03/07/2026 lúc 17:45 (GMT+7)
Breaking News

Bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động nước ngoài tại Việt Nam: Từ quy định đến thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc bảo đảm quyền lợi an sinh xã hội cho người lao động nước ngoài tại Việt Nam thông qua bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc trở nên vô cùng cấp thiết. Bài viết tập trung phân tích những khoảng cách đáng kể giữa các quy định pháp luật hiện hành về BHXH bắt buộc đối với người lao động nước ngoài và thực tiễn triển khai. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi, bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người lao động nước ngoài, đồng thời góp phần vào sự phát triển bền vững của thị trường lao động Việt Nam.

Ảnh minh họa - TL

Mở đầu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã xác định định hướng chuyển từ tư duy thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; lấy chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và liên kết với khu vực kinh tế trong nước làm trọng tâm. Đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong các doanh nghiệp FDI, coi đây là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển bền vững khu vực này.

Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực FDI cũng kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của lực lượng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Đây là nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm quản lý, giữ vai trò quan trọng trong quá trình chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự dịch chuyển lao động xuyên biên giới cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện khung pháp lý về an sinh xã hội nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động nước ngoài, đồng thời tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.

Trong bối cảnh đó, việc thực hiện chế định BHXH bắt buộc đối với người lao động nước ngoài theo Luật BHXH năm 2024 và Nghị định số 158/2025/NĐ-CP đã mở ra một giai đoạn mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam. Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình triển khai cũng bộc lộ nhiều vấn đề pháp lý cần tiếp tục nghiên cứu như: phạm vi đối tượng tham gia; căn cứ và mức đóng; điều kiện và phương thức thụ hưởng chế độ BHXH; cũng như việc ghi nhận, bảo lưu và cộng nối thời gian tham gia BHXH trong bối cảnh dịch chuyển lao động quốc tế. Những vấn đề này không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo đảm quyền an sinh xã hội của người lao động nước ngoài mà còn tác động trực tiếp đến chất lượng thể chế, sức hấp dẫn của môi trường đầu tư và việc thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Xuất phát từ những yêu cầu đó, bài viết tập trung phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về BHXH bắt buộc đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, đánh giá những điểm mới cùng những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, bao trùm và phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới.

1. Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động nước ngoài

Việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của pháp luật BHXH đối với người lao động nước ngoài là một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam, thể hiện sự thích ứng của pháp luật trước xu hướng dịch chuyển lao động quốc tế và yêu cầu hội nhập kinh tế toàn cầu. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã hình thành khung pháp lý tương đối đầy đủ, bảo đảm quyền được an sinh xã hội của người lao động nước ngoài trên cơ sở bình đẳng với người lao động Việt Nam.

Điều 34 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội", khẳng định đây là một trong những quyền cơ bản của con người. Trên tinh thần đó, Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 giải thích: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người tham gia bảo hiểm xã hội khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, khi nghỉ hưu hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội hoặc do ngân sách nhà nước bảo đảm". Quy định này thể hiện rõ bản chất của BHXH không chỉ là một thiết chế tài chính mà còn là công cụ pháp lý nhằm bảo vệ quyền con người, bảo đảm sự ổn định đời sống của người lao động và gia đình họ trong những tình huống bất khả kháng.

Về đối tượng áp dụng, khoản 2 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định: Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam, trừ các trường hợp sau đây:

Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam;

Tại thời điểm giao kết hợp đồng lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động;

Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Việc xác định rõ phạm vi đối tượng tham gia vừa bảo đảm tính bao quát của chính sách an sinh xã hội, vừa tránh tình trạng chồng chéo nghĩa vụ đóng BHXH đối với lao động quốc tế.

Về mức đóng và phương thức đóng, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định rõ:

Người lao động nước ngoài đóng 8% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH vào Quỹ hưu trí và tử tuất.

Người sử dụng lao động đóng 3% vào Quỹ ốm đau và thai sản và 14% vào Quỹ hưu trí và tử tuất. Như vậy, tổng mức đóng là 25% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH (chưa bao gồm mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động).

Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH được xác định theo mức tiền lương ghi trong hợp đồng lao động. Việc đóng BHXH được thực hiện hằng tháng, trong đó người sử dụng lao động có trách nhiệm khấu trừ phần nghĩa vụ của người lao động và đồng thời đóng phần trách nhiệm của mình vào quỹ BHXH theo thời hạn luật định.

Về chế độ được hưởng, người lao động nước ngoài tham gia BHXH bắt buộc được hưởng đầy đủ 5 chế độ gồm: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.

Chế độ thai sản được áp dụng bình đẳng đối với lao động nữ mang thai, sinh con, nhận con nuôi và lao động nam có vợ sinh con khi đáp ứng điều kiện về thời gian đóng theo quy định.

Đối với chế độ hưu trí, người lao động nước ngoài đủ điều kiện được hưởng lương hưu hằng tháng; trường hợp chấm dứt làm việc và không tiếp tục cư trú tại Việt Nam có thể được giải quyết hưởng BHXH một lần.

Đặc biệt, Nghị định số 158/2025/NĐ-CP còn quy định cơ chế giải quyết chế độ tử tuất đối với thân nhân của người lao động nước ngoài, kể cả trong trường hợp thân nhân đang cư trú ở nước ngoài, qua đó bảo đảm quyền lợi an sinh xã hội không bị giới hạn bởi yếu tố quốc tịch hoặc nơi cư trú.

Về trình tự, thủ tục tham gia và giải quyết chế độ, người sử dụng lao động có trách nhiệm đăng ký tham gia BHXH cho người lao động nước ngoài ngay khi phát sinh quan hệ lao động thuộc diện bắt buộc, đồng thời lập hồ sơ và phối hợp với cơ quan BHXH trong quá trình giải quyết quyền lợi. Đối với các giấy tờ do cơ quan nước ngoài cấp, pháp luật yêu cầu phải được dịch sang tiếng Việt và chứng thực nhằm bảo đảm tính xác thực. Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành cũng cho phép người lao động nước ngoài được bảo lưu thời gian đã tham gia BHXH để tiếp tục cộng nối khi quay trở lại làm việc tại Việt Nam hoặc giải quyết quyền lợi theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Quy định linh hoạt này tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trong bối cảnh dịch chuyển lao động xuyên biên giới ngày càng phổ biến, đồng thời nâng cao khả năng hội nhập của hệ thống BHXH Việt Nam.

Có thể thấy, các quy định hiện hành đã từng bước hình thành một cơ chế BHXH tương đối đầy đủ đối với người lao động nước ngoài, bảo đảm sự bình đẳng trong tiếp cận quyền an sinh xã hội. Không chỉ đáp ứng yêu cầu bảo vệ người lao động trước các rủi ro, khung pháp lý này còn góp phần xây dựng môi trường đầu tư ổn định, minh bạch, nâng cao sức hấp dẫn của Việt Nam đối với nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây cũng là sự cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển bền vững khu vực kinh tế FDI gắn với xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

2. Thực tiễn thực thi bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động nước ngoài tại Việt Nam

Sau hơn sáu năm thực hiện chính sách và đặc biệt từ khi Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 cùng Nghị định số 158/2025/NĐ-CP có hiệu lực, việc tổ chức thực hiện đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Tính đến cuối năm 2025, Việt Nam có 162.858 lao động nước ngoài đang làm việc. Trong số này, 155.088 người thuộc diện cấp giấy phép lao động và 7.770 người không thuộc diện cấp giấy phép, đến từ khoảng 110 quốc gia và vùng lãnh thổ. Về cơ cấu vị trí việc làm: lao động kỹ thuật chiếm số lượng lớn nhất với 85.951 người; chuyên gia đạt 44.342 người; nhà quản lý có 22.416 người và giám đốc điều hành là 10.149 người. Về cơ cấu quốc tịch: lao động Trung Quốc chiếm tỷ lệ cao nhất với 31,1%; tiếp theo là Hàn Quốc (18,5%); Đài Loan - Trung Quốc (12,9%) và Nhật Bản (9,5%).

Tuy nhiên, quá trình triển khai thực tế vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, khó khăn cốt lõi sau:

Thứ nhất, từ phía người lao động nước ngoài: Rào cản về ngôn ngữ, sự khác biệt giữa các hệ thống an sinh xã hội và việc thiếu thông tin về quyền lợi, nghĩa vụ là những trở ngại phổ biến. Trong nhiều trường hợp, người lao động chỉ làm việc tại Việt Nam trong thời gian ngắn hoặc có kế hoạch về nước trước khi đủ điều kiện hưởng lương hưu, dẫn đến tâm lý chưa thực sự mặn mà với việc tham gia BHXH dài hạn. Mặc dù pháp luật cho phép hưởng BHXH một lần, song trên thực tế, thủ tục giải quyết đối với người lao động đã về nước vẫn tương đối phức tạp do yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự, dịch thuật và chứng thực các giấy tờ nước ngoài.

Thứ hai, từ phía người sử dụng lao động: Việc thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH cho người lao động nước ngoài làm gia tăng áp lực chi phí nhân sự, nhất là đối với các doanh nghiệp sử dụng nhiều chuyên gia và lao động kỹ thuật cao. Thực tiễn đã ghi nhận tình trạng một số doanh nghiệp tìm cách "lách luật" bằng cách ký liên tiếp các hợp đồng lao động dưới 12 tháng hoặc cơ cấu lại thu nhập thành các khoản phụ cấp không chịu thuế nhằm giảm bớt mức đóng. Ngoài ra, việc xác định trường hợp người lao động thuộc diện "di chuyển nội bộ doanh nghiệp" để được miễn tham gia vẫn gặp khó do quy định giữa pháp luật về BHXH và pháp luật lao động chưa hoàn toàn đồng nhất về tiêu chí áp dụng.

Thứ ba, từ góc độ quản lý nhà nước: Công tác này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, liên thông giữa cơ quan quản lý lao động, cơ quan BHXH, cơ quan thuế và cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Mặc dù Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã tăng cường cơ chế chia sẻ thông tin, song trên thực tế, hệ thống kết nối dữ liệu vẫn chưa đồng bộ theo thời gian thực. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc xác định chính xác đối tượng thuộc diện tham gia, kiểm soát tình trạng chậm đóng, trốn đóng hoặc xử lý các trường hợp lao động đã xuất cảnh nhưng chưa hoàn tất thủ tục. Bên cạnh đó, hiệu quả cưỡng chế thi hành đối với các doanh nghiệp FDI đột ngột chấm dứt hoạt động hoặc rút khỏi thị trường vẫn còn hạn chế, tiềm ẩn rủi ro ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.

Một vấn đề đáng chú ý khác là tính tương thích của khung pháp lý trong bối cảnh toàn cầu hóa. Khái niệm "người lao động di chuyển nội bộ doanh nghiệp" chưa được hướng dẫn chi tiết, gây ra cách hiểu thiếu thống nhất. Đồng thời, do Việt Nam mới ký kết số lượng hạn chế các hiệp định song phương về an sinh xã hội, nhiều lao động nước ngoài vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm song song tại cả Việt Nam và quốc gia bản địa, làm phát sinh nguy cơ đóng trùng và gia tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi

Để chính sách BHXH bắt buộc đối với người lao động nước ngoài thực sự phát huy vai trò là công cụ bảo đảm an sinh bền vững, đồng thời nâng cao chất lượng môi trường đầu tư và năng lực cạnh tranh quốc gia, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch: Trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm rà soát, bổ sung những quy định còn thiếu hoặc chưa thống nhất; đặc biệt là làm rõ tiêu chí nhận diện "di chuyển nội bộ doanh nghiệp", căn cứ tính mức đóng và cơ chế giải quyết quyền lợi nhanh chóng cho người lao động khi chấm dứt làm việc tại Việt Nam. Đồng thời, cần nghiên cứu hoàn thiện cơ chế bảo lưu, cộng nối và chuyển tiếp thời gian tham gia BHXH xuyên quốc gia phù hợp với năng lực cân đối của quỹ.

Hai là, đẩy mạnh đàm phán và ký kết các hiệp định song phương về an sinh xã hội: Việt Nam cần tích cực mở rộng mạng lưới hiệp định an sinh xã hội với các quốc gia có nguồn lao động lớn dịch chuyển đến Việt Nam (như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản...). Các hiệp định này không chỉ giúp giải quyết triệt để tình trạng đóng trùng bảo hiểm, tạo điều kiện cộng nối thời gian tham gia, mà còn thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về lao động, nâng cao sức hút đối với nhân tài toàn cầu.

Ba là, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản lý nhà nước: Cần xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung và kết nối liên thông trực tuyến giữa cơ quan BHXH, lao động, thuế và xuất nhập cảnh. Việc chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực sẽ giúp quản lý chính xác biến động lao động, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi trốn đóng, chậm đóng. Song song đó, cần chú trọng đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn và trình độ ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ trực tiếp giải quyết thủ tục để đáp ứng yêu cầu quản lý trong môi trường quốc tế.

Bốn là, đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách: Tài liệu hướng dẫn cần được biên dịch sang nhiều ngôn ngữ phổ biến và đa dạng hóa hình thức truyền thông trên các nền tảng số. Việc tăng cường phối hợp với các hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài (EuroCham, AmCham, KoCham...), các đại sứ quán và cơ quan đại diện ngoại giao sẽ giúp nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật của cả người sử dụng lao động và người lao động, từ đó chủ động phòng ngừa tranh chấp phát sinh.

Năm là, nâng cao ý thức tuân thủ từ phía doanh nghiệp và người lao động: Các doanh nghiệp cần chủ động xây dựng cơ chế quản trị nhân sự minh bạch, tuân thủ đúng quy định và tư vấn rõ ràng cho người lao động ngay từ khi giao kết hợp đồng. Bản thân người lao động nước ngoài cũng cần chủ động tìm hiểu quyền lợi, nghĩa vụ của mình theo pháp luật Việt Nam, phối hợp chặt chẽ với người sử dụng lao động để thực hiện thủ tục và lưu trữ hồ sơ cẩn thận nhằm bảo vệ quyền lợi khi về nước.

Về lâu dài, Việt Nam cần duy trì cơ chế đánh giá định kỳ hiệu quả thực thi chính sách này dựa trên các chỉ số khoa học (tỷ lệ bao phủ, mức độ tuân thủ, mức độ hài lòng của doanh nghiệp...). Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng để kịp thời điều chỉnh chính sách, hướng tới một hệ thống an sinh xã hội hiện đại, bao trùm và thích ứng tốt với sự vận động của thị trường lao động toàn cầu.

Kết luận

Chế định bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động nước ngoài tại Việt Nam không chỉ đánh dấu bước phát triển quan trọng của pháp luật an sinh xã hội trong tiến trình hội nhập mà còn phản ánh sự chuyển biến căn bản trong tư duy lập pháp: chuyển từ điều chỉnh quan hệ lao động đơn thuần sang bảo đảm quyền con người và phát triển bền vững. Việc thiết lập khuôn khổ pháp lý này vừa bảo đảm sự bình đẳng không phân biệt quốc tịch, vừa khẳng định tính tiến bộ, nhân văn và mức độ tiệm cận sâu của pháp luật Việt Nam đối với các chuẩn mực quốc tế.

Trong giai đoạn tiếp theo, một hệ thống BHXH công bằng, hiệu quả và linh hoạt sẽ là một cấu phần không thể thiếu cấu thành nên chất lượng thể chế quốc gia, củng cố niềm tin của các nhà đầu tư chiến lược. Việc tiếp tục hoàn thiện chính sách này cần được đặt trong tổng thể chiến lược hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện nhất quán chủ trương của Đảng về nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây là tiền đề vững chắc để Việt Nam khẳng định vị thế của một quốc gia phát triển có trách nhiệm và cam kết mạnh mẽ đối với các mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu.

Luật gia Nguyễn Văn Minh

Tài liệu tham khảo

Hiến pháp năm 2013.

Bộ chính trị (2026), Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, ban hành ngày 08/6/2026.

Quốc hội (2024), Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.

Quốc hội (2015), Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015.

Chính phủ (2025), Nghị định số 158/2025/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc.