10/10/2026 lúc 13:31 (GMT+7)
Breaking News

Sứ mệnh của luật sư Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Bảo vệ công lý, thượng tôn pháp luật và kiến tạo phát triển

Ngày truyền thống luật sư Việt Nam 10/10 là dịp nhìn lại một nghề nghiệp đã đi qua những biến động của đất nước, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân và vun đắp niềm tin vào pháp luật. Từ những thiết chế nghề nghiệp hình thành trước năm 1945, qua Sắc lệnh 46 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đến quá trình đổi mới và hội nhập, sứ mệnh luật sư được xác định rõ trong đời sống quốc gia. Bước vào kỷ nguyên mới, yêu cầu phát triển đặt nghề trước trách nhiệm lớn hơn: bảo vệ công lý bằng năng lực và bản lĩnh, thượng tôn pháp luật bằng sự độc lập và trung thực, kiến tạo phát triển bằng tư vấn có trách nhiệm. Để thực hiện sứ mệnh ấy, cần đồng thời bồi đắp văn hóa nghề nghiệp, giữ gìn đạo đức, nâng cao chuyên môn và hoàn thiện chính sách pháp luật, bảo đảm luật sư thực sự góp sức xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Từ khoá: Luật sư Việt Nam; bảo vệ công lý; thượng tôn pháp luật; đạo đức nghề nghiệp; Nhà nước pháp quyền; kỷ nguyên mới.

Ảnh minh họa - TL

1. Từ truyền thống đòi quyền đến sự hình thành thiết chế nghề nghiệp

Lịch sử nghề luật sư Việt Nam gắn với tiến trình đấu tranh giành quyền dân tộc và xây dựng nền tư pháp. Trong bối cảnh thuộc địa, tri thức pháp lý đã trở thành phương tiện yêu cầu bảo đảm các quyền cơ bản. Năm 1919, luật sư Phan Văn Trường cùng Nguyễn Tất Thành và Phan Châu Trinh tham gia xây dựng bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hội nghị Vécxây. Sự kiện cho thấy lập luận pháp lý có thể phục vụ những đòi hỏi về tự do, bình đẳng và quyền dân tộc [1].

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, giới luật gia và luật sư góp phần kiến thiết thể chế của quốc gia độc lập. Luật sư Vũ Trọng Khánh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đầu tiên, cùng học giả Đặng Thai Mai chấp bút bản dự thảo Hiến pháp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, đóng góp vào quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1946 [2]. Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 46 quy định tổ chức các đoàn thể luật sư và việc bào chữa tại tòa án theo phạm vi được xác định trong Sắc lệnh. Văn bản này đánh dấu bước tiếp nối thiết chế luật sư trong nhà nước cách mạng [3].

Chiến tranh và những thay đổi về tổ chức tư pháp từng làm thu hẹp điều kiện hành nghề; trong một số giai đoạn, đội ngũ bào chữa viên cùng tham gia bảo vệ quyền lợi của người dân. Từ công cuộc Đổi mới, cơ sở pháp lý được hoàn thiện qua Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, Pháp lệnh Luật sư năm 2001, Luật Luật sư năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2012. Liên đoàn Luật sư Việt Nam thành lập năm 2009, tạo cơ chế đại diện và tự quản nghề nghiệp trên phạm vi toàn quốc [5]. Theo Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 14/01/2013, ngày 10/10 hằng năm được xác định là Ngày truyền thống của luật sư Việt Nam [7].

2. Bảo vệ công lý, thượng tôn pháp luật và đóng góp cho phát triển

Điều 3 Luật Luật sư, được sửa đổi, bổ sung năm 2012, xác định hoạt động luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa [10]. Quy định này thể hiện tính chất kép của nghề: cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng và thực hiện trách nhiệm xã hội đối với công lý, trật tự pháp luật.

Bảo vệ công lý trước hết là bảo đảm quyền tố tụng được thực thi trong từng vụ việc. Khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; khoản 5 và khoản 7 Điều 103 bảo đảm nguyên tắc tranh tụng, quyền bào chữa và quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự [11]. Trên thực tế, luật sư hiện thực hóa những bảo đảm này thông qua kiểm tra tính hợp pháp của hoạt động tố tụng, đánh giá chứng cứ, trình bày luận cứ và phản biện lập luận của các bên trên cơ sở pháp luật.

Thượng tôn pháp luật đồng thời là mục tiêu và phương thức hành nghề. Điều 5 Luật Luật sư yêu cầu tuân thủ Hiến pháp, pháp luật; độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan; sử dụng biện pháp hợp pháp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng và chịu trách nhiệm về hoạt động nghề nghiệp [10]. Vì vậy, bảo vệ thân chủ không có nghĩa là chấp nhận mọi yêu cầu: chất lượng lập luận, căn cứ pháp lý và giới hạn đạo đức phải được đặt lên hàng đầu.

Trong phát triển kinh tế - xã hội, luật sư góp phần phòng ngừa rủi ro và nâng cao tính dự đoán của các quan hệ pháp lý. Việc rà soát hợp đồng, thẩm định điều kiện đầu tư, xây dựng cơ chế tuân thủ và tư vấn giải quyết tranh chấp giúp doanh nghiệp hạn chế tổn thất. Những vướng mắc phát hiện từ thực tiễn hành nghề còn cung cấp cơ sở để kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Vì thế, đóng góp của luật sư cần được đánh giá cả qua các tranh chấp được xử lý lẫn những thiệt hại được phòng ngừa. Theo thông tin Liên đoàn Luật sư Việt Nam công bố ngày 25/9/2026, tính đến 31/5/2026, cả nước có hơn 22.600 luật sư tại hơn 6.500 tổ chức hành nghề [8]. Năm 2025, luật sư tham gia 9.554 vụ án hình sự, trong đó có 5.198 vụ bào chữa chỉ định; 8.054 vụ án dân sự; 20.792 vụ việc tư vấn pháp luật và 9.247 vụ việc trợ giúp pháp lý miễn phí [9]. Những số liệu này phản ánh sự mở rộng về quy mô, phạm vi hoạt động, nhưng chưa đủ để xác định chất lượng dịch vụ hay mức độ đáp ứng nhu cầu pháp lý của xã hội.

3. Chuẩn mực đạo đức, năng lực chuyên môn và thích ứng với môi trường số

Uy tín nghề luật sư đòi hỏi sự thống nhất giữa năng lực chuyên môn và đạo đức hành nghề. Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, ban hành kèm Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019, nhấn mạnh sứ mệnh bảo vệ quyền con người, quyền công dân cùng các chuẩn mực độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan [4]. Các chuẩn mực ấy phải được thể hiện trong quan hệ với khách hàng, đồng nghiệp, cơ quan tố tụng và trong phát ngôn công khai.

Đạo đức cần được chuyển hóa thành quy trình kiểm soát tại tổ chức hành nghề. Trước khi nhận vụ việc, phải kiểm tra xung đột lợi ích; khi ký hợp đồng, cần xác định rõ phạm vi dịch vụ, thù lao, chi phí và trách nhiệm; trong quá trình thực hiện, phải thông tin tiến độ, giải thích rủi ro và bảo mật hồ sơ. Điều 9 Luật Luật sư nghiêm cấm các hành vi như cung cấp chứng cứ giả, lừa dối khách hàng, tiết lộ thông tin trái quy định hoặc móc nối nhằm giải quyết vụ việc trái pháp luật [10].

Năng lực chuyên môn cần được đánh giá bằng chất lượng giải quyết vấn đề pháp lý. Hồ sơ tốt phải xác định đúng quan hệ pháp luật, thời điểm áp dụng văn bản, giá trị chứng cứ, rủi ro và tính khả thi của phương án bảo vệ. Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nên chú trọng nghiên cứu hồ sơ, kỹ năng tranh tụng, thương lượng, soạn thảo và lập luận pháp lý thay vì chỉ ghi nhận thời lượng tham dự. Yêu cầu chuyên môn hóa trong đầu tư, thương mại quốc tế, sở hữu trí tuệ và công nghệ cũng đòi hỏi khả năng cập nhật kiến thức và phối hợp liên ngành.

Chuyển đổi số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, mở rộng công cụ xử lý tài liệu nhưng đồng thời làm gia tăng rủi ro nghề nghiệp. Công nghệ có thể hỗ trợ tìm kiếm, tổng hợp hồ sơ và soạn thảo, song không thay thế trách nhiệm kiểm chứng nguồn luật, án lệ, chứng cứ và lập luận của luật sư. Tổ chức hành nghề cần quy định dữ liệu được phép đưa vào hệ thống, phân quyền truy cập, bảo vệ bí mật khách hàng và kiểm soát chất lượng sản phẩm tư vấn. Giá trị của công nghệ phải được đo bằng khả năng nâng cao chất lượng dịch vụ mà không làm suy giảm tính chính xác và trách nhiệm nghề nghiệp.

4. Hoàn thiện thể chế và bảo đảm khả năng tiếp cận công lý

Thứ nhất, bảo đảm đầy đủ điều kiện thực hiện quyền hành nghề của luật sư, nhất là trong hoạt động tố tụng. Cần rà soát thủ tục đăng ký bào chữa, việc tiếp xúc với người được bào chữa, tiếp cận hồ sơ, thu thập chứng cứ và cơ chế phản ánh, khiếu nại khi quyền hành nghề bị hạn chế. Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2025 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam ghi nhận những khó khăn trong quá trình luật sư tham gia tố tụng [9]. Do đó, việc hoàn thiện thể chế cần tập trung thu hẹp khoảng cách giữa các quyền được pháp luật ghi nhận và khả năng thực hiện các quyền ấy trên thực tế.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp, gắn nâng cao chất lượng đội ngũ với trách nhiệm giải trình. Theo Điều 6 Luật Luật sư, quản lý nhà nước được kết hợp với chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư và tổ chức hành nghề luật sư [10]. Trong khi cơ quan nhà nước có trách nhiệm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và kiểm tra việc tuân thủ, các tổ chức nghề nghiệp cần bồi dưỡng chuyên môn, giám sát đạo đức và xử lý vi phạm theo quy trình minh bạch. Đối với việc sửa đổi Luật Luật sư đang được thảo luận năm 2026, các vấn đề về tiêu chuẩn đầu vào, đánh giá năng lực, cấp chứng chỉ và quản lý tổ chức hành nghề cần được xem xét trên cơ sở tính khả thi, tránh phát sinh thủ tục không cần thiết [8].

Thứ ba, mở rộng khả năng tiếp cận công lý theo nhu cầu của từng nhóm đối tượng và địa bàn. Chính sách cần tính đến sự khác biệt về thu nhập, điều kiện địa lý và tính chất vụ việc. Với người có hoàn cảnh khó khăn, hoạt động của luật sư cần được kết nối với hệ thống trợ giúp pháp lý, đi cùng nguồn lực và tiêu chuẩn chất lượng phù hợp. Đối với doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh, tư vấn tuân thủ từ sớm có thể góp phần hạn chế tranh chấp và chi phí phát sinh. Hiệu quả hỗ trợ cần được đo bằng khả năng tiếp cận, thời gian xử lý và mức độ bảo vệ quyền lợi thực chất, thay vì chỉ dựa vào số lượt tư vấn.

5. Thí điểm luật sư công và yêu cầu đánh giá chính sách dựa trên bằng chứng

Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội quy định thí điểm chế định luật sư công, có hiệu lực từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028 [6]. Mô hình này mở ra phương thức sử dụng chuyên môn pháp lý trong khu vực công, đồng thời đặt ra yêu cầu xác định rõ vị trí, phạm vi nhiệm vụ và quan hệ với các thiết chế pháp lý hiện có. Việc đánh giá phải căn cứ vào thiết kế của chương trình thí điểm, không đồng nhất luật sư công với cơ chế hành nghề độc lập.

Ngay từ đầu, cơ quan thực hiện thí điểm cần thu thập dữ liệu thống nhất về loại hình vụ việc, thời gian, chi phí, chất lượng tư vấn, phòng ngừa xung đột lợi ích và kết quả giải quyết. Những chỉ tiêu này giúp phân biệt hiệu quả thực chất với quy mô hoạt động và cung cấp căn cứ để tiếp tục, điều chỉnh hoặc mở rộng mô hình sau năm 2028. Đổi mới thể chế chỉ có sức thuyết phục khi được đánh giá bằng bằng chứng có thể kiểm tra và tác động thực tế đối với quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.

Kết luận

Từ phong trào đòi quyền đầu thế kỷ XX đến tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, giá trị xuyên suốt của nghề luật sư là bảo vệ con người bằng pháp luật và lập luận có căn cứ. Trong kỷ nguyên mới, sứ mệnh ấy được thực hiện qua ba phương diện: bảo vệ công lý bằng hoạt động bào chữa, bảo vệ quyền; thượng tôn pháp luật bằng sự độc lập, trung thực và trách nhiệm; kiến tạo phát triển thông qua tư vấn phòng ngừa rủi ro, hỗ trợ tuân thủ và phản hồi chính sách. Nhân Ngày truyền thống luật sư Việt Nam 10/10, khẳng định vị thế nghề nghiệp cần gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ, hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền hành nghề và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý.

TS Nguyễn Trung Thành

_______________________________________

Tài liệu tham khảo

1. Bảo tàng Hồ Chí Minh. (2018). Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Vécxây. https://baotanghochiminh.vn/ban-yeu-sach-cua-nhan-dan-an-nam-gui-hoi-nghi-vecxay.htm

2. Bộ Tư pháp. (2019). Người chắp bút dự thảo Hiến pháp đầu tiên. https://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=3022

3. Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (1945). Sắc lệnh số 46 về việc quy định tổ chức các đoàn thể luật sư. https://chinhphu.vn/default.aspx?docid=504&pageid=27160

4. Hội đồng Luật sư toàn quốc. (2019). Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ban hành Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/dich-vu-phap-ly/decision-201-qd-hdlstq-2019-code-of-ethics-and-conduct-of-vietnamese-lawyers-468464.aspx

5. Liên đoàn Luật sư Việt Nam. (2014). Lịch sử hình thành và phát triển thiết chế luật sư tại Việt Nam. https://backup.liendoanluatsu.org.vn/web/Lich-su-hinh-thanh-va-phat-trien-thiet-che-luat-sutai-Viet-Nam-434.html

6. Quốc hội. (2026). Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=218064&orggroupid=1&pageid=27160

7. Thủ tướng Chính phủ. (2013). Quyết định số 149/QĐ-TTg về Ngày truyền thống của luật sư Việt Nam. https://congbao.chinhphu.vn/thuoc-tinh-van-ban-so-149-qd-ttg-1402?cbid=451

8. Văn Đức. (2026). Đoàn Đại biểu Quốc hội TP. HCM tổ chức hội nghị góp ý Luật Luật sư (sửa đổi). Liên đoàn Luật sư Việt Nam. https://liendoanluatsu.org.vn/doan-dai-bieu-quoc-hoi-tp-hcm-to-chuc-hoi-nghi-gop-y-luat-luat-su-sua-doi/

9. Văn Đức. (2026). Liên đoàn Luật sư Việt Nam tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác, hoạt động năm 2025 và phương hướng công tác, hoạt động năm 2026. Liên đoàn Luật sư Việt Nam. https://liendoanluatsu.org.vn/lien-doan-luat-su-viet-nam-to-chuc-hoi-nghi-tong-ket-cong-tac-hoat-dong-nam-2025-va-phuong-huong-cong-tac-hoat-dong-nam-2026/

10. Văn phòng Quốc hội. (2012). Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH: Luật Luật sư (hợp nhất Luật số 65/2006/QH11 và Luật số 20/2012/QH13). https://vbpl.vn/botuphap/Pages/vbpq-thuoctinh-hopnhat.aspx?ItemID=30591

11. Văn phòng Quốc hội. (2025). Văn bản hợp nhất số 52/VBHN-VPQH: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=214712&pageid=27160