và phát triển bền vững. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao thu nhập cho người dân, giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới hiện đại.
Có thể thấy, lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, nhiều chỉ tiêu sản xuất đạt kết quả khả quan. Việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, phát triển sản xuất theo hướng an toàn, bền vững, cùng với các chính sách hỗ trợ của Trung ương và tỉnh đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho người dân và tạo nền tảng thuận lợi để ngành nông nghiệp tiếp tục phát triển trong những tháng cuối năm và giai đoạn mới./.




