Tóm tắt: Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một mốc son chói lọi, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Bài viết sau đây tập trung phân tích tầm vóc vĩ đại của cuộc cách mạng thông qua việc đập tan ách thống trị của thực dân, phát xít, xóa bỏ chế độ phong kiến lỗi thời và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên cơ sở đó, luận giải sâu sắc bài học cốt lõi về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc – nhân tố quyết định làm nên thắng lợi lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh. Trước những biến động phức tạp của bối cảnh toàn cầu hóa, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng các thách thức nội tại hiện nay, bài viết đề xuất 05 nhóm giải pháp căn cơ nhằm vận dụng sáng tạo bài học đại đoàn kết. Những giải pháp này góp phần củng cố lòng tin chiến lược của nhân dân, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hôm nay.
Từ khóa: Cách mạng tháng Tám; Đại đoàn kết dân tộc; Mặt trận Việt Minh; Xây dựng đất nước; Sức mạnh lòng dân
Abstract: The August Revolution of 1945 was a glorious milestone in Vietnam’s modern history, opening a new era of national independence and freedom. This article examines the historic significance and great stature of the Revolution by analyzing its role in overthrowing the colonial and fascist regimes, abolishing the outdated feudal system, and establishing the Democratic Republic of Vietnam. On this basis, the article provides an in-depth analysis of the fundamental lesson of promoting the strength of the great national unity bloc - a decisive factor behind the historic victory under the leadership of the Communist Party of Vietnam and the Viet Minh Front. In the context of globalization, the Fourth Industrial Revolution, and the complex internal challenges facing Vietnam today, the article proposes five fundamental groups of solutions to creatively apply the lesson of great national unity. These solutions aim to strengthen the people’s strategic trust and inspire the aspiration for national development, prosperity, and happiness in the ongoing process of industrialization, modernization, and international integration.
Keywords: August Revolution; Great National Unity; Viet Minh Front; National Development; People’s Trust.

Mở đầu
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một trong những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Chỉ trong vòng hai tuần cuối tháng 8 năm 1945, toàn thể nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh đã đồng loạt đứng lên tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Cuộc cách mạng đã đập tan ách thống trị kéo dài gần một thế kỷ của thực dân Pháp, lật đổ chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm, đồng thời giành lại độc lập từ tay phát xít Nhật. Sự kiện vĩ đại này không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội – mà còn là nguồn cảm hứng cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.
Trải qua hơn 80 năm nhìn lại, tầm vóc vĩ đại của Cách mạng tháng Tám vẫn vẹn nguyên giá vị lịch sử và thời đại. Thành công ấy không phải là một sự ngẫu nhiên của lịch sử, mà là kết quả tất yếu của đường lối lãnh đạo đúng đắn, khoa học của Đảng, kết hợp với sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong bối cảnh thế giới và khu vực hiện nay đang có những biến động phức tạp, khó lường, cùng với những yêu cầu cấp bách của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, bài học về sức mạnh đại đoàn kết dân tộc từ Cách mạng tháng Tám vẫn là ngọn đuốc soi đường, là tài sản tinh thần vô giá để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Bối cảnh lịch sử và sự chín muồi của thời cơ cách mạng
1. Tình hình quốc tế và những chuyển biến mau lẹ:
Vào đầu những năm 40 của thế kỷ XX, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Sự phát triển của tình hình chiến sự thế giới đã tạo ra những tác động trực tiếp và sâu sắc đến cục diện chính trị tại Đông Dương. Đầu năm 1945, trên chiến trường châu Âu, phát xít Đức lâm vào thế suy kiệt và đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn trước đòn tấn công vũ bão của Hồng quân Liên xô và phe Đồng minh. Tại mặt trận châu Á - Thái Bình Dương, phát xít Nhật cũng rơi vào tình thế khốn quẫn, liên tục thất bại và bị cô lập.
Tại Đông Dương, mâu thuẫn giữa thực dân Pháp và phát xít Nhật ngày càng trở nên gay gắt. Đêm ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương. Sự kiện này đã được Đảng Cộng sản Đông Dương dự báo từ trước. Ngay lập tức, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp và ra Chỉ thị lịch sử: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12 tháng 3 năm 1945). Chỉ thị đã xác định rõ kẻ thù chính, cụ thể và trước mắt của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật; đồng thời thay đổi khẩu hiệu từ “đánh đuổi Nhật, Pháp” thành “đánh đuổi phát xít Nhật”.
Đến tháng 8 năm 1945, phe phát xít hoàn toàn tan rã: Đức đầu hàng không điều kiện, và sau hai quả bom nguyên tử của Mỹ xuống Hiroshima và Nagasaki cùng đòn tấn công quyết định của Hồng quân Liên Xô tại Mãn Châu, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương như rắn mất đầu, hoang mang, rệu rã đến cực điểm. Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim tê liệt. Thời cơ nghìn năm có một đã xuất hiện.
2. Sự chuẩn bị công phu, lâu dài của cách mạng Việt Nam:
Thời cơ khách quan thuận lợi chỉ có thể biến thành hiện thực thắng lợi khi lực lượng chủ quan đã sẵn sàng. Cách mạng tháng Tám không thể thành công nếu không có sự chuẩn bị suốt 15 năm kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930. Đó là quá trình rèn luyện, thử nghiệm qua 3 cao trào cách mạng lớn:
+ Cao trào cách mạng 1930 - 1931 với đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh: Đây là cuộc tổng diễn tập đầu tiên, khẳng định quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân và bước đầu xây dựng khối liên minh công nông.
+ Cao trào dân chủ 1936 - 1939: Cuộc diễn tập thứ hai, giúp Đảng tập hợp được lực lượng quần chúng đông đảo ở cả thành thị và nông thôn thông qua các hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp.
+ Cao trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945: Cuộc diễn tập trực tiếp, toàn diện về cả lực lượng chính trị lẫn lực lượng vũ trang dưới ngọn cờ của Mặt trận Việt Minh. Đặc biệt, Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5 năm 1941) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Pác Bó (Cao Bằng) đã hoàn thiện đường lối chuyển hướng chiến lược cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết và trước hết. Sự ra đời của Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Mặt trận Việt Minh) chính là bước ngoặt quyết định trong việc cụ thể hóa chiến lược đại đoàn kết dân tộc, quy tụ mọi lực lượng yêu nước không phân biệt giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, xu hướng chính trị vào một tổ chức thống nhất nhằm mục tiêu chung: Đánh đuổi Nhật, Pháp, giành lại độc lập cho Tổ quốc.
Tầm vóc vĩ đại của Cách mạng tháng Tám năm 1945
1 .Đập tan xiềng xích thực dân, phát xít và phong kiến:
Tầm vóc của Cách mạng tháng Tám trước hết thể hiện ở quy mô và sức mạnh phá đổ của nó. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, với sức mạnh như triều dâng thác đổ của khối quần chúng được tổ chức chặt chẽ, cách mạng đã phá tan hai tầng xiềng xích nô dịch của thực dân Pháp (kéo dài hơn 80 năm) và phát xít Nhật. Đồng thời, cuộc cách mạng cũng chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến ngự trị suốt hàng ngàn năm lịch sử Việt Nam, thông qua sự kiện vua Bảo Đại thoái vị ngày 30 tháng 8 năm 1945 và tuyên bố: “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ”.
Sự sụp đổ đồng thời của cả ba hệ thống áp bức, bóc lột lớn này là một kỳ tích vô tiền khoáng hậu. Nó chứng minh rằng một dân tộc dù nhỏ bé, đất không rộng, người không đông, nhưng nếu biết đoàn kết chặt chẽ và có một đường lối lãnh đạo khoa học thì hoàn toàn có thể tự giải phóng khỏi những ách áp bức tàn bạo nhất của lịch sử.
2. Khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Bước ngoặt mở ra kỷ nguyên mới:
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố với toàn thể thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).
Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong tiến trình lịch sử dân tộc: Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, bị xóa tên trên bản đồ thế giới, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền, có lãnh thổ riêng biệt. Người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ, bị áp bức bóc lột, đã vươn lên trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh và xã hội của chính mình. Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được mở ra. Đây là tiền đề gốc rễ để dân tộc Việt Nam tiếp tục tiến hành các cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và đế quốc Mỹ (1954 - 1975) giành thắng lợi hoàn toàn, thống nhất non sông.
3. Giá trị thời đại và cống hiến cho phong trào cách mạng thế giới:
Cách mạng tháng Tám không chỉ là tài sản riêng của dân tộc Việt Nam mà còn mang tầm vóc quốc tế sâu sắc. Đây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên do một Đảng Cộng sản lãnh đạo giành thắng lợi ở một nước thuộc địa. Chiến thắng này đã giáng một đòn chí tử vào hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, làm rạn nứt và mở đầu cho quá trình sụp đổ không thể đảo ngược của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn cầu.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã chứng minh tính đúng đắn của luận điểm của V.I. Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh về khả năng tự giải phóng của các dân tộc thuộc địa. Nó trở thành nguồn cổ vũ tinh thần to lớn, một bài học kinh nghiệm sinh động cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh trong cuộc đấu tranh giành độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Bài học về đại đoàn kết dân tộc – Cốt lõi của thắng lợi
1. Nhận thức luận về “Đại đoàn kết” trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng:
Sức mạnh làm nên điều kỳ diệu của Cách mạng tháng Tám chính là sức mạnh của nhân dân, được quy tụ và nhân lên gấp bội thông qua khối đại đoàn kết dân tộc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết không phải là một thủ thuật chính trị nhất thời, mà là một chiến lược lâu dài, xuyên suốt, là nhân tố quyết định thành bại của cách mạng. Người từng khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”.
Đảng Cộng sản Đông Dương đã sớm nhận thức được rằng, đối với một đất nước thuộc địa như Việt Nam, mâu thuẫn cơ bản và bao trùm nhất là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với các thế lực đế quốc, phát xít xâm lược. Do đó, muốn làm cách mạng thành công, phải huy động được sức mạnh của toàn thể quốc dân đồng bào. Khái niệm “nhân dân” trong Cách mạng tháng Tám được hiểu theo nghĩa rộng nhất: tất cả những ai có lòng nồng nàn yêu nước, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, thợ thuyền, dân cày, trí thức, tư sản, địa chủ yêu nước, không phân biệt dân tộc thiểu số hay đa số, tôn giáo hay không tôn giáo.
2. Vai trò của Mặt trận Việt Minh trong việc quy tụ và tổ chức lực lượng:
Mặt trận Việt Minh chính là linh hồn, là cấu trúc tổ chức cụ thể hóa đường lối đại đoàn kết dân tộc của Đảng. Thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1941, Việt Minh đã xây dựng một hệ thống các tổ chức quần chúng rộng khắp mang tên “Cứu quốc” như: Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Văn hóa cứu quốc...
Sự sáng tạo của Mặt trận Việt Minh nằm ở chỗ tổ chức này đã giải quyết một cách hài hòa và khoa học mối quan hệ giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc; đó là:
+ Đặt lợi ích tối cao của dân tộc lên trên hết: Tạm gác khẩu hiệu “cách mạng điền địa”, thay bằng khẩu hiệu “tịch thu ruộng đất của Việt gian chia cho dân cày nghèo”, giảm tô, giảm tức. Điều này giúp Mặt trận không những không làm mất đi lực lượng trung nông, địa chủ vừa và nhỏ có tinh thần yêu nước, mà còn lôi cuốn được họ đứng về phía cách mạng.
+ Khơi dậy tinh thần tự tôn và lòng yêu nước sâu sắc: Việt Minh len lỏi vào từng ngõ ngách đời sống, từ các nhà máy, hầm mỏ, vùng nông thôn hẻo lánh cho đến các trường học, đô thị lớn để giác ngộ quần chúng.
Khi thời cơ đến, hàng triệu con người nằm trong hệ thống tổ chức ấy đã đồng lòng ứng biến dưới một ngọn cờ chung, tạo nên một khối áp đảo, áp chế hoàn toàn ý chí phản kháng của kẻ thù.
3. Bài học về sự kết hợp giữa lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang:
Khối đại đoàn kết dân tộc trong Cách mạng tháng Tám không tồn tại trừu tượng mà được biểu hiện bằng sức mạnh vật chất cụ thể. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lực lượng chính trị quần chúng (đóng vai trò quyết định, chủ yếu) và lực lượng vũ trang cách mạng (đóng vai trò xung kích, hỗ trợ).
Lực lượng vũ trang được xây dựng từ căn cứ địa cách mạng Cao - Bắc - Lạng, Tuyên Quang, Thái Nguyên... đóng vai trò làm nòng cốt, răn đe, trấn áp các lực lượng phản động và bảo vệ các cuộc biểu tình. Tuy nhiên, đòn quyết định làm nên thắng lợi của Tổng khởi nghĩa lại là sức mạnh chính trị của hàng triệu quần chúng nhân dân xuống đường bao vây các công sở, buộc chính quyền địch phải đầu hàng. Việc kết hợp chặt chẽ hai lực lượng này đã giúp cách mạng giành thắng lợi nhanh chóng, triệt để và ít đổ máu.
Bối cảnh mới và những thách thức đối với khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay
1. Đặc điểm bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư:
Bước sang thế kỷ XXI, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang đứng trước một bối cảnh thế giới hoàn toàn mới với những đặc điểm vô cùng phức tạp: Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng mang lại những cơ hội lớn về kinh tế nhưng cũng đặt ra thách thức về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và độc lập, tự chủ về kinh tế. Sự bùng nổ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) và không gian mạng như Internet và các nền tảng mạng xã hội, trở thành phương tiện thông tin đại chúng không thể thiếu. Tuy nhiên, đây cũng là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch lợi dụng tán phát thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ chế độ nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Cùng với đó, sự cọ xát giữa các cường quốc tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Biển Đông đặt ra những thách thức lớn trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước.
2. Những nguy cơ bên trong ảnh hưởng đến lòng tin chiến lược của nhân dân:
Bên cạnh các thách thức khách quan từ bên ngoài, nước ta cũng đang phải đối mặt với những nguy cơ nội, đe dọa trực tiếp đến sự bền vững của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; cụ thể là:
+ Tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực: Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Điều này làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.
+ Sự phân hóa giàu nghèo và chênh lệch phát triển vùng miền: Giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng xuôi và vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có xu hướng giãn rộng. Nếu không có những chính sách điều tiết hiệu quả, sự chênh lệch này có thể dẫn đến những mâu thuẫn xã hội ngầm, tạo kẽ hở cho các thế lực phản động lợi dụng kích động ly khai, tự trị (như bài học ở một số địa bàn chiến lược thời gian qua).
+ Nguy cơ suy giảm tinh thần dân tộc: Trong một bộ phận giới trẻ, lối sống thực dụng, ích kỷ, thờ ơ với các vấn đề chính trị - xã hội của đất nước đang có xu hướng gia tăng.
Vận dụng bài học đại đoàn kết từ Cách mạng tháng Tám vào công cuộc xây dựng đất nước hôm nay
Từ tầm vóc vĩ đại và bài học thực tiễn của Cách mạng tháng Tám năm 1945, để tiếp tục phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, chúng ta cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp căn cơ, mang tính chiến lược sau:
1. Kiên định mục tiêu chung: Lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm điểm tương đồng: Bài học từ Mặt trận Việt Minh cho thấy, muốn đoàn kết thì phải tìm ra điểm tương đồng tối cao. Trong giai đoạn hiện nay, điểm tương đồng lớn nhất, mẫu số chung cao nhất của toàn thể người Việt Nam – dù ở trong nước hay định cư ở nước ngoài, không phân biệt giai tầng, tôn giáo – chính là: Giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Cần phải xóa bỏ mọi định kiến, mặc cảm về quá khứ, hướng tới tương lai; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc. Phải làm cho mỗi người dân Việt Nam đều thấy mình là một phần không thể tách rời của khối đại đoàn kết, đều có cơ hội đóng góp trí tuệ, công sức vào sự nghiệp chung của đất nước.
2. Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội: Đại đoàn kết không thể bền vững nếu chỉ dừng lại ở những khẩu hiệu suông. Sức mạnh của lòng dân bắt nguồn từ việc người dân thấy quyền lợi chính đáng của mình được tôn trọng và bảo vệ. Đảng và Nhà nước cần tiếp tục thực hiện hiệu quả các chính sách kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống của nhân dân. Trong đó:
+ Ưu tiên phát triển vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Triển khai mạnh mẽ các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới.
+ Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội: Bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận bình đẳng các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế, việc làm.
+ Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội: Giữa công nhân, nông dân và trí thức; giữa người sử dụng lao động và người lao động; giữa các vùng miền, tầng lớp, bảo đảm thành quả của công cuộc đổi mới được phân phối một cách công bằng, hợp lý đến mọi người dân.
3. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh – Củng cố niềm tin của nhân dân: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đồng thời là hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng có mạnh, có trong sạch thì khối đại đoàn kết mới vững chắc.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; Kiên quyết, kiên trì, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Đây là giải pháp then chốt để lấy lại và củng cố niềm tin chiến lược của nhân dân đối với Đảng. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội: Khắc phục triệt để tình trạng “hành chính hóa”, xa dân, quan liêu, mệnh lệnh. Cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc phương châm: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, đi đầu trong lối sống đạo đức mẫu mực để quần chúng noi theo.
4. Phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân qua cơ chế “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”: Sức mạnh của nhân dân chỉ được giải phóng khi họ thực sự được làm chủ. Cần cụ thể hóa và thực hiện hiệu quả phương châm luật pháp hóa quyền làm chủ của nhân dân đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Các chủ trương, chính sách, dự án phát triển kinh tế - xã hội liên quan trực tiếp đến đời sống người dân phải được công khai, minh bạch rộng rãi để “Dân biết”. Khuyến khích nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng luật pháp, chính sách để “Dân bàn”. Tạo điều kiện thuận lợi cho Mặt trận Tổ quốc các cấp, các cơ quan báo chí và người dân tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các biểu hiện sai trái.
5. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phá hoại khối đại đoàn kết: Trong kỷ nguyên số, trận địa tư tưởng tư tưởng trên không gian mạng diễn ra vô cùng gay gắt. Chúng ta cần chủ động, tích cực triển khai các biện pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua các giải pháp cụ thể:
+ Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục lịch sử: Giáo dục truyền thống yêu nước, tầm vóc của Cách mạng tháng Tám một cách sinh động, hấp dẫn, dễ tiếp cận đối với thế hệ trẻ, từ đó nâng cao “sức đề kháng” tinh thần cho thanh thiếu niên trước các luồng thông tin độc hại.
+ Chủ động nhận diện và đấu tranh trực diện: Kịp thời phát hiện, bóc gỡ, xử lý nghiêm các cá nhân, tổ chức lợi dụng các vấn đề về “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để xuyên tạc, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc trên Internet và mạng xã hội.
+ Xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng: Huy động lực lượng đông đảo các nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sĩ và toàn thể nhân dân tham gia viết bài, lan tỏa những thông tin tích cực, những câu chuyện đẹp, đúng bản chất theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”.
Kết luận
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một thiên anh hùng ca bất diệt trong lịch sử dân tộc Việt Nam, để lại những bài học vô giá về nghệ thuật lãnh đạo cách mạng, nghệ thuật chớp thời cơ và đặc biệt là bài học về khơi dậy, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tầm vóc vĩ đại của sự kiện này là minh chứng đanh thép cho thấy: Khi lòng dân đã thuận, khi triệu người như một dưới một sự lãnh đạo đúng đắn, khoa học, thì không một thế lực bạo tàn nào có thể ngăn cản bước tiến của một dân tộc trên con đường đi tới độc lập, tự do và hạnh phúc.
Hơn tám mươi năm đã trôi qua, thế giới đã có nhiều thay đổi, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm tiến hành công cuộc Đổi mới. Đúng như khẳng định của Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Tuy nhiên, con đường phía trước không chỉ có hoa hồng mà còn đầy rẫy những thách thức, cam go mới.
Trong hành trình hướng tới mục tiêu trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI, tinh thần Cách mạng tháng Tám và ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc cần phải tiếp tục được giữ vững, trao truyền và tỏa sáng. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, đoàn kết toàn dân là nền tảng, đoàn kết giữa đồng bào trong nước và kiều bào nước ngoài là cánh tay nối dài. Chỉ có bồi đắp và phát huy tối đa sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nước Việt Nam mới có thể vượt qua mọi thác ghềnh, thực hiện thắng lợi khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững bước sánh vai với các cường quốc năm châu như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.
TS. Phạm Xuân Lam
Viện Nghiên cứu Phát triển Văn hóa Cộng đồng
Tài liệu tham khảo:
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1945): Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12 tháng 3 năm 1945), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2021): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị quốc gia Sự thật
- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng (2015): Cách mạng tháng Tám năm 1945 - Tầm vóc lịch sử và bài học bài học đại đoàn kết toàn dân tộc, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia, NXB Lý luận chính trị.
- Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 3, Tập 4, Tập 12; NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
- Nguyễn Phú Trọng (2022): Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
- Nguyễn Phú Trọng (2023): Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, NXB. Chính trị quốc gia Sự thật.




