29/08/2026 lúc 10:55 (GMT+7)
Breaking News

Văn bản quy định chi tiết và yêu cầu rút ngắn “độ trễ” của pháp luật

Việc Quốc hội khóa XVI thông qua 15 luật và 6 nghị quyết quy phạm pháp luật tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất đặt ra yêu cầu cấp thiết về tổ chức thi hành pháp luật. Chỉ đạo mới của Thủ tướng Chính phủ về khẩn trương ban hành các văn bản quy định chi tiết không chỉ nhằm giải quyết nguy cơ “nợ” văn bản, mà còn cho thấy một yêu cầu sâu hơn: chuyển mạnh từ tư duy xây dựng pháp luật theo từng văn bản sang quản trị thống nhất cả chu trình từ lập pháp, quy định chi tiết đến tổ chức thực thi.

Văn bản quy định chi tiết và yêu cầu rút ngắn “độ trễ” của pháp luật. Ảnh minh họa - TL

Không để “độ trễ” của văn bản làm chậm hiệu lực của pháp luật

Một đạo luật chỉ thực sự đi vào đời sống khi các quy định của nó có khả năng được triển khai thống nhất, minh bạch và khả thi. Vì vậy, khoảng thời gian giữa thời điểm luật được Quốc hội thông qua, có hiệu lực và thời điểm các văn bản quy định chi tiết được ban hành luôn là một vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu lực thực tế của pháp luật.

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua 15 luật và 6 nghị quyết quy phạm pháp luật; đồng thời cho ý kiến lần đầu đối với 7 dự án luật khác. Các văn bản này được kỳ vọng tiếp tục hoàn thiện thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính và khơi thông nguồn lực phát triển.

Nhưng một hệ thống pháp luật dù được xây dựng với chất lượng cao vẫn có thể gặp “điểm nghẽn” nếu thiếu các điều kiện cần thiết để tổ chức thi hành.

Đây chính là lý do Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 8800/VPCP-PL ngày 26/8/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc khẩn trương ban hành các văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất.

Điểm đáng chú ý là chỉ đạo lần này không dừng ở yêu cầu “ban hành nhanh”. Thủ tướng đồng thời đặt vấn đề về trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, chất lượng văn bản, tiến độ, tính thống nhất của hệ thống và hạn chế số lượng văn bản quy định chi tiết. Đó là sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy quản trị pháp luật.

Trách nhiệm của người đứng đầu phải gắn với cả chất lượng và tiến độ

Theo chỉ đạo mới, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chất lượng và tiến độ trình các nghị định, quyết định quy định chi tiết thi hành những luật, nghị quyết vừa được Quốc hội thông qua.

Quy định về trách nhiệm này có ý nghĩa vượt ra ngoài câu chuyện điều hành nội bộ. Trong thực tiễn xây dựng pháp luật, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết thường tạo ra một khoảng trống giữa “luật trên giấy” và “luật trong đời sống”. Người dân, doanh nghiệp và cơ quan thực thi có thể biết quyền, nghĩa vụ hoặc chính sách đã được luật xác lập nhưng lại thiếu cơ sở pháp lý đủ cụ thể để triển khai.

Ở chiều ngược lại, việc ban hành văn bản quá nhanh nhưng chất lượng thấp cũng có thể tạo ra một dạng rủi ro khác: văn bản phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần; phát sinh cách hiểu khác nhau; thậm chí làm tăng chi phí tuân thủ.

Vì vậy, yêu cầu “đúng hạn” phải đi cùng yêu cầu “đúng chất lượng”. Đây cũng là điểm khiến chỉ đạo mới có giá trị về mặt quản trị pháp luật: trách nhiệm không được hiểu đơn thuần là trách nhiệm hoàn thành một thủ tục hành chính, mà phải bao gồm trách nhiệm bảo đảm sản phẩm cuối cùng có khả năng vận hành trong thực tế.

Từ “nợ văn bản” đến bài toán thiết kế hệ thống pháp luật

Một vấn đề đáng quan tâm hơn nằm ở yêu cầu mỗi luật, nghị quyết về nguyên tắc chỉ ban hành 01 văn bản của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ để quy định chi tiết. Trường hợp cần nhiều hơn một văn bản, cơ quan đề xuất phải thuyết minh rõ sự cần thiết, cơ sở và lý do, đồng thời chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ.

Đây không chỉ là một yêu cầu về kỹ thuật lập quy. Nó phản ánh một vấn đề lớn hơn của hệ thống pháp luật: càng nhiều tầng nấc văn bản, càng lớn nguy cơ phân mảnh quy định và khó khăn trong tiếp cận pháp luật.

Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đã chỉ ra thực trạng hệ thống pháp luật còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, tính thống nhất nội tại có mặt còn hạn chế, trật tự thứ bậc hiệu lực pháp lý trong một số trường hợp chưa thực sự rõ ràng.

Trong bối cảnh đó, việc hạn chế số lượng văn bản quy định chi tiết cần được nhìn nhận như một bước đi hướng tới tinh gọn cấu trúc pháp luật.

Một luật có thể có nhiều lĩnh vực điều chỉnh, nhiều nhóm đối tượng và nhiều nội dung kỹ thuật. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc cứ có nhiều nhóm vấn đề thì phải hình thành nhiều văn bản quy định chi tiết.

Nếu mỗi đạo luật được “tách” thành quá nhiều nghị định, quyết định, thông tư và các văn bản hướng dẫn liên quan, người dân và doanh nghiệp sẽ phải tiếp cận một “mạng lưới” pháp luật phức tạp thay vì một hệ thống quy định dễ nhận biết và dễ thực hiện.

Do đó, nguyên tắc “một luật – một văn bản quy định chi tiết” có thể xem là một định hướng quan trọng nhằm giảm tầng nấc trung gian, hạn chế sự phân tán và nâng cao khả năng tiếp cận pháp luật.

Không chỉ rút ngắn thời gian, mà phải rút ngắn “đường đi” của pháp luật

Một điểm đáng chú ý khác trong chỉ đạo của Thủ tướng là yêu cầu Bộ Tư pháp chủ trì hoàn thiện dự thảo Quyết định của Thủ tướng ban hành danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết, trình trước ngày 10/9/2026.

Đối với các luật, nghị quyết có hiệu lực sớm, Bộ Tư pháp được yêu cầu rà soát, báo cáo Thủ tướng xem xét việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn. Đồng thời, cơ quan này phải tổ chức thẩm định ngay đối với những hồ sơ dự thảo nghị định, quyết định cần ban hành sớm nhằm bảo đảm hiệu lực đồng thời với luật, nghị quyết.

Có thể thấy, yêu cầu ở đây không đơn thuần là “làm nhanh hơn”, mà là thiết kế lại quy trình để giảm độ trễ pháp lý.

Trong quản trị nhà nước hiện đại, thời gian là một thành tố của chất lượng thể chế. Một chính sách dù đúng nhưng mất quá nhiều thời gian mới được triển khai thì hiệu quả kinh tế – xã hội có thể bị suy giảm.

Đặc biệt, với những chính sách nhằm tháo gỡ ngay khó khăn cho doanh nghiệp, cải cách thủ tục hành chính, phân cấp thẩm quyền hoặc khơi thông nguồn lực, độ trễ của văn bản hướng dẫn có thể khiến chính sách chưa kịp phát huy tác dụng đã phát sinh nhu cầu điều chỉnh.

Vì vậy, cải cách pháp luật cần đồng thời hướng tới ba mục tiêu: đúng thẩm quyền, đúng chất lượng và đúng thời điểm.

Kỷ luật lập quy phải trở thành một bộ phận của kỷ luật hành chính

Chỉ đạo mới cũng cần được đặt trong mạch xuyên suốt của công tác tăng cường kỷ luật, kỷ cương xây dựng pháp luật.

Trước đó, ngày 25/4/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Công điện số 36/CĐ-TTg về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết.

Việc tiếp tục yêu cầu khẩn trương ban hành văn bản sau Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất cho thấy đây không phải nhiệm vụ mang tính thời điểm.

Nó đang trở thành một yêu cầu thường xuyên của quản trị quốc gia. Ở góc độ này, “nợ văn bản” không nên chỉ được xem là một chỉ tiêu tiến độ. Nếu văn bản quy định chi tiết chậm, trách nhiệm quản lý nhà nước bị ảnh hưởng; nếu văn bản thiếu thống nhất, môi trường pháp lý trở nên kém ổn định; nếu văn bản quá nhiều, chi phí tiếp cận và tuân thủ pháp luật tăng lên. Do đó, kỷ luật lập quy phải được đặt trong tổng thể kỷ luật hành chính.

Cần chuyển từ tư duy “đủ văn bản” sang “đủ điều kiện thi hành”

Một trong những thay đổi quan trọng nhất cần hướng tới là cách đánh giá kết quả xây dựng pháp luật.

Nếu chỉ đo bằng số lượng luật, nghị định, quyết định đã ban hành thì chưa phản ánh đầy đủ chất lượng của hệ thống pháp luật.

Câu hỏi quan trọng hơn là: sau khi văn bản được ban hành, người dân có thực hiện được không; doanh nghiệp có dự đoán được chi phí và nghĩa vụ pháp lý không; cơ quan nhà nước có đủ căn cứ để giải quyết công việc không; các địa phương có áp dụng thống nhất không?

Đó mới là thước đo cuối cùng của hiệu quả pháp luật. Theo hướng này, việc soạn thảo văn bản quy định chi tiết cần được thực hiện đồng thời với quá trình xây dựng luật, thay vì chờ luật được thông qua mới bắt đầu triển khai.

Thực tế, chỉ đạo mới của Thủ tướng đã yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ dựa trên chính các dự thảo văn bản quy định chi tiết được trình kèm hồ sơ dự án luật, nghị quyết để tổ chức soạn thảo, hoàn thiện ngay, nhất là với những văn bản liên quan đến luật, nghị quyết có hiệu lực sớm.

Đây là hướng tiếp cận hợp lý bởi nó giúp cơ quan soạn thảo nhận diện sớm những vấn đề kỹ thuật có thể phát sinh trong quá trình triển khai.

Quan trọng hơn, quá trình này giúp Quốc hội có thêm cơ sở đánh giá tính khả thi của chính sách trước khi quyết định thông qua luật.

Tăng tính liên thông giữa lập pháp và tổ chức thi hành

Một hệ thống pháp luật hiện đại không thể tách rời hai khâu “xây dựng” và “thi hành”. Trong nhiều trường hợp, chất lượng của một chính sách không chỉ phụ thuộc vào câu chữ của đạo luật mà còn phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các nguyên tắc pháp lý thành quy trình, tiêu chuẩn, điều kiện và cơ chế thực hiện cụ thể.

Do đó, ngay từ giai đoạn xây dựng luật cần xác định rõ: Thứ nhất, nội dung nào thực sự cần quy định chi tiết. Thứ hai, nội dung nào có thể quy định trực tiếp trong luật để hạn chế giao quá nhiều cho văn bản dưới luật. Thứ ba, nội dung nào cần văn bản của Chính phủ hoặc Thủ tướng và nội dung nào không cần thiết phải tiếp tục phân tầng. Thứ tư, thời điểm ban hành văn bản quy định chi tiết phải được tính toán đồng bộ với thời điểm luật có hiệu lực. Thứ năm, phải đánh giá được chi phí thực thi đối với người dân, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Nếu làm tốt những nội dung này, pháp luật sẽ giảm phụ thuộc vào cơ chế “hướng dẫn tiếp hướng dẫn”, đồng thời nâng cao tính ổn định và khả năng dự đoán của môi trường pháp lý.

Cơ hội hình thành một chu trình lập quy tinh gọn hơn

Chỉ đạo tại Công văn 8800/VPCP-PL có thể được xem là một bước cụ thể hóa yêu cầu hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật theo hướng tinh gọn, đồng bộ và dễ tiếp cận.

Từ góc độ nghiên cứu pháp luật, có thể nhận diện ba tầng chuyển đổi đang diễn ra.

Một là, từ quản lý tiến độ sang quản lý trách nhiệm. Người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng.

Hai là, từ gia tăng số lượng văn bản sang tinh gọn cấu trúc. Nguyên tắc một luật, nghị quyết về cơ bản chỉ có một văn bản quy định chi tiết của Chính phủ hoặc Thủ tướng đặt ra yêu cầu kiểm soát việc phân mảnh hệ thống pháp luật.

Ba là, từ ban hành văn bản sang bảo đảm điều kiện thi hành. Văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị để có hiệu lực đồng thời với luật, nghị quyết, đặc biệt với những chính sách cần triển khai sớm.

Ba chuyển đổi này nếu được thực hiện nhất quán sẽ góp phần thay đổi căn bản phương thức tổ chức thi hành pháp luật.

Kiến nghị: lấy khả năng thực thi làm tiêu chuẩn cuối cùng

Để yêu cầu mới không dừng lại ở việc xử lý một “đợt” văn bản sau mỗi kỳ họp Quốc hội, cần thiết lập cơ chế theo dõi thường xuyên toàn bộ vòng đời của văn bản quy phạm pháp luật.

Trước hết, cần duy trì cơ chế lập danh mục văn bản quy định chi tiết ngay từ khi xây dựng dự án luật, đồng thời xác định rõ cơ quan chủ trì và thời hạn hoàn thành.

Thứ hai, cần tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan soạn thảo khi đề xuất ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết cho một luật, nghị quyết. Việc giải trình không chỉ về sự cần thiết mà còn phải chứng minh rằng phương án đó tạo ra giá trị quản lý lớn hơn chi phí tuân thủ phát sinh.

Thứ ba, cần đẩy mạnh đánh giá tính khả thi trước khi văn bản có hiệu lực, nhất là với các quy định tác động trực tiếp tới doanh nghiệp và người dân.

Thứ tư, cần xây dựng cơ chế giám sát sau ban hành, đánh giá xem văn bản có phát sinh xung đột, chồng chéo hoặc cách hiểu khác nhau trong thực tiễn hay không.

Thứ năm, cần tiếp tục ứng dụng công nghệ số trong quản trị hệ thống văn bản, qua đó hình thành khả năng theo dõi tự động từ khâu xây dựng, thẩm định, ban hành đến sửa đổi, thay thế và hết hiệu lực.

Kết luận

Khẩn trương ban hành các văn bản quy định chi tiết những luật, nghị quyết vừa được Quốc hội thông qua là yêu cầu trước mắt, nhưng ý nghĩa của chỉ đạo mới rộng hơn nhiều.

Đó là yêu cầu nâng cao chất lượng quản trị pháp luật, trong đó tiến độ chỉ là một thành tố. Mục tiêu cuối cùng phải là xây dựng một hệ thống pháp luật tinh gọn, thống nhất, dễ tiếp cận, có khả năng dự đoán và quan trọng nhất là có thể thực thi hiệu quả.

Việc Thủ tướng yêu cầu người đứng đầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ trực tiếp chịu trách nhiệm; yêu cầu hạn chế số lượng văn bản quy định chi tiết; đồng thời mở khả năng áp dụng thủ tục rút gọn với những văn bản cần ban hành sớm cho thấy một thông điệp rõ ràng: không thể để độ trễ trong xây dựng văn bản dưới luật làm suy giảm hiệu lực của luật do Quốc hội ban hành.

Trong tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, chất lượng của hệ thống pháp luật không chỉ được quyết định bởi số lượng đạo luật được ban hành, mà ngày càng được quyết định bởi khả năng biến những quy định pháp lý thành hành động quản lý cụ thể, thành quyền và nghĩa vụ có thể thực hiện, thành môi trường pháp lý ổn định cho người dân và doanh nghiệp.

Vì vậy, từ “khẩn trương ban hành” cần tiến tới một chuẩn mực cao hơn: ban hành đúng thời điểm, đúng thẩm quyền, đúng chất lượng và tổ chức thi hành thực chất.

Đó chính là bước chuyển từ tư duy “hoàn thành chương trình xây dựng pháp luật” sang tư duy quản trị hiệu quả toàn bộ vòng đời của pháp luật – một yêu cầu có ý nghĩa nền tảng đối với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

ThS Bùi Tuấn Hùng

Tài liệu tham khảo:

  1. Văn phòng Chính phủ, Công văn số 8800/VPCP-PL ngày 26/8/2026 về việc khẩn trương ban hành các văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất.
  2. Báo Điện tử Chính phủ, “Khẩn trương ban hành các văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội”, ngày 27/8/2026.
  3. Bộ Chính trị, Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
  4. Thủ tướng Chính phủ, Công điện số 36/CĐ-TTg ngày 25/4/2026 về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết.
  5. TTXVN/VOH, Các luật, nghị quyết quy phạm pháp luật được thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, ngày 28/8/2026.