25/09/2026 lúc 08:50 (GMT+7)
Breaking News

Thanh Hóa khơi thông nguồn cung vật liệu xây dựng, tạo động lực cho tăng trưởng

Trong bối cảnh tỉnh Thanh Hóa đang đồng thời triển khai hàng loạt các dự án hạ tầng quy mô lớn, đặc biệt là các công trình trọng điểm chiến lược, đã làm nhu cầu VLXD tăng mạnh, chủ yếu là cát, đá, thép xây dựng, đất đắp nền, xi măng. Vấn đề bảo đảm đủ nguồn cung vật liệu xây dựng cho các công trình đang trở nên cấp bách.
Tình trạng thiếu nguồn cung vật liệu xây dựng cho các công trình đang dần được tháo gỡ, khắc phục.

Áp lực nguồn cung tại các công trình

Trên các công trường, đặc biệt là dự án giao thông, đất đắp, cát và đá là những vật liệu không thể thiếu, trong đó đá xây dựng và cát là 2 nhóm vật liệu có nhu cầu tăng cao nhất do phục vụ thi công nền đường, cầu, cống,.. Nếu vật liệu không được cung ứng kịp thời, máy móc và nhân lực không thể phát huy hết công suất; tiến độ thi công, nghiệm thu, thanh toán đều bị kéo chậm. Sức ép càng rõ trong những tháng cuối năm, khi nhiều dự án đồng loạt tăng tốc để hoàn thành kế hoạch vốn.

Đáng chú ý, vấn đề thiếu nguồn cung vật liệu cũng như báo giá các vật liệu xây dựng của các mỏ đã tác động trực tiếp đến thị trường xây dựng. Một số doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng cho rằng giá cát, đá và đất san lấp tăng cao, nguồn cung không ổn định khiến tiến độ thi công nhiều công trình, dự án đầu tư công trọng điểm bị ảnh hưởng nghiêm trọng thời gian qua. Không ít thời điểm, doanh nghiệp dù có nguồn vốn nhưng vẫn không thể tìm được vật liệu để thi công, buộc phải tìm mua từ các tỉnh lân cận như Nghệ An, Ninh Bình với chi phí cao hơn, làm gia tăng giá thành xây dựng. Việc thiếu bãi đổ thải, điểm tập kết cũng làm tăng chi phí và gây khó cho nhà thầu trong bố trí các mũi thi công.

Trước thực trạng từ nguồn cung cũng như thị trường vật liệu xây dựng, lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa đã yêu cầu các Sở, ngành và địa phương rà soát toàn bộ các mỏ đất, cát, đá đã được cấp phép, đồng thời tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp đảm bảo nguồn cung và ổn định giá vật liệu xây dựng. Trong đó, giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì rà soát, hoàn thiện thủ tục để tăng thêm nguồn cung vật liệu xây dựng cho thị trường khoảng 13,5 triệu m³, phấn đấu hoàn thành trong tháng 9/2026. Sở Xây dựng theo dõi thị trường, công bố giá và phối hợp tháo gỡ khó khăn về nguồn cung. Chủ đầu tư xác định nhu cầu theo từng giai đoạn thi công. Sự phối hợp giữa các bên giúp vật liệu đến công trường đúng lúc, đủ khối lượng và được sử dụng đúng mục đích. Qua đó đáp ứng yêu cầu tiến độ của các dự án trọng điểm cũng như các dự án trên địa bàn tỉnh.

Khơi thông nguồn vật liệu xây dựng cho các dự án

Trên cơ sở các văn bản, ý kiến chỉ đạo quyết liệt của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã triển khai các giải pháp trọng tâm, cơ chế đặc thù về thủ tục hành chính, chủ động giải quyết dứt điểm các thủ tục về thuê đất, cấp phép khai thác, điều chỉnh nâng công suất; giao tiến độ chi tiết đối với từng hồ sơ mỏ để theo dõi tiến độ thực hiện. Thường xuyên làm việc với các chủ mỏ đã được cấp phép nhưng chậm đưa vào hoạt động. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Sở Xây dựng và các đơn vị liên quan trong việc kiểm soát nguồn cung, ngăn chặn tình trạng găm hàng nhằm đẩy giá vật liệu xây dựng lên cao bất hợp lý.

Hiện Sở Nông nghiệp và Môi trường đã có văn bản báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về kết quả hoàn thành và vượt chỉ tiêu bổ sung thêm nguồn cung vật liệu xây dựng cho thị trường theo kế hoạch đề ra, phục vụ kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2026. Cụ thể, tổng khối lượng thực tế đạt 14,22 triệu m3, vượt chỉ tiêu 13,5 triệu m3 (đạt 105,4% kế hoạch và trước 40 ngày).

Trong đó, mỏ đất san lấp, tập trung đôn đốc các mỏ cấp phép mới, khai thác trở lại và nâng công suất khai thác đối với 15 mỏ đất, tổng khối lượng đạt 9,64 triệu m3/năm (chiếm 67,79%). Mỏ đá làm vật liệu xây dựng đã hoàn thiện thủ tục cho 5 mỏ đá với tổng công suất bổ sung đạt 0,96 triệu m3 (chiếm 6,72%). Mỏ cát xây dựng đã đưa vào khai thác 3 mỏ cát với tổng công suất bổ sung đạt 0,39 triệu m3 (chiếm 2,74%). Đồng thời, thu hồi khoáng sản trong phạm vi dự án với tổng khối lượng thu hồi từ 12 dự án đầu tư xây dựng đạt 3,23 triệu m3 (chiếm 22,75%).

Đối với Sở Xây dựng, trong năm 2026, Sở đã công bố thông tin giá VLXD theo từng thời kỳ, theo kế hoạch, thông tin giá VLXD tháng 9/2026 được công bố trước ngày 25/9. Từ tháng 10/2026, thông tin giá VLXD được công bố trước ngày 5 của tháng kế tiếp. Việc chuyển sang công bố thông tin giá VLXD theo giá thị trường được kỳ vọng góp phần nâng cao tính minh bạch, sát thực tế của dữ liệu giá, phục vụ tốt hơn công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp và chủ đầu tư chủ động trong lập, quản lý và thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh.

Theo đại diện Công ty Cp Đầu tư và xây dựng Tuấn Linh đánh giá, hiện nay được sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo tỉnh và các cơ quan chức năng, tình trạng thiếu nguồn cung vật liệu xây dựng cho các công trình đang dần được tháo gỡ, khắc phục để đi vào ổn định. Hiện công ty đang chuẩn bị thi công Dự án đường ven biển, đoạn từ xã Tiên Trang đến phường Hải Lĩnh có chiều dài 6km. Theo tính toán của công ty đã liên hệ với các mỏ bán vật liệu xây dựng có khoảng cách gần với dự án thì đất đắp nền đường và cát cơ bản đáp ứng đủ cho dự án của công ty. Khó khăn thiếu nguồn cung vẫn là đá base (bây cấp phối loại A-B), để hoàn thành dự án thì đơn vị phải cần khoảng 40-50 nghìn khối đá base mới đáp ứng đủ tiến độ của dự án, trong khi đó giá cả của các loại base là không giống nhau giữa các mỏ đá, mỏ có trữ lượng đá ít thì báo giá thấp nhưng không đảm bảo được số lượng đá bây cho dự án, mỏ có trữ lượng lớn thì báo giá cao hơn, nên công ty phải chịu chi phí cao hơn.

Còn đối với mỏ đá Trường Sơn, với trữ lượng khai thác còn lại khoảng 800.000 m³ đá nguyên khối, đủ điều kiện khai thác đến năm 2041. Công suất khai thác hằng năm đạt gần 100.000 m³, chủ yếu cung cấp đá phục vụ xây dựng cơ bản, đá mạt 0,5, các loại cấp phối loại 1 và loại 2. Trước dự báo nhu cầu VLXD tiếp tục tăng cao trong 6 tháng cuối năm 2026 và năm 2027, đơn vị đang tập trung tổ chức khai thác, sản xuất đúng quy mô và công suất được cấp phép; chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường; ưu tiên bảo đảm nguồn cung cho các công trình trọng điểm và các hợp đồng đã ký kết. Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, duy trì hoạt động khai thác ổn định, liên tục và hiệu quả. Đồng thời nỗ lực bình ổn giá bán, giữ ở mức hợp lý nhất có thể nhằm đồng hành, chia sẻ khó khăn với tỉnh và các doanh nghiệp thực hiện dự án trong bối cảnh giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào tiếp tục biến động.

Vì vậy, việc chủ động dự báo nhu cầu, ổn định nguồn cung và hoàn thiện cơ chế quản lý vật liệu xây dựng được kỳ vọng sẽ góp phần tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm trên địa bàn tỉnh. Qua đó, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn 2026 - 2027./.

Hải Nam.