Tóm tắt: Đợt cao điểm 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị đang tạo ra những chuyển biến đáng chú ý trên nhiều phương diện, từ hoàn thiện thể chế, kiến trúc số, phát triển hạ tầng, kết nối và làm sạch dữ liệu đến cải cách dịch vụ công, nền tảng số dùng chung và bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Đáng chú ý, cách tiếp cận mới không chỉ đặt trọng tâm vào việc “hoàn thành nhiệm vụ”, mà yêu cầu sản phẩm phải được đưa vào vận hành, có dữ liệu, có người sử dụng và có khả năng kiểm chứng hiệu quả. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy xây dựng hệ thống sang tư duy quản trị dựa trên kết quả. Bài viết phân tích những kết quả bước đầu của đợt cao điểm 100 ngày, đồng thời chỉ ra các vấn đề cần tiếp tục giải quyết để chuyển đổi số không dừng ở kết nối kỹ thuật mà trở thành phương thức vận hành mới của nền hành chính, quản trị nhà nước và cung cấp dịch vụ cho người dân, doanh nghiệp.
Từ khóa: chuyển đổi số; điểm nghẽn; dữ liệu số; nền tảng số; dịch vụ công; quản trị số; an toàn, an ninh mạng; chính quyền số.
Abstract: The 100-day campaign to address bottlenecks in digital transformation across Vietnam’s political system has generated notable progress in institutions, digital architecture, infrastructure, data connectivity and cleansing, public services, shared digital platforms, and cybersecurity. More importantly, the campaign introduces a result-oriented approach in which a task is not considered completed merely because a document or system has been created, but only when the output is operational, contains usable data, has actual users, and produces verifiable value. This marks a significant shift from a system-building mindset toward outcome-based digital governance. The article examines the initial achievements of the campaign and identifies key challenges that must be addressed so that digital transformation can move beyond technical connectivity and become a genuine new operating model for public administration, governance, and services for citizens and businesses.
Keywords: digital transformation; bottlenecks; digital data; digital platforms; public services; digital governance; cybersecurity; digital government.
![]()
1. Từ “xây dựng hệ thống” đến yêu cầu vận hành thực chất
Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, một nghịch lý ngày càng rõ là có thể tồn tại đồng thời rất nhiều hệ thống công nghệ nhưng hiệu quả quản trị chưa tương xứng. Cơ quan này có phần mềm, cơ quan khác có cơ sở dữ liệu; nhiều nền tảng được đầu tư nhưng chưa kết nối đầy đủ; dữ liệu đã được số hóa nhưng chưa được chuẩn hóa để chia sẻ, tái sử dụng; dịch vụ công đã trực tuyến nhưng người dân vẫn phải thực hiện nhiều thao tác hoặc cung cấp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có.
Điều đó cho thấy điểm nghẽn của chuyển đổi số không đơn thuần nằm ở việc thiếu công nghệ. Trong nhiều trường hợp, vấn đề sâu hơn nằm ở thể chế, mô hình quản trị, khả năng phối hợp liên ngành, chất lượng dữ liệu, trách nhiệm của người đứng đầu và cách thức đánh giá kết quả.
Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị được triển khai từ ngày 10/7 đến hết ngày 30/11/2026, tập trung vào 10 nhóm vấn đề, gồm thể chế; hạ tầng số; dữ liệu số; nền tảng số; dịch vụ công trực tuyến; kinh tế số; xã hội số; nguồn nhân lực; tài chính, giải ngân; kỷ luật thực thi và tuân thủ.
Điểm đáng chú ý nhất trong cách tiếp cận này là thay đổi tiêu chí xác định một nhiệm vụ đã hoàn thành. Theo Kế hoạch 05-KH/BCĐTW, đối với hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, nền tảng và dịch vụ số, sản phẩm phải vận hành được, có dữ liệu, có người sử dụng thực tế và bước đầu phát huy hiệu quả; không xác nhận hoàn thành đối với sản phẩm mới dừng ở dự thảo hoặc chưa đưa vào sử dụng.
Đây không chỉ là một yêu cầu kỹ thuật. Về bản chất, đó là sự chuyển đổi trong tư duy quản trị: từ quản lý đầu vào và tiến độ sang quản lý sản phẩm đầu ra, mức độ sử dụng và giá trị tạo ra.
Nếu trước đây câu hỏi có thể là “đã xây dựng hệ thống chưa?”, thì câu hỏi quan trọng hơn hiện nay phải là: hệ thống có thực sự được sử dụng không, dữ liệu có được khai thác không, người dân có bớt thủ tục không, cán bộ có giảm thao tác không và quyết định quản lý có nhanh, chính xác hơn không? Đây chính là thước đo của chuyển đổi số trong giai đoạn mới.
2. Những “nút thắt” lớn đang được tháo gỡ
Sau hơn hai tháng triển khai, nhiều nhóm nhiệm vụ đã có kết quả cụ thể. Trước hết là việc hoàn thiện khung kiến trúc và thể chế. Ngày 29/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1425/QĐ-TTg về Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phiên bản 1.0. Đây là một bước quan trọng nhằm tạo định hướng kiến trúc thống nhất cho quá trình phát triển các hệ thống số trong phạm vi quốc gia.
Việc có một khung kiến trúc tổng thể mang ý nghĩa lớn ở chỗ chuyển đổi số không thể tiếp tục phát triển theo mô hình mỗi cơ quan tự xây dựng một hệ thống riêng. Khi các hệ thống thiếu chuẩn chung, việc tích hợp sẽ tốn kém; khi dữ liệu không được thiết kế theo chuẩn thống nhất, việc chia sẻ sẽ khó khăn; khi nền tảng trùng lặp, nguồn lực đầu tư bị phân tán.
Do đó, kiến trúc số phải được nhìn nhận như “quy hoạch không gian” của quốc gia trên môi trường số. Nó xác định các thành phần, nguyên tắc kết nối và mối quan hệ giữa các hệ thống, từ đó hạn chế tình trạng đầu tư manh mún.
Ở phương diện hạ tầng, một điểm nghẽn có tính nền tảng khác là bảo đảm kết nối. Qua rà soát, cơ quan chức năng xác định 117 điểm lõm sóng tại 11 tỉnh, thành phố; các địa phương và doanh nghiệp viễn thông đã có kế hoạch xử lý 73 điểm và cam kết hoàn thành 46 điểm còn lại trước ngày 30/11/2026. Một số khu vực khó khăn còn được tính đến phương án sử dụng Internet vệ tinh, trong đó 254 bộ thiết bị Internet vệ tinh đã được tiếp nhận để hỗ trợ các địa điểm cần thiết.
Nhìn từ góc độ quản trị, xử lý điểm lõm sóng không chỉ là câu chuyện phủ hạ tầng viễn thông. Đây còn là điều kiện để bảo đảm tính bao trùm của chuyển đổi số. Một chính quyền số hiện đại nhưng người dân ở vùng khó khăn không thể kết nối thì lợi ích của chuyển đổi số sẽ bị phân bổ không đồng đều. Chuyển đổi số vì vậy phải đi cùng mục tiêu thu hẹp khoảng cách số.
3. Dữ liệu: từ “tài sản số” đến năng lực vận hành
Nếu hạ tầng là nền móng thì dữ liệu chính là nguồn nguyên liệu của nền quản trị số. Một trong những kết quả đáng chú ý của đợt cao điểm là Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành kết nối 7/7 cơ sở dữ liệu với Trung tâm Dữ liệu quốc gia theo Nghị quyết số 11/NQ-CP; trong đó 6 cơ sở dữ liệu đã hoàn thành làm sạch và đồng bộ dữ liệu lịch sử, đạt chỉ tiêu tối thiểu 80%. Một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành cũng đã được hoàn thành, gồm dữ liệu về bưu chính, viễn thông, chứng thực điện tử, doanh thu dịch vụ viễn thông, tài nguyên viễn thông và thống kê tốc độ Internet.
Những con số này có ý nghĩa không chỉ ở khía cạnh kỹ thuật. Trong quản trị truyền thống, mỗi cơ quan thường nhìn thấy một phần của người dân, doanh nghiệp hoặc một lĩnh vực quản lý. Khi dữ liệu được kết nối và chuẩn hóa, bức tranh quản trị trở nên đầy đủ hơn. Cùng một thông tin có thể được sử dụng cho nhiều mục đích hợp pháp, giảm yêu cầu khai báo lặp lại và hỗ trợ cơ quan nhà nước đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Tuy nhiên, kết nối dữ liệu mới chỉ là điều kiện cần. Thách thức lớn hơn là chất lượng dữ liệu và khả năng tái sử dụng. Một cơ sở dữ liệu được kết nối nhưng thông tin không đầy đủ, không chính xác, không cập nhật hoặc không tương thích với hệ thống khác thì giá trị thực tế vẫn hạn chế.
Bởi vậy, “làm sạch dữ liệu” cần được hiểu rộng hơn việc loại bỏ dữ liệu trùng lặp. Đó còn là quá trình xác lập trách nhiệm đối với dữ liệu, tiêu chuẩn hóa cấu trúc, cập nhật thường xuyên, xác định nguồn dữ liệu gốc và xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng.
Một nền quản trị dựa trên dữ liệu chỉ có thể hình thành khi dữ liệu có “chủ”, có tiêu chuẩn, có trách nhiệm cập nhật và có cơ chế khai thác rõ ràng.
Đây cũng là lý do Kế hoạch 100 ngày đặt yêu cầu ưu tiên dùng chung, tích hợp, chia sẻ và tái sử dụng, đồng thời hạn chế đầu tư mới các hệ thống trùng chức năng với nền tảng dùng chung đã đáp ứng yêu cầu.
4. Dịch vụ công: thước đo gần dân nhất của chuyển đổi số
Đối với người dân, chuyển đổi số không được cảm nhận qua số lượng máy chủ hay số lượng phần mềm được đầu tư. Người dân cảm nhận qua việc làm thủ tục có nhanh hơn không, có phải đi lại ít hơn không, có phải nộp lại thông tin đã từng cung cấp không và có thể theo dõi hồ sơ thuận tiện không.
Vì vậy, cải cách dịch vụ công là một trong những “bài kiểm tra” quan trọng nhất đối với hiệu quả chuyển đổi số.
Theo kết quả cập nhật sau hơn hai tháng triển khai đợt cao điểm, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính đã được hoàn thiện, tích hợp và vận hành đồng bộ với Cổng Dịch vụ công quốc gia; 80 thủ tục hành chính còn lại được tái cấu trúc theo Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP. Đồng thời, 5 thủ tục có tần suất cao được lựa chọn để tiếp tục tái thiết kế theo hướng đơn giản hóa, giảm thao tác và tăng khả năng tái sử dụng dữ liệu.
Đây là hướng đi cần được nhấn mạnh. Số hóa một quy trình thủ công chưa chắc đã tạo ra cải cách. Nếu một thủ tục trước đây yêu cầu người dân điền 10 trường thông tin trên giấy, sau đó chuyển nguyên trạng 10 trường đó lên một biểu mẫu điện tử thì thủ tục đã “điện tử hóa”, nhưng chưa thực sự “chuyển đổi số”.
Chuyển đổi số phải đặt lại câu hỏi về chính quy trình. Thông tin nào Nhà nước đã có? Trường dữ liệu nào không cần người dân khai báo lại? Công đoạn nào có thể tự động hóa? Khâu nào có thể được xử lý liên thông? Quyết định nào có thể được hỗ trợ bởi dữ liệu? Đâu là bước thực sự tạo ra giá trị và đâu chỉ là thói quen hành chính?
Từ góc độ này, tái cấu trúc thủ tục hành chính quan trọng hơn việc đơn thuần đưa thủ tục lên mạng.
5. Từ “có dịch vụ trực tuyến” đến “dịch vụ số có chất lượng”
Một bước tiến đáng chú ý khác là việc đặt ra yêu cầu đo lường chất lượng dịch vụ và trải nghiệm người dùng.
Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành bộ tiêu chuẩn, chỉ số đo lường chất lượng dịch vụ và trải nghiệm người dùng tại Quyết định số 2324/QĐ-BKHCN ngày 7/5/2026. Đồng thời, Văn bản số 6104/BKHCN-CĐSQG ngày 13/8/2026 đặt ra tiêu chí triển khai và yêu cầu đối với nền tảng số dùng chung quốc gia, trong đó có yêu cầu bảo đảm khả năng đăng nhập một lần qua VNeID.
Việc đưa trải nghiệm người dùng vào đánh giá là một thay đổi có ý nghĩa. Trong môi trường số, người dân không quan tâm hệ thống được xây dựng bằng công nghệ gì. Họ quan tâm giao diện có dễ sử dụng không, thao tác có ít không, phản hồi có nhanh không, thông tin có rõ ràng không và hồ sơ có được giải quyết đúng hạn không.
Do đó, chất lượng dịch vụ số cần được đánh giá bằng những chỉ số cụ thể như thời gian xử lý, số lần người dùng phải thao tác, tỷ lệ hồ sơ hoàn thành trực tuyến, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung, mức độ hài lòng, tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu và mức độ ổn định của hệ thống.
Khi những chỉ số này trở thành một phần của quản trị, cơ quan nhà nước sẽ có động lực mạnh hơn để thiết kế dịch vụ từ góc nhìn của người sử dụng.
Đó là bước chuyển từ “chính quyền có hệ thống số” sang “người dân có trải nghiệm số tốt hơn”.
6. An toàn, an ninh mạng phải đi trước một bước
Càng nhiều dữ liệu được kết nối, rủi ro an ninh mạng càng lớn. Vì vậy, chuyển đổi số và bảo đảm an toàn thông tin phải được triển khai đồng thời, không thể coi an ninh mạng là công đoạn bổ sung sau khi hệ thống đã hoàn thành.
Theo báo cáo kết quả đợt cao điểm, các hệ thống cấp độ 4 và cấp độ 5 đã hoàn thành hồ sơ cấp độ, kiểm thử xâm nhập và đánh giá độc lập trước ngày 30/7/2026. Ba trên ba hệ thống cấp độ 4, 5 đang hoạt động đã kết nối chia sẻ thông tin giám sát với Trung tâm An ninh mạng quốc gia; đối với hệ thống cấp độ 3, 49/49 hệ thống đã thực hiện kết nối chia sẻ thông tin giám sát.
Điều này cho thấy chuyển đổi số đang chuyển từ tư duy “xây xong rồi bảo vệ” sang “an toàn ngay từ thiết kế”.
Đây là nguyên tắc đặc biệt quan trọng đối với các cơ sở dữ liệu lớn và các nền tảng dùng chung. Khi một nền tảng được sử dụng rộng rãi, sự cố không còn ảnh hưởng tới một cơ quan riêng lẻ mà có thể tạo hiệu ứng dây chuyền trên diện rộng.
Do đó, khả năng sao lưu, phục hồi, giám sát, phát hiện và ứng phó sự cố phải trở thành thành phần cấu trúc của hệ thống số.
Trong tương lai, năng lực số của một cơ quan không chỉ được đo bằng số lượng hệ thống mà cơ quan đó sở hữu, mà còn bằng khả năng duy trì hệ thống hoạt động an toàn, liên tục và tin cậy.
7. Điểm nghẽn lớn nhất có thể không còn nằm ở công nghệ
Những kết quả sau hơn hai tháng cho thấy nhiều vấn đề kỹ thuật đang từng bước được xử lý. Nhưng khi hạ tầng, nền tảng và kết nối dữ liệu được cải thiện, một nhóm điểm nghẽn khác có thể nổi lên rõ hơn: điểm nghẽn về tổ chức và con người.
Một hệ thống tốt nhưng cán bộ không sử dụng hiệu quả thì vẫn chưa tạo ra chuyển đổi.
Một cơ sở dữ liệu đầy đủ nhưng các cơ quan vẫn yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin thì giá trị của dữ liệu bị giảm.
Một nền tảng dùng chung nhưng các đơn vị tiếp tục xây dựng phần mềm riêng thì nguồn lực vẫn bị phân tán.
Một dịch vụ công trực tuyến nhưng người dân vẫn phải đến trực tiếp để hoàn tất bước cuối cùng thì quá trình chuyển đổi vẫn chưa hoàn chỉnh.
Vì vậy, chuyển đổi số cuối cùng là vấn đề thay đổi phương thức làm việc. Kế hoạch 100 ngày đã đặt ra yêu cầu “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả”; người đứng đầu cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm về sản phẩm cuối cùng. Đồng thời, tiến độ được theo dõi thường xuyên và những nhiệm vụ có nguy cơ chậm phải có phương án khắc phục.
Đây là cơ chế cần thiết để khắc phục tình trạng “cha chung không ai khóc” trong các dự án số liên ngành.
Bởi chuyển đổi số hiếm khi thất bại vì thiếu một phần mềm. Nó thường chậm bởi không xác định rõ ai chịu trách nhiệm về dữ liệu, ai chịu trách nhiệm tích hợp, ai quyết định chuẩn chung và ai chịu trách nhiệm cuối cùng về hiệu quả.
8. 100 ngày chỉ là điểm khởi đầu
Tên gọi “100 ngày” tạo ra áp lực tiến độ cần thiết. Tuy nhiên, chuyển đổi số không thể được hoàn tất trong 100 ngày.
Giá trị lớn nhất của đợt cao điểm vì vậy không nên chỉ được đo bằng số nhiệm vụ hoàn thành trước ngày 30/11/2026. Quan trọng hơn là sau thời điểm đó, những cơ chế nào tiếp tục được duy trì.
Có thể nhìn nhận ít nhất bốn kết quả cần được giữ lại.
Thứ nhất, kỷ luật thực thi. Mỗi nhiệm vụ số phải có người chịu trách nhiệm, thời hạn và sản phẩm cụ thể.
Thứ hai, quản trị dựa trên dữ liệu. Không chỉ tạo dữ liệu mà phải biến dữ liệu thành nguồn lực cho hoạch định chính sách và điều hành.
Thứ ba, dùng chung và tái sử dụng. Mỗi hệ thống mới phải trả lời được câu hỏi tại sao cần xây dựng mới, thay vì sử dụng hoặc tích hợp nền tảng đã có.
Thứ tư, đo lường giá trị. Một hệ thống chỉ thực sự có ý nghĩa khi làm giảm thời gian, chi phí, thao tác hoặc nâng cao chất lượng quyết định.
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phiên bản 1.0 được ban hành tháng 7/2026 tạo thêm một nền tảng để quá trình này phát triển theo hướng thống nhất hơn.
Nhưng kiến trúc chỉ tạo ra “bộ khung”. Để hình thành một quốc gia số, điều quan trọng hơn là các thành phần bên trong phải thực sự kết nối, vận hành và tạo ra giá trị.
9. Cần một “hậu 100 ngày” để không quay lại điểm nghẽn cũ
Một trong những rủi ro của các chiến dịch cao điểm là khi thời hạn kết thúc, áp lực thực thi giảm xuống và một số vấn đề có thể quay trở lại.
Để tránh điều đó, cần chuyển cơ chế 100 ngày thành cơ chế quản trị thường xuyên.
Trước hết, cần duy trì hệ thống giám sát theo thời gian thực đối với những chỉ số cốt lõi của chuyển đổi số. Không chỉ theo dõi số lượng nhiệm vụ đã hoàn thành mà phải theo dõi mức độ sử dụng, tỷ lệ kết nối, chất lượng dữ liệu, thời gian xử lý, mức độ hài lòng và chi phí vận hành.
Thứ hai, cần tăng cường đánh giá độc lập. Đơn vị xây dựng hệ thống không nên đồng thời là đơn vị duy nhất xác nhận hệ thống đã đạt hiệu quả. Đánh giá của người sử dụng, kiểm tra ngẫu nhiên và đo lường độc lập sẽ giúp hạn chế tình trạng “đạt trên báo cáo nhưng chưa đạt trong thực tế”.
Thứ ba, cần xem dữ liệu là một loại hạ tầng chiến lược. Nếu đường giao thông, điện, viễn thông là hạ tầng vật lý của nền kinh tế thì dữ liệu ngày càng trở thành hạ tầng của quản trị. Đầu tư cho dữ liệu vì vậy phải được nhìn nhận theo chu kỳ dài hạn, thay vì chỉ gắn với từng dự án phần mềm.
Thứ tư, cần tiếp tục đào tạo đội ngũ cán bộ theo hướng vừa hiểu nghiệp vụ, vừa có năng lực số. Công nghệ có thể thay đổi rất nhanh, nhưng nếu năng lực tổ chức không thay đổi thì hệ thống hiện đại vẫn có thể bị vận hành theo phương thức cũ.
10. Đích đến không phải là một chính quyền “nhiều công nghệ”, mà là một chính quyền “ít điểm nghẽn”
Có thể nói, đợt cao điểm 100 ngày đang tạo ra một bước chuyển đáng chú ý trong cách tiếp cận chuyển đổi số của hệ thống chính trị.
Từ việc xây dựng từng hệ thống riêng lẻ, trọng tâm đang chuyển sang kiến trúc tổng thể.
Từ số hóa hồ sơ, trọng tâm chuyển sang dữ liệu có khả năng chia sẻ và tái sử dụng.
Từ cung cấp dịch vụ trực tuyến, trọng tâm chuyển sang trải nghiệm của người dùng.
Từ xác nhận hoàn thành trên giấy, trọng tâm chuyển sang sản phẩm vận hành được và có minh chứng.
Từ đầu tư công nghệ, trọng tâm chuyển sang hiệu quả quản trị.
Đây chính là những chuyển dịch có ý nghĩa nền tảng. Bài toán của chuyển đổi số trong giai đoạn tới không còn đơn giản là “có công nghệ hay chưa”. Công nghệ ngày càng phổ biến và dễ tiếp cận hơn. Thách thức lớn hơn là tổ chức lại quy trình, chuẩn hóa dữ liệu, kết nối hệ thống, thay đổi cách làm việc và thiết lập cơ chế đo lường giá trị.
Nếu làm được điều đó, chuyển đổi số sẽ không còn là một chương trình công nghệ đứng bên cạnh hoạt động quản lý nhà nước, mà trở thành phương thức vận hành mới của chính hoạt động quản trị.
Và khi ấy, thành công của chuyển đổi số sẽ không được chứng minh bằng số lượng nền tảng được xây dựng hay số lượng nhiệm vụ được đánh dấu “hoàn thành”, mà bằng những thay đổi rất cụ thể: người dân bớt phải đi lại, doanh nghiệp bớt thời gian chờ đợi, cán bộ bớt thao tác thủ công, dữ liệu được sử dụng nhiều lần và quyết định quản lý được đưa ra nhanh hơn, chính xác hơn.
Đó cũng là thước đo cuối cùng để trả lời câu hỏi: chuyển đổi số đã thực sự tạo ra một phương thức quản trị mới hay chưa?
Đợt cao điểm 100 ngày, vì vậy, nên được nhìn nhận không phải là một “đích đến”, mà là phép thử để chuyển đổi số bước sang giai đoạn trưởng thành hơn: từ xây dựng sang vận hành, từ kết nối sang khai thác, từ số hóa sang tạo giá trị và từ công nghệ sang đổi mới phương thức quản trị.
ThS Phạm Duy Quý
_____________________________________
Tài liệu tham khảo
Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (2026), Kế hoạch hành động số 05-KH/BCĐTW ngày 11/7/2026 về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị.
Báo Điện tử Chính phủ (2026), Đợt cao điểm 100 ngày: Nhiều điểm nghẽn chuyển đổi số được tháo gỡ, ngày 6/10/2026.
Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 1425/QĐ-TTg ngày 29/7/2026 ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số (phiên bản 1.0).
Chính phủ (2026), Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14/1/2026 sửa đổi, cập nhật Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2026), Quyết định số 2324/QĐ-BKHCN ngày 7/5/2026 về bộ tiêu chuẩn, chỉ số đo lường chất lượng dịch vụ và trải nghiệm người dùng.
Chính phủ (2025), Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu.
Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.




