18/08/2026 lúc 17:06 (GMT+7)
Breaking News

Quốc gia biển mạnh: Từ lợi thế địa kinh tế đến năng lực cạnh tranh và vị thế quốc tế

Với đường bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng biển rộng gấp khoảng 3 lần diện tích đất liền, hàng nghìn đảo và vị trí nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng, Việt Nam có những điều kiện đặc biệt để vươn lên trở thành quốc gia biển mạnh. Tuy nhiên, lợi thế tự nhiên chỉ thực sự chuyển hóa thành sức mạnh quốc gia khi được nâng đỡ bởi thể chế hiện đại, công nghệ biển tiên tiến, công nghiệp hàng hải đủ năng lực, nguồn nhân lực chất lượng cao và một tư duy hội nhập chủ động. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 đang mở ra một bước chuyển chiến lược: từ phát triển kinh tế biển sang xây dựng quốc gia biển mạnh, qua đó mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế Việt Nam trong cấu trúc khu vực và quốc tế.

VN đang thúc đẩy các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh. Ảnh: VG

Biển từ lâu đã là một phần không thể tách rời trong lịch sử phát triển của Việt Nam. Nhưng trong bối cảnh mới, khi cạnh tranh địa kinh tế, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và sự dịch chuyển của các chuỗi cung ứng toàn cầu đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế thế giới, biển không còn chỉ được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên cần khai thác. Biển đang trở thành một không gian chiến lược để tổ chức lại mô hình phát triển, gia tăng năng lực cạnh tranh và mở rộng vị thế quốc gia.

Đây chính là ý nghĩa nổi bật của Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Theo định hướng mới, mục tiêu không dừng ở việc phát triển các ngành kinh tế biển riêng lẻ mà hướng tới hình thành sức mạnh tổng hợp trên biển, bao gồm quản trị biển hiện đại, kinh tế biển phát triển, khoa học - công nghệ biển tiên tiến, môi trường bền vững, cộng đồng ven biển giàu mạnh, quốc phòng - an ninh vững chắc và hội nhập quốc tế thực chất, hiệu quả.

Từ “kinh tế biển” đến “quốc gia biển mạnh”: Một bước chuyển về tư duy phát triển

Sau 8 năm triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhận thức về vị trí, vai trò của biển đã được nâng lên; thể chế, chính sách và quản trị biển từng bước được hoàn thiện; kinh tế biển tiếp tục khẳng định vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế; đời sống người dân ven biển, hải đảo được cải thiện; quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển được củng cố.

Tuy nhiên, những kết quả đó cũng đặt ra yêu cầu về một bước phát triển cao hơn. Nếu chỉ tiếp tục tiếp cận biển theo từng ngành như cảng biển, khai thác dầu khí, thủy sản, du lịch hay vận tải biển, Việt Nam khó có thể tận dụng đầy đủ lợi thế của một quốc gia nằm ở trung tâm các tuyến giao thương quan trọng của khu vực.

Điểm mới căn bản của Nghị quyết 20 là chuyển từ tư duy “phát triển kinh tế biển” sang “xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh”; từ khai thác tài nguyên sang quản trị, khai thác hiệu quả không gian biển; từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất; từ dựa nhiều vào lợi thế tài nguyên sang dựa ngày càng sâu vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về cách gọi. Đó là sự thay đổi về mô hình phát triển.

Một quốc gia biển mạnh không nhất thiết chỉ được đo bằng số lượng cảng biển, đội tàu hay sản lượng khai thác thủy sản. Sức mạnh thực sự nằm ở khả năng làm chủ không gian biển, làm chủ công nghệ, tổ chức các chuỗi giá trị biển, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh - an toàn hàng hải, duy trì năng lực thực thi pháp luật và tham gia chủ động vào các cơ chế hợp tác quốc tế về biển.

Nói cách khác, Việt Nam cần chuyển từ vị thế “có biển” sang “mạnh về biển”, từ khai thác lợi thế sẵn có sang kiến tạo những lợi thế cạnh tranh mới.

Biển - không gian phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam

Việt Nam có những điều kiện địa kinh tế đặc biệt. Vùng biển rộng gấp khoảng 3 lần diện tích đất liền, đường bờ biển dài hơn 3.260 km và hàng nghìn đảo tạo nên một không gian phát triển rộng lớn. Vị trí địa lý hướng ra Biển Đông cũng đặt Việt Nam trên một trong những không gian hàng hải quan trọng của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Đáng chú ý, sau quá trình tổ chức lại đơn vị hành chính, không gian phát triển biển của nhiều địa phương được mở rộng. Theo phân tích của PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, 21/34 tỉnh, thành phố có biển; mục tiêu đến năm 2030 là các địa phương có biển đóng góp khoảng 70% GDP cả nước, cùng với các chỉ tiêu cao về tăng trưởng, khoa học - công nghệ và phát triển xã hội.

Điều đó cho thấy biển đang được đặt vào trung tâm của quá trình tổ chức lại không gian kinh tế quốc gia. Nếu được quy hoạch và kết nối tốt, hệ thống cảng biển nước sâu có thể trở thành các cửa ngõ logistics quốc tế; các đô thị ven biển có thể trở thành trung tâm dịch vụ, tài chính, du lịch và đổi mới sáng tạo; năng lượng gió ngoài khơi có thể bổ sung nguồn năng lượng quy mô lớn cho nền kinh tế xanh; nuôi biển công nghệ cao có thể tạo ra ngành sản xuất thủy sản có giá trị gia tăng lớn; trong khi công nghiệp hàng hải, dịch vụ biển, nghiên cứu đại dương và kinh tế tuần hoàn biển có thể hình thành những ngành kinh tế mới.

Nghị quyết 20 đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành 5-6 trung tâm kinh tế biển mạnh, 3 khu kinh tế đặc biệt; phát triển điện gió ngoài khơi với công suất 6-10 GW; giảm chi phí logistics xuống dưới 12% GDP; tăng trưởng tổng thu du lịch biển, đảo bình quân 14%/năm và hoàn thành 100% tuyến đường bộ ven biển theo quy hoạch. Đây là những mục tiêu không chỉ có ý nghĩa đối với kinh tế biển mà còn tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bởi vậy, phát triển biển cần được nhìn trong mối liên hệ với toàn bộ nền kinh tế. Một cảng biển hiện đại không thể phát huy hết giá trị nếu thiếu đường sắt, đường bộ, trung tâm logistics và mạng lưới sản xuất phía sau cảng. Một ngành đóng tàu không thể phát triển bền vững nếu thiếu công nghiệp hỗ trợ, thiết bị hàng hải, thiết kế, vật liệu và nhân lực kỹ thuật. Điện gió ngoài khơi không thể trở thành ngành công nghiệp lớn nếu thiếu chuỗi cung ứng, dịch vụ kỹ thuật, cảng hậu cần và cơ chế đầu tư ổn định.

Do đó, bài toán đặt ra không phải là “khai thác biển được bao nhiêu”, mà là “tạo ra bao nhiêu giá trị từ một đơn vị không gian biển” và “bao nhiêu giá trị trong chuỗi đó được tạo ra bởi năng lực Việt Nam”.

Công nghiệp hàng hải phải trở thành nền tảng của sức mạnh biển

Một trong những điểm đáng chú ý từ các ý kiến chuyên gia gần đây là yêu cầu đặt công nghiệp hàng hải vào đúng vị trí trong chiến lược quốc gia biển mạnh.

Thực tế quốc tế cho thấy, các quốc gia có năng lực biển mạnh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan hay Na Uy đều không chỉ sở hữu vị trí địa lý thuận lợi. Họ đã xây dựng được hệ sinh thái công nghiệp hàng hải tương đối hoàn chỉnh, từ thiết kế, đóng tàu, sản xuất thiết bị, công nghiệp hỗ trợ, logistics, nghiên cứu khoa học đến đào tạo nhân lực và đổi mới sáng tạo.

Đây cũng là một trong những điểm nghẽn mà Việt Nam cần tháo gỡ. Một quốc gia muốn làm chủ biển xa, biển sâu không thể chỉ dựa vào năng lực khai thác tài nguyên hoặc thuê ngoài công nghệ. Năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và bảo trì các công trình biển phải từng bước được nội địa hóa. Từ cảng nước sâu, tàu chuyên dụng, giàn khai thác, thiết bị điện gió ngoài khơi đến hệ thống quan trắc, phương tiện nghiên cứu và cứu hộ, cứu nạn, tất cả đều cần một nền công nghiệp hàng hải đủ mạnh.

Đây là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với tự chủ chiến lược. Nếu Việt Nam chỉ tham gia ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp, phần lớn lợi ích kinh tế sẽ tiếp tục chảy ra ngoài thông qua nhập khẩu thiết bị, công nghệ, dịch vụ và vốn. Ngược lại, khi hình thành được hệ sinh thái doanh nghiệp biển có năng lực nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và cung ứng dịch vụ, biển sẽ trở thành một động lực thúc đẩy cả công nghiệp chế tạo, vật liệu mới, cơ khí chính xác, điện tử, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số.

Vì vậy, xây dựng quốc gia biển mạnh cũng chính là một phương thức thúc đẩy công nghiệp hóa ở trình độ cao hơn.

“Đôi chân” thể chế và công nghệ quyết định tốc độ vươn ra biển lớn

Lợi thế tự nhiên không tự chuyển thành lợi thế cạnh tranh. Muốn biến tiềm năng thành giá trị, Việt Nam cần đồng thời đổi mới thể chế và nâng cao năng lực công nghệ.

Không gian biển có tính đặc thù: nhiều ngành cùng sử dụng, nhiều lợi ích có thể chồng lấn và nhiều hoạt động kinh tế có tác động qua lại. Điện gió ngoài khơi có thể liên quan đến hàng hải; nuôi biển có thể tác động đến hệ sinh thái; du lịch có thể xung đột với bảo tồn; khai thác tài nguyên có thể ảnh hưởng đến môi trường. Nếu quản lý theo từng ngành riêng biệt, nguy cơ chồng chéo và xung đột không gian là khó tránh khỏi.

Vì vậy, quy hoạch không gian biển phải trở thành công cụ nền tảng của quản trị biển hiện đại. Nghị quyết 20 đặt yêu cầu phân bổ, điều phối không gian biển trên cơ sở khoa học, công nghệ và dữ liệu số; đồng thời hướng tới giảm thiểu xung đột giữa các hoạt động kinh tế.

Cùng với đó là yêu cầu hoàn thiện pháp luật. Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi đang được xây dựng theo hướng tháo gỡ các điểm nghẽn về quản lý không gian biển, quyền sử dụng khu vực biển, bảo vệ môi trường và cơ chế ưu đãi cho các ngành kinh tế biển xanh. Một trong những đề xuất đáng chú ý là mở rộng quyền của tổ chức, cá nhân được giao hoặc thuê khu vực biển, tạo cơ sở pháp lý để tăng khả năng huy động nguồn lực đầu tư dài hạn.

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng bởi các dự án biển thường cần vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài và chịu nhiều rủi ro về công nghệ, môi trường và thị trường. Nếu quyền tài sản, quy hoạch, thủ tục đầu tư và cơ chế sử dụng không gian biển thiếu ổn định, doanh nghiệp sẽ khó mạnh dạn đầu tư.

Thể chế vì thế phải đi trước một bước để tạo niềm tin thị trường. Trong khi đó, công nghệ phải tạo ra năng lực đi xa hơn. Công nghệ viễn thám, dữ liệu lớn, AI, cảm biến, robot dưới nước, hệ thống quan trắc và bản đồ số có thể giúp Việt Nam nâng cao năng lực hiểu biết, giám sát và quản trị đại dương. Đây cũng là nền tảng để phát triển kinh tế biển theo hướng chính xác hơn, an toàn hơn và ít gây tổn hại đến hệ sinh thái.

Hội nhập quốc tế: Không chỉ mở cửa mà phải nâng vị thế Việt Nam trên biển

Đối với Mục Hội nhập quốc tế, điểm quan trọng nhất của chiến lược quốc gia biển mạnh nằm ở việc Việt Nam có thể chuyển lợi thế địa lý thành vị thế địa kinh tế và địa chính trị như thế nào.

Biển là không gian hội nhập tự nhiên của Việt Nam. Hầu hết các dòng thương mại quốc tế của đất nước đều có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với hệ thống cảng biển, vận tải biển và logistics. Vì vậy, nâng cao năng lực biển đồng nghĩa với nâng cao khả năng kết nối của Việt Nam với các trung tâm kinh tế lớn của khu vực và thế giới.

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc, đây là cơ hội đặc biệt. Việt Nam có thể không chỉ là điểm đến của các nhà máy sản xuất mà còn trở thành mắt xích logistics, trung chuyển hàng hóa, dịch vụ hàng hải và công nghiệp hỗ trợ của khu vực. Các cảng nước sâu, nếu được kết nối hiệu quả với hành lang kinh tế và mạng lưới sản xuất, có thể giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế.

Hội nhập biển cũng mở rộng sang những lĩnh vực mới như kinh tế xanh, năng lượng tái tạo ngoài khơi, nghiên cứu đại dương, bảo tồn đa dạng sinh học, chống rác thải nhựa đại dương, ứng phó biến đổi khí hậu và quản trị nguồn lợi biển.

Đây là những lĩnh vực đòi hỏi hợp tác quốc tế cao và cũng là nơi Việt Nam có thể nâng cao tiếng nói của mình thông qua các sáng kiến, chuẩn mực và cơ chế hợp tác khu vực. Đặc biệt, hợp tác quốc tế về biển cần được tiếp cận theo hướng vừa bảo đảm lợi ích quốc gia, vừa đóng góp vào hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và phát triển bền vững ở Biển Đông. Chương trình phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 cũng xác định yêu cầu kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế nhằm duy trì hòa bình, ổn định và phát triển trên các vùng biển.

Như vậy, xây dựng quốc gia biển mạnh không tách rời hội nhập quốc tế mà ngược lại, hội nhập chính là một trong những phương thức để gia tăng sức mạnh biển.

Phát triển xanh để bảo đảm sức mạnh biển lâu dài

Một quốc gia biển mạnh không thể được xây dựng trên nền tảng khai thác cạn kiệt tài nguyên. Đại dương là hệ sinh thái sống và mọi hoạt động kinh tế đều phải nằm trong giới hạn chịu tải của tự nhiên.

Đây là lý do kinh tế biển xanh cần trở thành một trụ cột trong mô hình phát triển mới. Điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, du lịch sinh thái, kinh tế tuần hoàn, công nghệ xử lý chất thải, vật liệu thân thiện môi trường và các dịch vụ dựa trên tri thức đại dương có thể tạo ra giá trị kinh tế cao mà không nhất thiết phải gia tăng áp lực khai thác tài nguyên.

Tư duy này cũng phù hợp với xu hướng quốc tế. Các tiêu chuẩn về phát thải, kinh tế tuần hoàn, bảo vệ đa dạng sinh học và chuỗi cung ứng xanh ngày càng tác động trực tiếp đến thương mại toàn cầu. Nếu Việt Nam chủ động chuyển đổi, các tiêu chuẩn môi trường sẽ không chỉ là nghĩa vụ mà có thể trở thành lợi thế cạnh tranh.

Ngược lại, nếu chậm chuyển đổi, các ngành kinh tế biển có nguy cơ đối mặt với hàng rào kỹ thuật, chi phí môi trường gia tăng và mất cơ hội tiếp cận các dòng vốn xanh quốc tế. Vì vậy, bảo vệ môi trường biển phải được nhìn nhận không chỉ là trách nhiệm sinh thái mà còn là một bộ phận của năng lực cạnh tranh quốc gia.

Từ khát vọng đến năng lực thực thi

Nghị quyết 20 đã đặt ra một tầm nhìn lớn. Nhưng để biến tầm nhìn thành hiện thực, yếu tố quyết định sẽ là năng lực tổ chức thực hiện.

Chương trình hành động của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ đang từng bước cụ thể hóa Nghị quyết 20 thành các nhiệm vụ về thể chế, quy hoạch, hạ tầng, khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực, kinh tế biển, môi trường, quốc phòng - an ninh và hợp tác quốc tế. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026 về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW.

Điều cần thiết tiếp theo là bảo đảm tính liên kết trong thực thi. Một dự án cảng biển không thể chỉ được đánh giá ở cấp địa phương; một vùng nuôi biển không thể tách khỏi quy hoạch hàng hải; một trung tâm logistics phải gắn với hệ thống giao thông quốc gia; điện gió ngoài khơi phải gắn với quy hoạch điện, cảng hậu cần và công nghiệp thiết bị; phát triển du lịch biển phải gắn với bảo tồn hệ sinh thái. Nói cách khác, tư duy “quản lý biển theo ngành” cần được thay bằng tư duy “quản trị một không gian phát triển thống nhất”.

Đồng thời, cần hình thành những doanh nghiệp biển có quy mô đủ lớn để dẫn dắt chuỗi giá trị. Nhà nước kiến tạo thể chế, quy hoạch và hạ tầng; doanh nghiệp đầu tư, đổi mới và cạnh tranh; viện nghiên cứu, trường đại học cung cấp công nghệ và nhân lực. Ba lực lượng này phải được kết nối trong một hệ sinh thái phát triển biển thống nhất.

Đây cũng là điều kiện để thu hút nguồn vốn và công nghệ quốc tế theo hướng chọn lọc. Hội nhập không nên chỉ được đo bằng lượng vốn đầu tư nước ngoài vào các dự án biển, mà cần được đo bằng mức độ chuyển giao công nghệ, hình thành chuỗi cung ứng trong nước, đào tạo nhân lực và nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam.

Xây dựng quốc gia biển mạnh vì thế không phải là câu chuyện của riêng kinh tế biển. Đó là một dự án phát triển quốc gia, trong đó biển trở thành nơi hội tụ của kinh tế, công nghệ, công nghiệp, môi trường, quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế.

Từ góc nhìn đó, Nghị quyết 20-NQ/TW mở ra một bước chuyển có ý nghĩa chiến lược: Việt Nam không chỉ hướng tới khai thác tốt hơn những gì biển đang có, mà hướng tới xây dựng năng lực để làm chủ, quản trị và tạo ra những giá trị mới từ biển.

Nếu thể chế được mở đường, công nghệ trở thành động lực, công nghiệp hàng hải trở thành nền tảng, kinh tế xanh trở thành phương thức phát triển và hội nhập quốc tế trở thành không gian mở rộng vị thế, biển hoàn toàn có thể trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của Việt Nam trong những thập niên tới.

Khi đó, khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh sẽ không chỉ được đo bằng những con số về GDP hay sản lượng hàng hóa qua cảng. Quan trọng hơn, đó là năng lực của Việt Nam trong việc làm chủ không gian biển, tham gia sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu, đóng góp có trách nhiệm vào quản trị đại dương và nâng cao vị thế quốc gia trong một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đang ngày càng có vai trò quyết định đối với kinh tế và an ninh thế giới.

Đó chính là con đường để từ một quốc gia có lợi thế biển trở thành một quốc gia mạnh về biển, chủ động hơn trong phát triển, tự chủ hơn về công nghệ, xanh hơn trong tăng trưởng và có vị thế cao hơn trong hội nhập quốc tế.

ThS Phạm Linh Chi

Tài liệu tham khảo

  1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018), Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết xác định mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn và chủ động, có trách nhiệm tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế, khu vực về biển và đại dương.
  2. Chính phủ (2020), Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 05/3/2020, ban hành Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW. Văn bản cụ thể hóa các nhiệm vụ, lộ trình và trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong triển khai Chiến lược biển.
  3. Quốc hội (2024), Nghị quyết về Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, định hướng phân bổ, sử dụng không gian biển, phát triển các ngành kinh tế biển và các ngành kinh tế biển mới, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế và giải quyết xung đột trong sử dụng không gian biển.
  4. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2024), “Tập trung thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, phản ánh những kết quả, hạn chế và yêu cầu mới trong quá trình triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW; trong đó nhấn mạnh những vấn đề về liên kết vùng, khoa học - công nghệ, điều tra cơ bản và phát triển nguồn nhân lực biển.
  5. Cổng Thông tin điện tử biển, hải đảo Việt Nam (2026), “Biển, Hải đảo Việt Nam - Tiềm năng - Cơ hội - Thách thức - Tầm nhìn”, cung cấp thông tin nền về tiềm năng biển, định hướng phát triển bền vững kinh tế biển và mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
  6. Báo Điện tử Chính phủ (2026), “Hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh”, tài liệu nguồn được sử dụng để xây dựng và phát triển các luận điểm của bài viết.
  7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 36-NQ/TW, các nội dung về phát triển du lịch và dịch vụ biển, kinh tế hàng hải, công nghiệp ven biển, năng lượng tái tạo, bảo tồn hệ sinh thái biển, khoa học - công nghệ và hợp tác quốc tế về biển.