10/09/2026 lúc 18:13 (GMT+7)
Breaking News

Nông thôn mới: Từ tư duy đạt chuẩn đến nâng cao chất lượng phát triển

Bộ tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2026–2030 đang chuyển trọng tâm từ hoàn thành chuẩn mực sang nâng cao chất lượng phát triển. Với Thanh Hóa, yêu cầu đặt ra là củng cố đồng bộ kinh tế, hạ tầng, môi trường và chất lượng sống, để mỗi kết quả đạt chuẩn trở thành nền tảng cho một quá trình phát triển bền vững, liên tục.
Nâng chất nông thôn mới từ những tiêu chí đạt được thành năng lực phát triển và giá trị sống bền vững.

Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026–2030 đang đặt quá trình xây dựng nông thôn trước yêu cầu phát triển theo chiều sâu, trong đó kết quả đạt chuẩn cần gắn chặt hơn với khả năng duy trì, nâng cao chất lượng và tạo ra giá trị lâu dài. Đối với Thanh Hóa, yêu cầu này đòi hỏi sự chuyển dịch từ tập trung hoàn thành từng chỉ tiêu sang củng cố đồng bộ năng lực kinh tế, kết cấu hạ tầng, môi trường, chất lượng sống và vai trò chủ thể của người dân. Theo đó, “đạt chuẩn” là một dấu mốc quan trọng, còn nâng cao chất lượng mới là quá trình thường xuyên để những kết quả của chương trình thực sự trở thành nền tảng phát triển bền vững ở mỗi địa phương.

I. ĐỔI MỚI CÁCH TIẾP CẬN: TỪ ĐẠT CHUẨN ĐẾN PHÁT TRIỂN CÓ CHẤT LƯỢNG

Xây dựng nông thôn mới đã tạo ra những chuyển biến sâu rộng về kết cấu hạ tầng, tổ chức sản xuất, đời sống và diện mạo khu vực nông thôn. Tuy nhiên, cùng với những thay đổi của nền kinh tế, quá trình đô thị hóa, chuyển đổi số, yêu cầu bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống, nội hàm của nông thôn mới cũng cần tiếp tục được mở rộng theo hướng thực chất và bền vững hơn.

Tinh thần này đã được xác lập tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết định hướng phát triển theo hướng “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”, xác định nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển, đồng thời yêu cầu xây dựng nông thôn mới đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả và bền vững.

Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026–2030 ban hành theo Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg tiếp tục cụ thể hóa định hướng đó. Bộ tiêu chí gồm 10 tiêu chí với 47 chỉ tiêu, bao quát từ quy hoạch, hạ tầng kinh tế – xã hội, phát triển kinh tế nông thôn, đào tạo nguồn nhân lực đến văn hóa, giáo dục, y tế, giảm nghèo, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, môi trường, hệ thống chính trị, hành chính công, tiếp cận pháp luật, an ninh và quốc phòng. Các yêu cầu được phân theo ba nhóm xã nhằm tạo cơ sở áp dụng phù hợp hơn với đặc điểm và trình độ phát triển của từng địa bàn.

Đáng chú ý, khung thí điểm xã nông thôn mới hiện đại đặt ra những yêu cầu cao hơn về hạ tầng số, năng lượng mới hoặc năng lượng tái tạo, mô hình nông nghiệp thông minh, chất lượng nguồn nhân lực, môi trường sống và việc ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Cách thiết kế này cho thấy tiêu chí nông thôn mới đang ngày càng gắn với năng lực vận hành và chất lượng phát triển của địa phương.

Trên cơ sở khung quốc gia, UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 69/2026/QĐ-UBND ngày 20/7/2026 về Bộ tiêu chí nông thôn mới tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2026–2030. Văn bản tiếp tục đặt yêu cầu tổ chức thực hiện các tiêu chí theo hướng bảo đảm chất lượng, bền vững; đồng thời quy định nhiều nội dung gắn với thương mại điện tử, mô hình thôn thông minh, số hóa dữ liệu nông nghiệp và môi trường, xử lý chất thải, an sinh xã hội và quản trị ở cơ sở.

Trong cách tiếp cận đó, việc một xã được công nhận đạt chuẩn nên được xem như sự xác nhận một mức phát triển tại một thời điểm nhất định. Kinh tế, xã hội, công nghệ và môi trường luôn vận động; chất lượng một tiêu chí vì thế phụ thuộc vào khả năng được duy trì, cập nhật và thích ứng với những yêu cầu mới.

Điều này cũng làm thay đổi cách nhìn về đánh giá kết quả. Bên cạnh mức độ hoàn thành chỉ tiêu, cần quan tâm nhiều hơn tới khả năng vận hành sau đầu tư, hiệu quả sử dụng nguồn lực và tác động đối với người dân. Một tuyến đường có giá trị phát triển khi tạo thuận lợi cho đi lại, vận chuyển và kết nối sản xuất; một mô hình kinh tế có ý nghĩa khi tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định; một thiết chế văn hóa phát huy hiệu quả khi thực sự trở thành không gian sinh hoạt của cộng đồng.

Thực tiễn Thanh Hóa cho thấy điểm xuất phát giữa các khu vực còn khác nhau. Theo khảo sát sơ bộ của Văn phòng Điều phối Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh, bình quân toàn tỉnh hiện đạt 2,53 tiêu chí/xã; 78 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt bình quân 2,18 tiêu chí/xã, trong khi 69 xã vùng đồng bằng đạt 2,93 tiêu chí/xã. Các tiêu chí về hệ thống chính trị, hành chính công, tiếp cận pháp luật, an ninh và quốc phòng có mức độ hoàn thành tương đối cao hơn; những nội dung về quy hoạch và hạ tầng kinh tế – xã hội vẫn cần thêm nguồn lực và thời gian thực hiện.

Sự khác biệt đó cho thấy nâng cao chất lượng nông thôn mới cần gắn với điểm xuất phát và điều kiện cụ thể của từng địa bàn. Trọng tâm là xác định đúng những khâu nền tảng, tổ chức nguồn lực phù hợp và tạo sự liên kết giữa các tiêu chí để hình thành năng lực phát triển lâu dài.

II. CỦNG CỐ NĂNG LỰC KINH TẾ VÀ HẠ TẦNG LÀ NỀN TẢNG CỦA QUÁ TRÌNH NÂNG CHẤT

Nâng cao chất lượng nông thôn mới trước hết cần được phản ánh ở khả năng tạo sinh kế và nâng cao thu nhập một cách bền vững. Thu nhập là kết quả của một quá trình tổ chức kinh tế; bởi vậy, chiều sâu của tiêu chí này nằm ở năng lực sản xuất, khả năng liên kết thị trường và sức cạnh tranh của kinh tế nông thôn.

Nghị quyết số 19-NQ/TW đã đặt yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với nhu cầu thị trường, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, phát huy lợi thế của từng vùng và tăng cường ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đây là định hướng quan trọng để nhìn nhận lại nguồn lực phát triển ở khu vực nông thôn.

Theo cách tiếp cận chuỗi giá trị, giá trị của sản phẩm nông nghiệp được hình thành qua nhiều khâu: sản xuất nguyên liệu, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xây dựng thương hiệu, phân phối và tiếp cận người tiêu dùng. Vì vậy, tiềm năng của một địa phương chỉ thực sự được chuyển hóa thành giá trị kinh tế khi những khâu này từng bước được kết nối.

Đối với Thanh Hóa, dư địa nằm ở việc phát triển các vùng nguyên liệu, hợp tác xã, kinh tế tập thể, ngành nghề nông thôn và sản phẩm OCOP gắn với lợi thế của từng địa bàn. Hợp tác xã có thể đóng vai trò kết nối các hộ sản xuất, thống nhất quy trình, tổ chức đầu vào, kiểm soát chất lượng và tạo quy mô hàng hóa đủ lớn để tiếp cận thị trường. Doanh nghiệp tham gia chuỗi tạo thêm điều kiện về chế biến, công nghệ, thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm.

Theo hướng đó, nâng chất sản phẩm OCOP cũng cần tiến dần từ việc gia tăng số lượng sản phẩm được công nhận sang củng cố chất lượng, năng lực thị trường và khả năng duy trì thương hiệu. Chứng nhận tạo ra một cơ sở ban đầu; sức sống của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng ổn định, mẫu mã, khả năng thích ứng với nhu cầu người tiêu dùng và hiệu quả của hệ thống phân phối.

Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia tại Thanh Hóa năm 2026 xác định mục tiêu phát triển thêm 65 sản phẩm OCOP được cấp có thẩm quyền công nhận. Đặt mục tiêu này trong tổng thể phát triển kinh tế nông thôn cho thấy OCOP cần tiếp tục gắn với tổ chức sản xuất, sinh kế và nâng cao giá trị sản phẩm địa phương.

Cùng với kinh tế, kết cấu hạ tầng giữ vai trò tạo không gian cho các nguồn lực phát huy hiệu quả. Giao thông thuận lợi có thể giảm chi phí vận chuyển và mở rộng kết nối thị trường; thủy lợi tạo điều kiện ổn định sản xuất; hạ tầng điện, viễn thông và số mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ, tri thức và các phương thức kinh doanh mới. Vì vậy, chất lượng hạ tầng cần được nhìn cả từ mức độ hoàn thiện và hiệu quả khai thác.

Bộ tiêu chí mới cũng đặt rõ yêu cầu về bảo trì đường giao thông hằng năm, cho thấy tư duy quản lý đã chú ý hơn tới vòng đời công trình. Một tuyến đường được xây dựng mới tạo ra tài sản ban đầu; khả năng duy trì chất lượng và phát huy công năng mới quyết định hiệu quả lâu dài của nguồn vốn đầu tư.

Đối với những địa bàn miền núi, dân cư phân tán và điều kiện hạ tầng còn hạn chế, việc lựa chọn thứ tự ưu tiên cần căn cứ vào những điểm nghẽn có ảnh hưởng lớn nhất tới khả năng phát triển. Trong khi đó, các vùng có nền tảng thuận lợi hơn có thể hướng mạnh hơn tới chuyển đổi số, nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển kinh tế xanh và các mô hình sản xuất có giá trị gia tăng cao.

Nâng chất lượng nông thôn mới vì thế không đồng nghĩa với nâng đồng loạt mọi tiêu chí theo cùng một cách. Điều quan trọng là tạo ra sự tương thích giữa nguồn lực, lợi thế địa phương và nhu cầu phát triển để mỗi khoản đầu tư có khả năng kéo theo những giá trị kinh tế – xã hội rộng hơn.

III. NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SỐNG VÀ TẠO LẬP KHÔNG GIAN NÔNG THÔN BỀN VỮNG

Phát triển kinh tế tạo ra nguồn lực, nhưng ý nghĩa cuối cùng của xây dựng nông thôn mới được phản ánh trong đời sống người dân. Nông thôn hiện đại vì vậy cần được nhìn từ tổng thể các điều kiện về thu nhập, giáo dục, y tế, văn hóa, nhà ở, nước sạch, môi trường, an sinh, khả năng tiếp cận dịch vụ và mức độ an toàn của cộng đồng.

Đây cũng là điểm nhất quán với quan điểm của Nghị quyết số 19-NQ/TW khi xác định mục tiêu cao nhất của phát triển nông nghiệp, nông thôn là nâng cao toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nông dân và cư dân nông thôn. Nghị quyết hướng tới nông thôn hiện đại, phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ, văn minh, có môi trường xanh, sạch, đẹp và đời sống văn hóa giàu bản sắc.

Từ cách tiếp cận này, phát triển nông thôn hiện đại không đồng nghĩa với đô thị hóa về hình thức. Điều cần thu hẹp là khoảng cách về cơ hội phát triển và điều kiện thụ hưởng dịch vụ, trong khi những lợi thế về không gian sinh thái, văn hóa, cộng đồng và bản sắc của nông thôn cần tiếp tục được gìn giữ và phát huy.

Môi trường là một thành tố trực tiếp của chất lượng phát triển. Bộ tiêu chí của Thanh Hóa giai đoạn 2026–2030 quy định cụ thể tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được phân loại, thu gom, xử lý; đồng thời đặt yêu cầu đối với việc thu gom, xử lý, tái chế chất thải chăn nuôi, chất thải hữu cơ và phụ phẩm nông nghiệp. Những nội dung này tạo cơ sở để việc bảo vệ môi trường được kết nối sâu hơn với tổ chức sản xuất và sử dụng tài nguyên.

Trong nông nghiệp, kinh tế tuần hoàn có thể hình thành từ những mô hình tương đối gần với thực tiễn như tận dụng phụ phẩm trồng trọt làm nguyên liệu hoặc phân hữu cơ, xử lý chất thải chăn nuôi phục vụ sản xuất năng lượng và phân bón, tái sử dụng nguồn nước phù hợp hoặc tổ chức sản xuất theo hướng tiết kiệm vật tư. Giá trị của cách làm này nằm ở việc giảm lượng chất thải cần xử lý, đồng thời khai thác thêm giá trị từ nguồn nguyên liệu sẵn có.

Tuy nhiên, xây dựng môi trường nông thôn bền vững không thể phụ thuộc hoàn toàn vào công trình xử lý. Hiệu quả còn gắn với thói quen của cộng đồng, cơ chế thu gom, khả năng vận hành, chi phí duy trì và sự tham gia của hộ gia đình. Đây là lý do các tiêu chí về môi trường cần được gắn với tổ chức cộng đồng và nâng cao nhận thức thay vì chỉ xem xét ở góc độ đầu tư thiết bị.

Chuyển đổi số cũng đang trở thành một thành tố mới của chất lượng sống. Bộ tiêu chí Thanh Hóa đưa vào các nội dung về điểm bưu chính phục vụ công cộng và chính quyền số, số hóa dữ liệu nông nghiệp – môi trường, thương mại điện tử và mô hình thôn thông minh đối với những nhóm xã phù hợp.

Ý nghĩa của chuyển đổi số ở nông thôn không nằm đơn thuần ở số lượng nền tảng được triển khai. Khi người dân có thể thực hiện thủ tục thuận tiện hơn, tiếp cận thông tin sản xuất, kết nối thị trường hoặc sử dụng những dịch vụ thiết yếu trên môi trường số, công nghệ mới thực sự góp phần nâng cao điều kiện sống.

Như vậy, chất lượng nông thôn mới được tạo nên từ sự kết hợp giữa khả năng phát triển kinh tế với chất lượng của không gian sống. Một địa phương có nền kinh tế năng động nhưng môi trường suy giảm, dịch vụ thiết yếu hạn chế hoặc cộng đồng thiếu khả năng tham gia sẽ khó duy trì kết quả phát triển trong dài hạn. Ngược lại, khi kinh tế, môi trường, văn hóa và dịch vụ được tổ chức tương hỗ, nông thôn có thêm khả năng tự thích ứng trước những thay đổi của thị trường và xã hội.

IV. PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ CỦA NGƯỜI DÂN, DUY TRÌ GIÁ TRỊ SAU ĐẠT CHUẨN

Nâng chất lượng nông thôn mới sau cùng phụ thuộc rất lớn vào khả năng duy trì những thành quả đã hình thành. Công trình có thể được đầu tư từ ngân sách và nhiều nguồn lực xã hội, nhưng việc giữ gìn cảnh quan, vận hành thiết chế, tổ chức sản xuất và xây dựng đời sống cộng đồng diễn ra hằng ngày ở chính người dân và cơ sở.

Quan điểm người dân là chủ thể của xây dựng nông thôn mới đã được xác định xuyên suốt trong chủ trương phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Vai trò chủ thể được thể hiện qua việc người dân tham gia vào quá trình lựa chọn nhu cầu, tổ chức sản xuất, thực hiện các mô hình cộng đồng, giám sát và trực tiếp thụ hưởng thành quả phát triển.

Khi lợi ích của một tiêu chí được người dân cảm nhận rõ trong đời sống, khả năng duy trì thường bền vững hơn. Một tuyến đường được cộng đồng cùng bảo vệ, một mô hình phân loại rác được các hộ duy trì, một hợp tác xã tạo ra đầu ra ổn định hay một nhà văn hóa có hoạt động thường xuyên sẽ tạo giá trị khác biệt so với việc hoàn thiện điều kiện vật chất nhưng thiếu cơ chế vận hành lâu dài.

Thực tiễn xã Hồ Vương cho thấy yêu cầu hoàn thiện tiêu chí mới đang được đặt song hành với việc duy trì những kết quả đã có. Theo rà soát, xã đã đạt 27/47 chỉ tiêu của Bộ tiêu chí nông thôn mới tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2026–2030. Trong quá trình tiếp tục thực hiện 20 chỉ tiêu còn lại, địa phương đồng thời yêu cầu các bộ phận chuyên môn, tổ chức chính trị – xã hội và các thôn duy trì, nâng cao chất lượng những chỉ tiêu đã đạt.

Cách triển khai này phản ánh một nguyên tắc có ý nghĩa rộng hơn: quá trình hoàn thiện tiêu chí và quá trình giữ vững kết quả cần diễn ra đồng thời. Nếu nguồn lực chỉ tập trung cho những phần việc chưa hoàn thành, các thành quả đã có có thể thiếu điều kiện duy trì. Ngược lại, khi mỗi tiêu chí được đặt trong một chu kỳ theo dõi, vận hành và nâng cấp, kết quả xây dựng nông thôn mới có khả năng tích lũy qua thời gian.

Sự khác biệt về điểm xuất phát giữa các vùng cũng đặt ra yêu cầu tổ chức và lồng ghép nguồn lực phù hợp. Với khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những địa bàn còn nhiều khó khăn, ưu tiên giải quyết các điều kiện nền tảng sẽ tạo thêm khả năng tiếp cận cơ hội phát triển. Đối với những xã có nền tảng thuận lợi hơn, nguồn lực có thể tập trung nhiều hơn vào chất lượng dịch vụ, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, môi trường và các mô hình kinh tế có giá trị cao.

Cách phân bổ theo điều kiện thực tế góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và thu hẹp khoảng cách phát triển. Công bằng trong chính sách phát triển vì vậy gắn với việc tạo điều kiện để mỗi địa bàn có khả năng tiến lên từ điểm xuất phát của mình.

Năm 2026, Thanh Hóa đặt mục tiêu có 9 xã đạt chuẩn nông thôn mới và 5 thôn, bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt chuẩn. Theo kế hoạch giai đoạn 2026–2030, tỉnh dự kiến có 118 xã đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2030.

Đến thời điểm rà soát gần đây, xã Yên Định đạt 35/47 chỉ tiêu; tám xã còn lại trong kế hoạch năm 2026 tiếp tục hoàn thiện các chỉ tiêu và củng cố những kết quả đã đạt. Các số liệu cho thấy tiến độ vẫn là một yêu cầu quan trọng của giai đoạn đầu thực hiện bộ tiêu chí mới. Song tiến độ và chất lượng cần được đặt trong cùng một quá trình: hoàn thành tiêu chí tạo ra các mốc phát triển, còn khả năng duy trì và nâng cao mới làm nên giá trị lâu dài.

V. TỪ KẾT QUẢ ĐƯỢC CÔNG NHẬN ĐẾN NĂNG LỰC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Chuyển từ tư duy đạt chuẩn sang nâng cao chất lượng phát triển không làm giảm ý nghĩa của các tiêu chí hay mục tiêu công nhận nông thôn mới. Ngược lại, cách tiếp cận này giúp các tiêu chí phát huy đầy đủ hơn vai trò như một hệ thống định hướng cho phát triển kinh tế – xã hội ở cơ sở.

Trong giai đoạn mới, bộ tiêu chí cần được vận dụng như một công cụ giúp địa phương nhận diện những nền tảng còn thiếu, lựa chọn thứ tự ưu tiên, tổ chức nguồn lực và theo dõi chất lượng phát triển theo thời gian. Một chỉ tiêu hoàn thành có ý nghĩa khi tạo ra năng lực mới hoặc củng cố năng lực hiện có của cộng đồng.

Theo logic đó, kinh tế tạo nền tảng nâng cao thu nhập; hạ tầng mở rộng khả năng kết nối và tiếp cận cơ hội; khoa học – công nghệ giúp hình thành những phương thức sản xuất và quản trị mới; môi trường bảo đảm điều kiện phát triển lâu dài; hệ thống dịch vụ nâng cao chất lượng sống; còn người dân giữ vai trò chủ thể trong duy trì và phát triển những thành quả đã hình thành.

Đối với Thanh Hóa, sự khác biệt lớn về điều kiện tự nhiên, không gian phát triển và điểm xuất phát giữa đồng bằng, trung du và miền núi càng cho thấy ý nghĩa của cách tiếp cận linh hoạt. Cùng một bộ tiêu chí nhưng con đường đạt tới mục tiêu có thể khác nhau; mỗi địa bàn cần phát huy lợi thế riêng, tập trung xử lý những điểm nghẽn quan trọng và lựa chọn mô hình phù hợp với khả năng hấp thụ nguồn lực.

“Đạt chuẩn” vì thế vẫn là một dấu mốc cần thiết, nhưng chất lượng của nông thôn mới được quyết định trong quá trình sau dấu mốc đó. Khi các công trình tiếp tục được vận hành hiệu quả, sinh kế ngày càng bền vững, môi trường được gìn giữ, dịch vụ được cải thiện và người dân có khả năng chủ động hơn trong phát triển cộng đồng, các tiêu chí mới thực sự chuyển hóa thành năng lực phát triển.

Đó cũng là nội hàm của yêu cầu xây dựng nông thôn mới đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả và bền vững. Thành quả của chương trình vì vậy được thể hiện qua số xã đạt chuẩn, đồng thời được khẳng định rõ hơn qua chất lượng cuộc sống, sức sống của kinh tế nông thôn và khả năng tự phát triển của mỗi cộng đồng trong một quá trình nâng chất liên tục.

ThS. Tạ Thanh Bình