10/10/2026 lúc 17:42 (GMT+7)
Breaking News

Yêu cầu về đạo đức, văn hóa giao tiếp và ứng xử của công chức trong bối cảnh quản trị xã hội số

Tóm tắt: Trong bối cảnh Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, quản trị xã hội số ngày càng trở thành yêu cầu tất yếu, khách quan đối với hệ thống quản lý nhà nước ở Việt Nam. Sự chuyển đổi này đặt ra yêu cầu mới không chỉ về hạ tầng kỹ thuật, thể chế mà sâu xa hơn là phẩm chất đạo đức, văn hoá giao tiếp và ứng xử của đội ngũ công chức, là những chủ thể trực tiếp vận hành hệ thống quản trị số, là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân trên không gian số. Trên cơ sở làm rõ các khái niệm liên quan và phân tích thực trạng, bài viết đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao đạo đức, văn hoá giao tiếp và ứng xử của công chức trong không gian số, góp phần xây dựng nền quản trị xã hội số hiệu quả, minh bạch và lấy người dân làm trung tâm, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Từ khoá: Quản trị xã hội số; đạo đức; văn hoá giao tiếp; ứng xử; công chức; chuyển đổi số.

Ảnh minh họa - qdnd.vn

Đặt vấn đề: Chuyển đổi số đang tác động sâu sắc và toàn diện đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra những thay đổi căn bản trong phương thức tổ chức và vận hành xã hội. Nhận thức rõ vai trò quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị khẳng định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là "đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để đổi mới phương thức quản trị quốc gia". Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (tháng 01/2026) tiếp tục xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu "đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ". Trước bối cảnh đó, yêu cầu về đạo đức, văn hoá giao tiếp và ứng xử của công chức trong môi trường số là điều kiện nền tảng, là nhân tố con người giúp quản trị xã hội số thực sự phát huy hiệu quả, đáp ứng kỳ vọng của nhân dân và yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

1. QUẢN TRỊ XÃ HỘI SỐ VÀ NHỮNG YÊU CẦU VỀ ĐẠO ĐỨC, VĂN HOÁ GIAO TIẾP VÀ ỨNG XỬ ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC

1.1. Quan niệm về quản trị xã hội số

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, quản trị xã hội không thể vận hành theo phương thức truyền thống mà phải được đổi mới căn bản dựa trên nền tảng chuyển đổi số.Theo nghĩa rộng, quản trị xã hội số là phương thức quản trị xã hội bằng chuyển đổi số với nền tảng chính là thông tin và dữ liệu làm thay đổi mọi khía cạnh của tổ chức xã hội, từ chính phủ, kinh tế cho tới người dân. Đây là quá trình chuyển đổi có tính bao trùm, không giới hạn ở bất kỳ lĩnh vực riêng lẻ nào mà thấm sâu vào toàn bộ cách thức con người tổ chức và điều hành xã hội.

Theo nghĩa hẹp, quản trị xã hội số được hiểu là xã hội số là một trong ba trụ cột cấu thành quốc gia số, bên cạnh chính phủ số và kinh tế số. Xã hội số bao gồm hai thành tố cốt lõi:

Một là, công dân số: phản ánh năng lực và quyền hạn của mỗi cá nhân trong không gian số, từ khả năng truy cập thông tin, khả năng giao tiếp trong môi trường số; các kỹ năng, chuẩn mực đạo đức trong môi trường số; những ảnh hường từ môi trường số; quyền và trách nhiệm, định danh và xác thực, dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư trong môi trường số.

Hai là, văn hoá số: Khác với văn hoá truyền thống được tích luỹ qua hàng trăm, hàng nghìn năm lịch sử, văn hoá số mới đang hình thành trong vài thập kỷ gần đây cùng với sự ra đời và phát triển của không gian mạng. Về bản chất, văn hoá số là hệ thống các quy tắc ứng xử và chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi của con người trong môi trường số, là nền tảng tinh thần để xây dựng một xã hội số văn minh, lành mạnh và bền vững.

Vì vậy, phẩm chất đạo đức, văn hoá giao tiếp và ứng xử của đội ngũ công chức quyết định đến niềm tin của nhân dân đối với toàn bộ hệ thống quản trị số quốc gia.

1.2. Yêu cầu về đạo đức, văn hoá giao tiếp và ứng xử đối với công chức trong quản trị xã hội số

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"; và "muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém"[12]. Trong kỷ nguyên số, quan điểm này của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, tuy nhiên trước để đáp ứng được hiệu quả công việc trong bối cảnh mới cần những yêu cầu cụ thể về phẩm chất và hành vi của người công chức.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức công vụ được xác định một cách cụ thể và sâu sắc: "Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân"[12]. Theo Người, đạo đức của người cán bộ, công chức được thể hiện trước hết ở bốn phẩm chất cốt lõi: "cần, kiệm, liêm, chính" đây những phẩm chất được coi là "nền tảng của đời sống mới, của đạo đức cách mạng"; và đặc biệt nhấn mạnh: "những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân"[13]. Những tư tưởng đó đã được Đảng và Nhà nước ta thể chế hoá trong Luật Cán bộ, công chức hiện hành. Điều 15 Luật Cán bộ, công chức năm 2025 quy định: "Cán bộ, công chức phải có đạo đức trong sáng, mẫu mực, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong thực thi công vụ"; đồng thời "phải yêu nước, trung thành với Tổ quốc, tôn trọng và tận tụy phục vụ Nhân dân"[11].

Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã xác định: "văn hoá, đạo đức và lối sống lành mạnh phải được thể hiện trước hết trong mọi tổ chức đảng, nhà nước, đoàn thể, trong cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, trong từng đảng viên, hội viên"[2]. Đây là định hướng nền tảng, khẳng định đội ngũ cán bộ, công chức phải là những người tiên phong thực hành văn hoá, đi trước trong xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh. Trên tinh thần đó, Quyết định số 1847/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án Văn hoá công vụ đã cụ thể hoá thành bốn nhóm nội dung cốt lõi: tinh thần, thái độ làm việc; chuẩn mực giao tiếp, ứng xử; chuẩn mực đạo đức, lối sống; và trang phục của cán bộ, công chức với mục tiêu "hình thành phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đảm bảo tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả trong hoạt động thực thi nhiệm vụ, công vụ"[5]. Như vậy, nếu đạo đức công vụ là nền tảng giá trị bên trong thì văn hoá giao tiếp và ứng xử chính là sự biểu hiện bên ngoài, là cách thức người công chức hiện thực hoá những giá trị đó trong từng tương tác cụ thể với nhân dân và xã hội.

Từ những phân tích về đặc trưng của quản trị xã hội số và nền tảng lý luận về đạo đức công vụ, văn hoá giao tiếp và ứng xử có thể xác định những yêu cầu đặt ra đối với công chức trong môi trường số trên hai phương diện cốt lõi.

Thứ nhất, yêu cầu về đạo đức trong môi trường số. Các giá trị đạo đức truyền thống "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" không thay đổi về bản chất, nhưng được kế thừa và bổ sung với những biểu hiện mới, yêu cầu mới gắn với đặc thù không gian số. Trong môi trường số, công chức được giao quyền truy cập, quản lý hệ thống dữ liệu số, trong đó có dữ liệu cá nhân của hàng triệu người dân đòi hỏi sự liêm chính tuyệt đối, không được lạm dụng quyền truy cập vào mục đích riêng tư hay thương mại. Nghị định số 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân đã bước đầu luật hoá những yêu cầu đó, xác lập nghĩa vụ pháp lý của công chức trong bảo vệ dữ liệu người dân[10]. Bên cạnh đó, trong môi trường số mọi thao tác, quyết định của công chức trên hệ thống đều được ghi lại, lưu trữ và có thể truy xuất, từ đó đặt ra yêu cầu về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình cao hơn bao giờ hết. Đồng thời, người công chức phải có tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân, trong môi trường số phải xử lý hồ sơ nhanh chóng, kịp thời, đúng thời hạn quy định, tránh các hiện tượng trì hoãn công việc, đùn đẩy trách nhiệm chính là vi phạm kỷ luật hành chính, là biểu hiện suy thoái đạo đức công vụ trong kỷ nguyên số

Thứ hai, yêu cầu về văn hoá giao tiếp và ứng xử trong môi trường số. Trước hết, yêu cầu về chuẩn mực giao tiếp, ứng xử của Đề án công vụ quy định công chức phải "tôn trọng, lắng nghe, tận tình hướng dẫn về quy trình xử lý công việc và giải thích cặn kẽ những thắc mắc của người dân; thực hiện “4 xin, 4 luôn”: xin chào, xin lỗi, xin cảm ơn, xin phép; luôn mỉm cười, luôn nhẹ nhàng, luôn lắng nghe, luôn giúp đỡ"[5]. Những nội dung này được cụ thể hoá qua việc phản hồi hồ sơ trực tuyến rõ ràng, kịp thời và có trách nhiệm; giao tiếp qua cổng dịch vụ công thân thiện, dễ hiểu và hướng đến giải quyết vấn đề cho người dân. Bên cạnh đó, trách nhiệm trong giao tiếp nội bộ số, công chức cần chia sẻ thông tin, phối hợp công việc trên các nền tảng số một cách chuyên nghiệp, không để thông tin bị tắc nghẽn hoặc xử lý thiếu trách nhiệm trong hệ thống nội bộ. Đặc biệt, Đề án cũng yêu cầu công chức "phải tuân thủ kỷ luật phát ngôn, không sử dụng mạng xã hội để khai thác, tuyên truyền các thông tin chưa được kiểm chứng, phiến diện, một chiều ảnh hưởng đến hoạt động công vụ"[5].

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (tháng 01/2026) đã đặt ra yêu cầu bao trùm khi xác định phải "đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ"; đồng thời đội ngũ cán bộ, đảng viên phải "dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung"[1]. Có thể khẳng định, trong kỷ nguyên quản trị xã hội số, công nghệ và thể chế là điều kiện cần, nhưng phẩm chất đạo đức và văn hoá ứng xử số của đội ngũ công chức mới là điều kiện đủ để quản trị xã hội số thực sự phát huy hiệu quả và tạo được niềm tin bền vững của nhân dân.

2. THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC, VĂN HOÁ GIAO TIẾP VÀ ỨNG XỬ CỦA CÔNG CHỨC TRONG QUẢN TRỊ XÃ HỘI SỐ HIỆN NAY

Trong những năm gần đây, cùng với tiến trình chuyển đổi số quốc gia được đẩy mạnh, đội ngũ công chức Việt Nam đã thích nghi với môi trường làm việc số và có những chuyển biến tích cực nhất định về đạo đức và văn hoá ứng xử trong môi trường số.

2.1. Những kết quả đạt được

Trước hết, nhận thức và ý thức trách nhiệm của đội ngũ công chức trong thực thi nhiệm vụ trên môi trường số đã có những chuyển biến rõ nét. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã chủ động ban hành quy tắc ứng xử riêng dành cho cán bộ, công chức trên mạng xã hội, thiết lập các kênh tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân qua môi trường số, và tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành đạo đức, văn hoá công vụ trong không gian mạng.

Thứ hai, kết quả đo lường chỉ số hài lòng của người dân (SIPAS) ghi nhận xu hướng tích cực liên tục qua nhiều năm. Chỉ số SIPAS năm 2025 đạt 83,09%, duy trì cao hơn so với năm 2023 (82,66%) và năm 2022 (80,08%), cho thấy thái độ phục vụ của đội ngũ công chức đang từng bước cải thiện theo đúng hướng mà Đề án Văn hoá công vụ đề ra[8]. Đáng chú ý, Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) năm 2025 của các tỉnh, thành phố đạt giá trị trung bình 89,96% — cao nhất từ trước tới nay, trong đó tất cả các địa phương đều đạt kết quả PAR Index trên 80%[9] điều này cho thấy nỗ lực cải thiện chất lượng phục vụ của cả hệ thống hành chính nhà nước.

Thứ ba, thái độ và trách nhiệm của công chức trong tiếp nhận, xử lý hồ sơ trên môi trường số được phản ánh qua những bước tăng trưởng ấn tượng về tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình tăng từ 28% năm 2021 lên 51,5% vào tháng 8/2024[7]. Cổng Dịch vụ công quốc gia, chỉ riêng trong tháng 02/2025, có hơn 8,7 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái; hơn 1,4 triệu hồ sơ trực tuyến thực hiện từ Cổng; Những con số này cho thấy đội ngũ công chức đang dần trở thành chủ thể tích cực, có trách nhiệm trong vận hành hệ thống hành chính số.

Thứ tư, ý thức bảo mật thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân người dân trong đội ngũ công chức đã được nâng lên rõ rệt. Đã có 18 bộ, ngành, 1 doanh nghiệp Nhà nước, 3 doanh nghiệp viễn thông và 100% địa phương đã hoàn thành kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, tạo nền tảng để người dân chỉ cung cấp thông tin một lần cho cơ quan nhà nước[14] đây một bước tiến quan trọng trong xây dựng niềm tin số giữa Nhà nước và nhân dân.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy vẫn còn những hạn chế đáng lo ngại cần được nhìn nhận thẳng thắn. Tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, làm việc cầm chừng ở một bộ phận cán bộ, công chức vẫn tồn tại, cụ thể là để hồ sơ trực tuyến tồn đọng không đúng hạn, phản hồi người dân thiếu trách nhiệm và không rõ ràng. Năm 2024, có 571 cán bộ và công chức bị xử lý kỷ luật vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có các vi phạm liên quan đến đạo đức công vụ và văn hoá giao tiếp. Một bộ phận công chức chưa thích nghi được với yêu cầu giao tiếp số. Ngôn ngữ hành chính điện tử còn cứng nhắc, thiếu thân thiện; tình trạng "số hoá hình thức" tiếp nhận hồ sơ trực tuyến nhưng xử lý thủ công phản ánh thái độ đối phó, thiếu tinh thần trách nhiệm. Một số công chức còn có phát ngôn thiếu chuẩn mực trên mạng xã hội, vi phạm trực tiếp quy định của Đề án Văn hoá công vụ về kỷ luật phát ngôn.

Những hạn chế trên xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau: Hệ thống văn bản pháp lý về đạo đức và văn hoá ứng xử công chức chưa có quy định đặc thù cho môi trường số, chế tài xử lý các vi phạm đặc thù chưa đủ sức răn đe; Chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức còn nặng về kỹ năng kỹ thuật số mà nhẹ về phẩm chất, đạo đức và văn hoá số; Một bộ phận công chức chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của người công chức gắn liền với mọi hành vi của họ trên không gian số; Cơ chế kiểm tra, giám sát hành vi công chức trên không gian mạng còn thiếu và yếu, tiêu chí văn hoá số và đạo đức số chưa được tích hợp vào đánh giá công chức thường niên.

3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC, VĂN HOÁ GIAO TIẾP VÀ ỨNG XỬ CỦA CÔNG CHỨC TRONG QUẢN TRỊ XÃ HỘI SỐ HIỆN NAY

Từ những phân tích về cơ sở lý luận và thực trạng nêu trên, để nâng cao đạo đức, văn hoá giao tiếp và ứng xử của đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu của quản trị xã hội số, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách về đạo đức và văn hoá ứng xử công chức trong môi trường số. Đây là giải pháp có tính nền tảng, tạo hành lang pháp lý để định hướng và điều chỉnh hành vi của công chức trên không gian số. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác định nhiệm vụ "xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ", đòi hỏi hệ thống thể chế về đạo đức và văn hoá công vụ phải được đổi mới, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của kỷ nguyên số[1]. Cần nghiên cứu ban hành Bộ quy tắc ứng xử số quốc gia dành riêng cho công chức, quy định cụ thể các chuẩn mực về giao tiếp hành chính số, ứng xử trên mạng xã hội và đạo đức sử dụng dữ liệu. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm đạo đức số, đặc biệt là các hành vi lạm dụng dữ liệu cá nhân người dân, tham nhũng qua kênh điện tử và phát ngôn gây hại trên mạng xã hội, bảo đảm đủ sức răn đe và phòng ngừa.

Thứ hai, đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức về đạo đức số và văn hoá giao tiếp số. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác định yêu cầu phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao, trong đó nhân lực khu vực công là một trọng tâm[4]. Tuy nhiên, khác với đào tạo kỹ năng kỹ thuật số thuần tuý, đào tạo về đạo đức số và văn hoá giao tiếp số đòi hỏi phương pháp tiếp cận riêng biệt, chú trọng đến giá trị, thái độ và hành vi của người công chức. Đặc biệt, cần xây dựng bộ tình huống thực tiễn (case study) phong phú về các tình huống vi phạm đạo đức và văn hoá ứng xử số thường gặp để đào tạo kỹ năng xử lý cho công chức.

Thứ ba, tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá đạo đức, văn hoá ứng xử số của công chức. Cần xây dựng hệ thống giám sát đa chiều, trong đó kết hợp ba nguồn: giám sát từ hệ thống dữ liệu hành chính số (theo dõi thời gian xử lý hồ sơ, tỷ lệ phản hồi, đánh giá của người dân trực tiếp trên cổng dịch vụ công); giám sát từ người dân và tổ chức xã hội qua các kênh phản ánh trực tuyến; và giám sát nội bộ từ cơ quan quản lý trực tiếp, từ đó đánh giá thái độ phục vụ và hiệu quả công tác của công chức, đơn vị theo thời gian thay vì chỉ dựa trên báo cáo định kỳ như hiện nay. Đồng thời, cần tích hợp tiêu chí về đạo đức số và văn hoá ứng xử số vào hệ thống đánh giá, xếp loại công chức thường niên, gắn với thi đua khen thưởng và xử lý kỷ luật một cách nghiêm minh, nhất quán, theo đúng tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp[3].

Bốn là, xây dựng văn hoá tổ chức số trong các cơ quan nhà nước. Đây là giải pháp có tính bền vững, bởi văn hoá tổ chức chính là môi trường nuôi dưỡng và định hình hành vi của mỗi công chức trong dài hạn. Phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các cán bộ, đảng viên phải tự mình thực hành nghiêm các chuẩn mực văn hoá số và đạo đức số, coi đó là biểu hiện cụ thể của việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng trong điều kiện mới. Cần xây dựng môi trường làm việc số cởi mở, khuyến khích công chức chia sẻ thông tin, học hỏi lẫn nhau về kỹ năng và văn hoá số, hình thành tinh thần "liêm chính số" như một giá trị văn hoá của tổ chức, chứ không chỉ là nghĩa vụ pháp lý.

KẾT LUẬN

Như vậy, có thể thấy rằng trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, yêu cầu về đạo đức, văn hoá giao tiếp và ứng xử của đội ngũ công chức trong quản trị xã hội số không ngừng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, định hướng và hoàn thiện, từ Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng văn hoá con người Việt Nam, Đề án Văn hoá công vụ, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, đến Văn kiện Đại hội XIV với yêu cầu xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ. Điều đó cho thấy sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với việc xây dựng đội ngũ công chức có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số. Những chuyển biến tích cực trong thái độ phục vụ, ý thức trách nhiệm và văn hoá ứng xử số của đội ngũ công chức mà người dân đang cảm nhận được qua từng giao dịch hành chính trên môi trường số chính là minh chứng sinh động cho hiệu quả của những chủ trương đúng đắn đó. Vì Nhân dân - chính là mục tiêu xuyên suốt mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang hướng tới trong xây dựng nền quản trị xã hội số hiệu quả, minh bạch, công bằng và lấy người dân làm trung tâm./.

ThS Đoàn Minh Nhung

Giảng viên Khoa Văn hoá và Phát triển - Học viện Chính trị khu vực I

____________________________________________

Tài liệu tham khảo

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Hà Nội.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, Hà Nội.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.

[5] Thủ tướng Chính phủ (2018), Quyết định số 1847/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 về phê duyệt Đề án Văn hoá công vụ, Hà Nội.

[6] Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Hà Nội.

[7] Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 về phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, Hà Nội.

[8] Bộ Nội vụ (2025), Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025 (SIPAS 2025), Hà Nội.

[9] Bộ Nội vụ (2025), Báo cáo Chỉ số cải cách hành chính năm 2025 (PAR Index 2025), Hà Nội.

[10] Chính phủ (2023), Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân, Hà Nội.

[11] Quốc hội (2025), Luật Cán bộ, công chức năm 2025, Hà Nội.

[12] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[13] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[14] Văn phòng Chính phủ (2025), Báo cáo kết quả hoạt động Cổng Dịch vụ công quốc gia tháng 02/2025, Hà Nội.