
I. KHÔNG GIAN MỚI VÀ YÊU CẦU MỚI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
Việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 đã tạo ra một không gian phát triển mới cho Khánh Hòa, về quy mô lãnh thổ và cả cấu trúc kinh tế và khả năng liên kết các vùng động lực. Từ ngày 1/7/2025, Khánh Hòa và Ninh Thuận được hợp nhất, hình thành tỉnh Khánh Hòa mới có diện tích hơn 8.555 km², dân số trên 2,24 triệu người. Trong không gian mới, tỉnh sở hữu đường bờ biển gần 500 km, gần 200 đảo lớn, nhỏ, cùng hệ thống vịnh, cảng biển, vùng ven biển, đảo và các trung tâm đô thị, du lịch có những chức năng khác nhau.
Ý nghĩa lớn nhất của việc mở rộng không gian nằm ở khả năng tổ chức lại những lợi thế vốn phân tán thành một chỉnh thể phát triển có tính bổ trợ. Nghị quyết về sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 xác định một trong những mục tiêu quan trọng của việc sắp xếp là mở rộng không gian phát triển, phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế của địa phương. Với Khánh Hòa, điều đó tạo cơ sở để nhìn nhận sắp xếp địa giới như một cơ hội tái cấu trúc không gian kinh tế, trong đó biển trở thành trục liên kết giữa các đô thị, vùng sản xuất, trung tâm dịch vụ, cảng biển và các hành lang giao thông.
Nền tảng kinh tế hiện có cho thấy Khánh Hòa đã tích lũy được những điều kiện nhất định để chuyển hóa không gian mới thành động lực tăng trưởng. Giai đoạn 2021 đến 2025, GRDP của tỉnh tăng bình quân khoảng 8,24% mỗi năm, quy mô nền kinh tế năm 2025 ước đạt 209,2 nghìn tỷ đồng; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại, trong đó dịch vụ và công nghiệp, xây dựng chiếm tỷ trọng 78,9%. Du lịch, thủy sản, công nghiệp, cảng biển và các dịch vụ liên quan đã trở thành những bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Giữa tiềm năng tự nhiên và năng lực tạo giá trị vẫn tồn tại một khoảng cách đáng kể. Tài nguyên chỉ tạo thành lợi thế cạnh tranh khi được kết nối với hạ tầng, công nghệ, nhân lực, doanh nghiệp, thể chế và các chuỗi cung ứng phù hợp.
Đây cũng là vấn đề cần được nhìn nhận trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng. Nếu chỉ tiếp tục khai thác những lợi thế sẵn có, địa phương có nguy cơ gia tăng sản lượng nhưng chưa chắc tạo ra mức gia tăng tương ứng về năng suất và giá trị. Ngược lại, nếu các lợi thế biển được tổ chức thành những chuỗi liên kết giữa du lịch, logistics, cảng biển, thủy sản, công nghiệp chế biến, dịch vụ và đô thị, mỗi ngành có thể tạo thêm đầu vào và thị trường cho ngành khác. Định hướng phát triển hiện nay của Khánh Hòa đã bước đầu thể hiện tư duy này khi xác định các đô thị với những chức năng bổ trợ như Nha Trang là đô thị hạt nhân trung tâm, Cam Ranh theo hướng đô thị du lịch logistics, Cam Lâm phát triển đô thị sân bay hiện đại, Vạn Ninh hướng tới đô thị du lịch biển cao cấp và Ninh Hòa phát triển công nghiệp.
II. LIÊN KẾT CÁC LỢI THẾ, HÌNH THÀNH ĐỘNG LỰC KINH TẾ BIỂN MỚI
Trong điều kiện không gian phát triển được mở rộng, vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với Khánh Hòa không phải là tiếp tục phân loại từng lợi thế theo từng ngành, mà là tổ chức những lợi thế đó thành các chuỗi giá trị có khả năng bổ trợ lẫn nhau. Điều này cũng là yêu cầu phù hợp với định hướng quy hoạch mới, trong đó Khánh Hòa được xác định là trung tâm phát triển kinh tế biển, logistics, dịch vụ chất lượng cao, công nghiệp công nghệ cao, đồng thời giữ vai trò kết nối các hành lang kinh tế ven biển, liên vùng và quốc tế. Du lịch chỉ khai thác cảnh quan, cảng biển chủ yếu thực hiện chức năng xếp dỡ, thủy sản dừng ở khai thác và nuôi trồng, còn logistics chỉ cung cấp dịch vụ vận chuyển, thì giá trị tạo ra trong từng khâu sẽ khó được cộng hưởng. Trái lại, khi các ngành được đặt trong quan hệ cung ứng và thị trường, một lợi thế có thể trở thành đầu vào, đầu ra hoặc động lực mở rộng cho nhiều hoạt động kinh tế khác.
Có thể hình dung hai chuỗi liên kết tiêu biểu. Chuỗi thứ nhất là du lịch biển, dịch vụ, thủy sản và nông sản, thương mại, tiêu dùng. Khách du lịch ngoài tiêu dùng phòng lưu trú hay dịch vụ tham quan, còn tạo nhu cầu đối với thực phẩm, thủy sản, sản phẩm đặc trưng, vận tải, bán lẻ và các dịch vụ trải nghiệm. Khi nguồn cung tại chỗ được tổ chức tốt, một phần chi tiêu du lịch có thể được giữ lại trong nền kinh tế địa phương, đồng thời tạo thị trường ổn định cho các ngành sản xuất. Chuỗi thứ hai là cảng biển, logistics, công nghiệp chế biến và chế tạo, phân phối, thị trường. Khi hàng hóa được tập trung, lưu chuyển và phân phối với chi phí hợp lý, lợi thế cảng biển còn ở khả năng thu hút các hoạt động sản xuất, chế biến và dịch vụ hậu cần ở khu vực phía sau cảng. Như vậy, động lực mới không nhất thiết phải là một ngành hoàn toàn mới; quan trọng hơn là tạo ra cách kết nối mới giữa những ngành đã có lợi thế.
Trong cấu trúc đó, cảng biển và logistics là một trường hợp điển hình cho yêu cầu chuyển từ lợi thế vị trí sang lợi thế chuỗi cung ứng. Quy hoạch hệ thống cảng biển quốc gia đã định hướng phát triển cảng biển gắn với trung tâm sản xuất, phân phối hàng hóa, khu công nghiệp, khu kinh tế và các hành lang kinh tế; đồng thời nhấn mạnh kết nối giữa đường biển, đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa để hình thành vận tải đa phương thức. Đối với Khánh Hòa, cảng biển được quy hoạch là cảng loại I và có tiềm năng trở thành cảng biển đặc biệt. Quy hoạch cũng tiếp tục nghiên cứu cơ chế phát triển cảng trung chuyển quốc tế tại Vân Phong, dựa trên điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý của khu vực.
Điều đó đặt ra yêu cầu nhìn cảng không phải như một công trình giao thông độc lập, mà như một hạt nhân của hệ sinh thái sản xuất và dịch vụ. Phía sau cảng cần có kho bãi, kho lạnh, trung tâm phân phối, dịch vụ logistics, công nghiệp chế biến, mạng lưới vận tải liên vùng và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp. Khánh Hòa có thể khai thác tốt hơn mối liên kết với Tây Nguyên, các vùng sản xuất hàng hóa, các cơ sở chế biến và hệ thống phân phối để hình thành nguồn hàng ổn định cho cảng. Đối với thủy sản, logistics lạnh và dịch vụ sau cảng càng có ý nghĩa bởi đặc thù hàng hóa đòi hỏi thời gian vận chuyển ngắn, điều kiện bảo quản nghiêm ngặt và khả năng truy xuất. Mục tiêu là tăng phần giá trị được tạo ra xung quanh cảng.
Nuôi biển lại cho thấy một phương diện khác của yêu cầu nâng cấp mô hình tăng trưởng. Khánh Hòa có nền tảng nuôi biển lớn, với nhiều đối tượng có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, cá bớp, cá chẽm và cá chim vây vàng. Trước đây, hoạt động nuôi biển của địa phương chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, tập trung gần bờ, vật liệu lồng bè còn hạn chế và sử dụng thức ăn tươi, qua đó tạo áp lực đối với môi trường và làm giảm hiệu quả sử dụng không gian biển. Trong những năm gần đây, tỉnh đã định hướng thí điểm phát triển nuôi biển công nghệ cao, khuyến khích ứng dụng công nghệ trong sản xuất giống, thức ăn công nghiệp và sử dụng vật liệu mới cho lồng nuôi. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh đạt 829 triệu USD, cho thấy dư địa đáng kể để nâng cao giá trị từ lĩnh vực này.
Dù thế, đổi mới vật liệu lồng bè chỉ là một khâu trong quá trình chuyển đổi. Điều quan trọng hơn là tổ chức lại toàn bộ phương thức sản xuất theo chuỗi, từ nuôi trồng, quản lý dữ liệu, kiểm soát môi trường, chế biến, truy xuất nguồn gốc đến thị trường. Khi dữ liệu về vùng nuôi, giống, thức ăn, quá trình chăm sóc và thu hoạch được quản lý tốt, sản phẩm không chỉ đáp ứng yêu cầu an toàn mà còn có khả năng nâng cao giá trị và tiếp cận những thị trường có tiêu chuẩn cao. Quy định mới về nuôi trồng thủy sản cũng đặt yêu cầu đối với vật liệu lồng bè theo hướng không gây ô nhiễm, không gây độc hại cho thủy sản và không để thủy sản nuôi thoát ra môi trường. Vì vậy, chuyển đổi nuôi biển cần được nhìn nhận đồng thời ở ba phương diện: nâng năng suất, bảo vệ hệ sinh thái và nâng giá trị sản phẩm.
Du lịch biển là lĩnh vực có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa rõ nét nhất nếu được đặt trong quan hệ với các ngành khác. Trong không gian mới, du lịch cần chuyển từ mục tiêu chủ yếu gia tăng lượng khách sang nâng giá trị mỗi khách, kéo dài thời gian lưu trú, đa dạng hóa sản phẩm và kết nối các điểm đến. Quy hoạch mới xác định Khánh Hòa là trung tâm dịch vụ, du lịch biển quốc tế, đồng thời là hạt nhân phát triển du lịch, nghỉ dưỡng, hội nghị và sự kiện của vùng. Điều này mở ra khả năng hình thành những chuỗi dịch vụ có độ sâu hơn, trong đó du lịch không chỉ là một ngành tạo doanh thu trực tiếp mà còn là thị trường đầu ra cho thủy sản, nông sản, sản phẩm thủ công, thương mại và các dịch vụ sáng tạo.
Chẳng hạn, nguồn thủy sản được nuôi và chế biến theo tiêu chuẩn có thể cung cấp cho hệ thống nhà hàng, khách sạn; sản phẩm địa phương được chuẩn hóa và truy xuất có thể trở thành hàng hóa phục vụ khách du lịch; các làng nghề và vùng sản xuất có thể trở thành điểm đến trải nghiệm. Khi đó, chi tiêu của du khách được phân bổ qua nhiều ngành thay vì tập trung vào một số dịch vụ lưu trú và tham quan. Giá trị kinh tế của du lịch vì thế được mở rộng theo chiều sâu của chuỗi cung ứng.
Từ các chuỗi liên kết trên có thể thấy, một nền kinh tế biển mạnh là nền kinh tế trong đó các ngành có khả năng bổ trợ và tạo thị trường cho nhau. Du lịch tạo nhu cầu đối với dịch vụ và sản phẩm địa phương; cảng và logistics mở rộng khả năng kết nối; công nghiệp tạo năng lực chế biến và giá trị gia tăng; thủy sản cung cấp nguồn nguyên liệu và sản phẩm đặc trưng; khoa học, công nghệ và dữ liệu nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng kiểm soát. Khi những yếu tố này được tổ chức trong cùng một không gian phát triển, chi phí kết nối có thể giảm, khả năng chia sẻ hạ tầng tăng, chuỗi giá trị được kéo dài và phần giá trị giữ lại tại địa phương có điều kiện tăng lên.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với Khánh Hòa trong giai đoạn mới không phải là lựa chọn một ngành để trở thành động lực duy nhất, mà là tạo lập cơ chế để nhiều lợi thế cùng vận hành trong một hệ sinh thái kinh tế biển thống nhất. Từ không gian biển đến liên kết ngành, từ liên kết ngành đến chuỗi giá trị, từ chuỗi giá trị đến giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh, đây chính là con đường để chuyển hóa lợi thế tự nhiên thành sức mạnh kinh tế. Khi mỗi ngành không chỉ phát triển cho chính mình mà còn tạo thêm đầu vào, thị trường và cơ hội cho ngành khác, Khánh Hòa có thể chuyển từ trạng thái có nhiều lợi thế sang hình thành một hệ sinh thái lợi thế, qua đó tạo nền tảng vững chắc hơn cho tăng trưởng nhanh, bền vững và có khả năng lan tỏa trong không gian vùng.
III. QUẢN TRỊ LÀ KHÂU QUYẾT ĐỊNH ĐỂ BIẾN LỢI THẾ THÀNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH
Mở rộng không gian phát triển chỉ tạo ra dư địa, chưa tự thân tạo nên năng lực cạnh tranh. Với một tỉnh có không gian biển rộng và nhiều chức năng kinh tế cùng tồn tại, chất lượng quản trị trở thành yếu tố quyết định khả năng chuyển hóa tài nguyên thành giá trị. Đầu tiên, quản trị không gian biển phải đi trước khai thác. Biển đồng thời là không gian của du lịch, nuôi trồng thủy sản, cảng biển, năng lượng, bảo tồn thiên nhiên và quốc phòng, an ninh. Nếu thiếu một cơ chế quản trị tích hợp, nguy cơ chồng lấn chức năng, xung đột lợi ích và suy giảm hệ sinh thái có thể gia tăng. Do đó, cần chuyển từ tư duy phân chia không gian đơn thuần sang quản trị dựa trên dữ liệu và sức chịu tải của hệ sinh thái. Quy hoạch cần gắn với phân vùng chức năng, cập nhật dữ liệu, giám sát thường xuyên và điều chỉnh theo biến động thực tế.
Điều kiện thứ hai là khoa học, công nghệ và dữ liệu phải trở thành một dạng hạ tầng mới của kinh tế biển. Công nghệ còn có vai trò trong quản lý cảng, logistics, giám sát môi trường, dự báo thiên tai và truy xuất nguồn gốc. Định hướng xây dựng Trung tâm nghiên cứu quốc gia về công nghệ đại dương tại Khánh Hòa nếu được triển khai hiệu quả có thể hình thành một hạt nhân liên kết giữa nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp và chuyển giao công nghệ. Điều này phù hợp với yêu cầu đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí ngày càng quan trọng trong mô hình tăng trưởng mới. Khi dữ liệu được chia sẻ và khai thác đúng cách, các quyết định về đầu tư, sản xuất, vận tải, môi trường và thị trường có thể dựa nhiều hơn trên bằng chứng thay vì kinh nghiệm đơn lẻ. Nếu hạ tầng giao thông tạo kết nối vật chất, thì dữ liệu và công nghệ tạo kết nối tri thức và năng lực quản trị cho kinh tế biển.
Cuối cùng, con người và thể chế phải theo kịp không gian phát triển mới. Không gian kinh tế lớn hơn đòi hỏi năng lực quản trị cao hơn, đặc biệt trong những lĩnh vực có tính liên ngành như kinh tế biển, logistics, công nghệ, môi trường và dữ liệu. Điều này đặt ra yêu cầu làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm, cơ chế phối hợp và phương thức chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, hạn chế tình trạng chồng chéo hoặc khoảng trống quản lý. Chính quyền địa phương vì thế cần chuyển mạnh từ vai trò chủ yếu là cấp phép và kiểm soát sang kiến tạo môi trường phát triển, kết nối doanh nghiệp với cơ sở nghiên cứu, thị trường và các nguồn lực xã hội. Không gian mới tạo ra cơ hội, nhưng chất lượng quản trị mới quyết định khả năng chuyển hóa cơ hội đó thành kết quả phát triển. Đối với Khánh Hòa, đây chính là điều kiện nền tảng để lợi thế biển không chỉ được khai thác nhiều hơn, mà được khai thác hiệu quả hơn, tạo ra giá trị gia tăng cao hơn và bền vững hơn.
IV. KẾT LUẬN
Khánh Hòa đang sở hữu một lợi thế đặc biệt với không gian biển rộng, gắn với hệ thống du lịch, cảng biển, thủy sản, logistics và vị trí kết nối liên vùng. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, những lợi thế này có thêm điều kiện được tổ chức ở quy mô lớn hơn, mở rộng dư địa liên kết và phân bổ nguồn lực. Động lực mới chỉ hình thành khi các ngành được kết nối, chuỗi giá trị được kéo dài, hạ tầng được đồng bộ, khoa học, công nghệ và dữ liệu được ứng dụng, đồng thời không gian biển được quản trị theo hướng tích hợp và bền vững. Theo đó, phát triển kinh tế biển của Khánh Hòa cần chuyển từ khai thác tài nguyên biển, tổ chức không gian biển, hình thành hệ sinh thái kinh tế biển đến tạo giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh. Quá trình này phải đồng thời bảo đảm hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường, duy trì sinh kế, củng cố quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển, đảo. Phát huy lợi thế biển trong giai đoạn mới vì thế không chỉ là khai thác tốt những gì Khánh Hòa đang có, mà quan trọng hơn là tạo ra phương thức tổ chức mới để những lợi thế ấy liên kết, bổ trợ và tạo giá trị cao hơn./.
ThS Lan Hương




