07/09/2026 lúc 16:25 (GMT+7)
Breaking News

Đà Nẵng: Chuyển lợi thế biển thành động lực tăng trưởng xanh

Không gian biển rộng cùng hệ thống cảng, đô thị và du lịch tạo cho Đà Nẵng nhiều dư địa phát triển kinh tế biển. Để chuyển tiềm năng thành động lực tăng trưởng xanh, thành phố cần tổ chức hiệu quả không gian, nâng cao giá trị các chuỗi dịch vụ và bảo vệ hệ sinh thái.
Từ lợi thế biển đến động lực tăng trưởng xanh, bền vững.

I. TỪ KHAI THÁC LỢI THẾ BIỂN ĐẾN KIẾN TẠO GIÁ TRỊ MỚI

Đà Nẵng đang đứng trước yêu cầu chuyển từ “có lợi thế biển” sang tạo lập giá trị bền vững từ lợi thế đó. Tài nguyên và vị trí địa lý tạo ra những điều kiện ban đầu, nhưng khả năng tổ chức không gian, ứng dụng công nghệ, phát triển dịch vụ và nâng cao chất lượng quản trị mới quyết định mức độ chuyển hóa tiềm năng thành năng suất, việc làm và giá trị gia tăng.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Đà Nẵng có khoảng 228 km bờ biển, tạo điều kiện phát triển một không gian kinh tế biển đa dạng, bao gồm du lịch, thủy sản, cảng biển, hàng hải, logistics, dịch vụ và đô thị ven biển. Quy mô không gian được mở rộng đồng thời làm tăng yêu cầu điều phối, bởi mỗi khu vực có đặc điểm tài nguyên, trình độ phát triển và sức chịu tải sinh thái khác nhau.

Sau nhiều năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhận thức về kinh tế biển từng bước chuyển từ khai thác đơn thuần sang sử dụng hợp lý tài nguyên, gắn phát triển kinh tế với bảo tồn hệ sinh thái và quản trị tổng hợp không gian biển. Biển không chỉ là nguồn tài nguyên phục vụ các hoạt động riêng lẻ, mà còn là một không gian phát triển có tính liên thông cao, cần được tổ chức và quản trị bằng tầm nhìn dài hạn.

Ở cấp độ cộng đồng, những hoạt động du lịch cộng đồng đang hình thành tại Tam Tiến cho thấy một hướng chuyển đổi mềm trong sinh kế ven biển. Người dân bước đầu liên kết để phát triển các hoạt động lưu trú nhỏ, ẩm thực, trải nghiệm chợ cá, văn hóa làng biển và một số dịch vụ trên biển. Những hoạt động này có thể giúp đa dạng hóa nguồn thu nhập, giảm mức độ phụ thuộc vào khai thác tự nhiên và mở rộng sự tham gia của cộng đồng vào chuỗi giá trị du lịch.

Tuy nhiên, du lịch cộng đồng chỉ có khả năng phát triển lâu dài khi lợi ích kinh tế gắn với trách nhiệm bảo vệ cảnh quan, môi trường và văn hóa bản địa. Nếu sản phẩm du lịch phát triển tự phát, thiếu tiêu chuẩn dịch vụ hoặc khai thác quá mức không gian ven biển, lợi thế ban đầu có thể suy giảm. Bởi vậy, vai trò của chính quyền không phải tổ chức kinh doanh thay người dân, mà là hoàn thiện hạ tầng, hướng dẫn tiêu chuẩn, hỗ trợ kết nối thị trường và bảo đảm những giới hạn cần thiết đối với việc sử dụng tài nguyên.

Từ góc độ kinh tế học phát triển, giá trị của biển có thể được mở rộng bằng cách tạo ra nhiều giá trị hơn trên cùng một đơn vị tài nguyên. Điều này không nhất thiết đồng nghĩa với gia tăng cường độ khai thác, mà chủ yếu dựa vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển dịch vụ, ứng dụng công nghệ và tổ chức các hoạt động kinh tế theo chuỗi. Khi nguồn lực tự nhiên được kết nối với hạ tầng, tri thức và thị trường, kinh tế biển có thể chuyển dần từ khai thác tài nguyên sang kiến tạo giá trị.

Sự thay đổi trong cách tạo ra giá trị là tiền đề để Đà Nẵng hình thành những trụ cột phát triển mới. Trong đó, lợi thế cảng biển, vị trí địa kinh tế, hệ thống đô thị và nguồn tài nguyên du lịch có thể bổ trợ cho nhau, giúp thành phố tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị khu vực mà không làm suy giảm nền tảng sinh thái của quá trình phát triển.

II. TÁI CẤU TRÚC KHÔNG GIAN VÀ CHUỖI GIÁ TRỊ KINH TẾ BIỂN

Nếu tài nguyên là điểm khởi đầu, năng lực tổ chức không gian và nâng cấp chuỗi giá trị mới quyết định khả năng tạo ra tăng trưởng từ kinh tế biển. Đối với Đà Nẵng, yêu cầu này trước hết thể hiện trong phát triển du lịch biển. Tài nguyên cảnh quan có giới hạn; hiệu quả phát triển không chỉ được đo bằng số lượt khách hay quy mô lưu trú, mà còn phải thể hiện ở thời gian lưu trú, mức chi tiêu, chất lượng trải nghiệm, khả năng tạo sinh kế cho cộng đồng và mức độ bảo vệ hệ sinh thái.

Theo hướng đó, sản phẩm du lịch cần được tổ chức theo chuỗi, kết nối nghỉ dưỡng biển với văn hóa, ẩm thực, sự kiện, du lịch cộng đồng và trải nghiệm thiên nhiên. Việc đa dạng hóa sản phẩm có thể góp phần phân bổ lại dòng khách, hạn chế tình trạng tập trung quá mức vào một số khu vực và mở rộng lợi ích du lịch tới các cộng đồng ven biển. Tuy nhiên, sự mở rộng phải đi cùng quản lý sức chứa điểm đến, chất lượng dịch vụ và khả năng xử lý chất thải.

Kinh nghiệm quốc tế về quản trị điểm đến cho thấy tài nguyên tự nhiên chỉ có thể trở thành nền tảng của ngành du lịch lâu dài khi được quản lý như một tài sản hữu hạn. Khai thác cần đi cùng giám sát tác động, xác định sức chịu tải và tái đầu tư một phần nguồn thu cho bảo tồn. Điều đó cho thấy bảo vệ tài nguyên không phải chi phí tách rời hoạt động du lịch, mà là điều kiện duy trì sức hấp dẫn và giá trị kinh tế của điểm đến.

Trong cấu trúc kinh tế biển, cảng biển có vị trí đặc biệt vì có thể trở thành hạt nhân của một hệ sinh thái logistics. Giá trị của cảng cần được nhìn trong mối quan hệ với kho bãi, vận tải đa phương thức, thương mại, công nghiệp và các dịch vụ tài chính, bảo hiểm, công nghệ hỗ trợ. Khi những mắt xích này được kết nối, cảng có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn hơn so với chức năng bốc dỡ hàng hóa đơn thuần.

Ngược lại, nếu năng lực cảng phát triển nhưng hạ tầng kết nối phía sau, dịch vụ hậu cần và nguồn hàng chưa tương xứng, lợi thế địa kinh tế khó được chuyển hóa đầy đủ thành giá trị gia tăng. Hiệu quả cảng biển vì thế không chỉ được đánh giá bằng công suất thiết kế hoặc lượng hàng thông qua, mà còn bằng khả năng kết nối với mạng lưới sản xuất, phân phối và các hành lang kinh tế trong nước, quốc tế.

Tại Diễn đàn Logistics quốc tế Đà Nẵng năm 2026, định hướng phát triển hệ sinh thái logistics tích hợp đã được đặt ra trên cơ sở kết nối cảng biển, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, khu công nghệ cao và các dịch vụ hỗ trợ. Cách tiếp cận này cho thấy logistics không nên được phát triển theo từng dự án riêng lẻ, mà cần được tổ chức như một cấu trúc thống nhất giữa hạ tầng, thương mại, sản xuất, tài chính, công nghệ và dịch vụ.

Sau khi địa giới hành chính và không gian phát triển của thành phố được mở rộng, yêu cầu tổ chức lại không gian kinh tế biển càng trở nên rõ nét. Quy mô lớn hơn có thể tạo điều kiện hình thành các hành lang kinh tế biển, liên kết hệ thống đô thị ven biển và kết nối cảng với logistics, công nghiệp, du lịch và dịch vụ. Song, không gian rộng hơn cũng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ hơn trong quy hoạch, đầu tư hạ tầng và phân bổ nguồn lực.

Khoảng cách giữa lợi thế và năng lực khai thác lợi thế vẫn còn hiện hữu. Hệ thống trung tâm logistics quy mô lớn đang tiếp tục được hoàn thiện; hạ tầng kết nối cần thêm nguồn lực đầu tư; các dịch vụ logistics có giá trị gia tăng cao chưa phát triển tương xứng. Việc thu hút nhà đầu tư chiến lược vì thế cần gắn với yêu cầu hình thành năng lực mới, phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ và mở rộng liên kết với doanh nghiệp địa phương.

Chỉ khi các nguồn lực được kết nối bằng hạ tầng đồng bộ và thể chế phù hợp, không gian mở rộng mới có thể hình thành những cực tăng trưởng và mạng lưới kinh tế có sức lan tỏa. Đây là điều kiện để lợi thế cảng biển và vị trí địa kinh tế của Đà Nẵng được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thực chất.

III. ĐẶT TĂNG TRƯỞNG BIỂN TRONG GIỚI HẠN SINH THÁI

Biển có khả năng tái tạo và tự làm sạch ở một mức độ nhất định, nhưng năng lực đó không phải vô hạn. Nguy cơ suy giảm nguồn lợi thủy sản cùng áp lực từ đô thị hóa, du lịch, vận tải và xây dựng ven biển cho thấy không gian biển đang phải tiếp nhận đồng thời nhiều nhu cầu phát triển. Nếu hoạt động kinh tế được mở rộng mà không tính đến giới hạn sinh thái, lợi ích trước mắt có thể làm phát sinh những chi phí môi trường và kinh tế lớn hơn trong dài hạn.

Yêu cầu này càng trở nên rõ ràng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tác động ngày càng mạnh đến vùng ven biển. Lượng khách và quy mô đô thị gia tăng kéo theo nhu cầu về giao thông, nước sạch, năng lượng và xử lý chất thải. Trong khi đó, xói lở, nước biển dâng, bão và các hiện tượng thời tiết cực đoan làm tăng tính dễ bị tổn thương của hạ tầng và cộng đồng.

Các kết quả nghiên cứu về diễn biến xói lở, bồi tụ dải ven biển Đà Nẵng cho thấy đường bờ là một hệ thống động, chịu tác động của thủy triều, dòng chảy, quá trình vận chuyển bùn cát, sự tương tác với hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn và những biến động liên quan đến khí hậu. Điều đó đòi hỏi các dự án ven biển phải được xem xét trong mối quan hệ với toàn bộ hệ thống tự nhiên, thay vì chỉ đánh giá tác động trong phạm vi địa điểm triển khai.

Khái niệm sức chịu tải của hệ sinh thái cần được đưa vào trung tâm của tư duy phát triển. Về phương diện quản lý, bên cạnh câu hỏi một dự án tạo ra bao nhiêu doanh thu, thu hút bao nhiêu khách hoặc tạo bao nhiêu việc làm, cần xác định hệ sinh thái có thể tiếp nhận mức độ khai thác nào, hạ tầng xử lý chất thải đáp ứng đến đâu và các hoạt động cảng biển, du lịch, thủy sản, đô thị có tạo ra xung đột về không gian hay không.

Sức chịu tải cũng không phải một ngưỡng cố định cho mọi thời điểm. Khả năng tiếp nhận của hệ sinh thái có thể thay đổi theo mùa, theo mức độ đầu tư hạ tầng và theo trạng thái của tài nguyên. Vì vậy, quá trình quản lý cần dựa trên dữ liệu được cập nhật thường xuyên, thay vì chỉ xác định một lần tại thời điểm lập quy hoạch hoặc phê duyệt dự án.

Do tính liên thông cao, biển đòi hỏi chuyển từ quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp vùng bờ. Một khu vực có thể đồng thời liên quan đến đánh bắt, vận tải, du lịch, bảo tồn và phát triển đô thị. Nếu mỗi lĩnh vực được quy hoạch và điều hành riêng biệt, nguy cơ chồng lấn không gian, xung đột lợi ích và phân tán trách nhiệm môi trường sẽ gia tăng.

Quản lý tổng hợp vùng bờ cần kết hợp phân vùng chức năng, phối hợp liên ngành, đánh giá tác động tổng hợp và giám sát thường xuyên. Cách tiếp cận này không loại bỏ mục tiêu phát triển của từng ngành, mà đặt các mục tiêu đó trong mối quan hệ với nhau và với khả năng chịu tải của hệ sinh thái. Qua đó, xung đột có thể được nhận diện sớm và nguồn lực biển được phân bổ phù hợp hơn.

Yêu cầu “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng” vì thế cần được cụ thể hóa bằng quy hoạch dựa trên sức chịu tải, đánh giá tác động trong không gian tổng thể, giám sát môi trường bằng dữ liệu và gắn trách nhiệm bảo vệ tài nguyên với các chủ thể khai thác, hưởng lợi. Khi giới hạn sinh thái được đưa vào bài toán phát triển ngay từ đầu, tăng trưởng xanh không còn là yêu cầu bổ sung, mà trở thành phương thức tổ chức căn bản của kinh tế biển.

IV. XÂY DỰNG MÔ HÌNH KINH TẾ BIỂN HIỆN ĐẠI, XANH VÀ CÓ SỨC CẠNH TRANH

Từ yêu cầu chuyển lợi thế biển thành động lực tăng trưởng xanh, Đà Nẵng cần hướng tới mô hình kinh tế biển trong đó giá trị ngày càng ít phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thô và ngày càng dựa nhiều hơn vào hạ tầng, công nghệ, tri thức và dịch vụ. Có thể nhận diện mô hình này qua ba lớp giá trị có quan hệ bổ trợ lẫn nhau.

Lớp thứ nhất là giá trị tài nguyên, bao gồm biển, bờ biển, hệ sinh thái, cảnh quan và nguồn lợi thủy sản. Đây là nền tảng tự nhiên của các hoạt động kinh tế, đồng thời là nguồn lực cần được bảo tồn và tái tạo. Lớp thứ hai là giá trị hạ tầng, gồm cảng biển, giao thông, logistics, đô thị và hạ tầng số, có vai trò kết nối tài nguyên với hoạt động sản xuất, dịch vụ và thị trường. Lớp thứ ba là giá trị tri thức và dịch vụ, bao gồm logistics giá trị gia tăng cao, tài chính, công nghệ, du lịch trải nghiệm, đổi mới sáng tạo và các dịch vụ quốc tế.

Ba lớp giá trị này không thay thế mà bổ trợ cho nhau. Giá trị gia tăng được mở rộng khi hạ tầng, công nghệ, tri thức và dịch vụ phát triển trên nền tài nguyên được sử dụng hợp lý và hệ sinh thái được bảo vệ. Nếu nền tảng sinh thái suy giảm, các lớp giá trị phía trên cũng khó có thể duy trì trong dài hạn.

Theo hướng đó, xanh hóa kinh tế biển trước hết là thay đổi phương thức vận hành của những ngành đang có. Du lịch biển cần giảm chất thải, sử dụng tiết kiệm nước và năng lượng, quản lý sức chứa điểm đến và tăng sự tham gia của cộng đồng. Cảng biển và logistics có thể giảm phát thải thông qua sử dụng phương tiện sạch hơn, tối ưu hành trình, ứng dụng công nghệ số và giảm thời gian chờ. Đô thị ven biển cần tăng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu, bảo vệ không gian xanh và duy trì các hành lang sinh thái.

Đối với thủy sản, yêu cầu đặt ra là kiểm soát cường độ khai thác, phục hồi nguồn lợi, nâng cao hiệu quả chế biến và tăng khả năng truy xuất nguồn gốc. Giá trị kinh tế không nên chỉ được tạo ra từ việc khai thác nhiều hơn, mà cần được nâng lên thông qua chất lượng, chế biến, thương hiệu và tổ chức thị trường. Cách tiếp cận này vừa góp phần cải thiện thu nhập, vừa giảm áp lực trực tiếp lên tài nguyên biển.

Dữ liệu và đổi mới sáng tạo có thể tạo ra một phương thức quản trị biển chủ động hơn. Hệ thống thông tin địa lý, dữ liệu không gian biển, cảm biến môi trường, quan trắc chất lượng nước, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ dự báo, giám sát tàu thuyền và phân tích nguy cơ xói lở cho phép chuyển từ quản lý chủ yếu sau khi vấn đề phát sinh sang nhận diện nguy cơ và phòng ngừa sớm. Chuyển đổi số vì vậy cũng trở thành công cụ nâng cao năng lực bảo vệ tài nguyên và chất lượng quyết định quản lý.

Tuy nhiên, dữ liệu chỉ có ý nghĩa khi được chuẩn hóa, cập nhật, chia sẻ và tích hợp vào quy trình ra quyết định. Nếu dữ liệu phân tán giữa các ngành hoặc chỉ được thu thập theo từng dự án, khả năng đánh giá tác động tổng hợp đối với không gian biển sẽ bị hạn chế. Vì vậy, Đà Nẵng cần từng bước hình thành một hệ thống dữ liệu biển dùng chung, phục vụ đồng thời quy hoạch, quản lý tài nguyên, giám sát môi trường và cảnh báo rủi ro.

Cốt lõi của mô hình là bảo đảm hài hòa ba mục tiêu: tăng trưởng kinh tế, bảo vệ hệ sinh thái và duy trì sinh kế, lợi ích cộng đồng. Nhà nước kiến tạo thể chế, quy hoạch và điều phối; doanh nghiệp đầu tư, đổi mới công nghệ và nâng cấp chuỗi giá trị; cộng đồng tham gia khai thác hợp lý, bảo vệ và giám sát tài nguyên.

Kinh tế biển chỉ thực sự bền vững khi lợi ích từ phát triển được phân bổ hợp lý, còn chi phí môi trường không bị chuyển dịch sang cộng đồng và các thế hệ tương lai. Đây cũng là cơ sở để đánh giá hiệu quả của các dự án không chỉ qua doanh thu, vốn đầu tư hay việc làm, mà còn qua mức giảm phát thải, hiệu quả sử dụng tài nguyên, chất lượng môi trường và khả năng cải thiện sinh kế địa phương.

V. KẾT LUẬN

Đà Nẵng có nhiều điều kiện để đưa kinh tế biển trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng, song lợi thế tự nhiên mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lâu dài phụ thuộc vào khả năng tổ chức không gian biển hợp lý, nâng cấp chuỗi logistics và dịch vụ, phát triển du lịch có trách nhiệm, đồng thời ứng dụng công nghệ vào quản trị tài nguyên.

Quan trọng hơn, mọi quyết định phát triển cần được đặt trong sức chịu tải của hệ sinh thái và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Điều đó đòi hỏi thành phố không chỉ mở rộng quy mô hoạt động kinh tế, mà còn phải nâng cao chất lượng quy hoạch, năng lực điều phối, hệ thống dữ liệu và trách nhiệm của các chủ thể tham gia khai thác không gian biển.

Khi chuyển từ tư duy khai thác sang kiến tạo giá trị, từ phát triển đơn ngành sang xây dựng hệ sinh thái liên kết, từ xử lý hậu quả sang chủ động quản trị rủi ro môi trường, Đà Nẵng có thể từng bước chuyển lợi thế biển thành động lực tăng trưởng xanh. Đó là con đường nâng cao năng lực cạnh tranh mà vẫn bảo toàn nguồn lực tự nhiên, duy trì sinh kế cộng đồng và gìn giữ dư địa phát triển cho các thế hệ tương lai./.

ThS. Trần Thị Mai Hoa