27/08/2026 lúc 11:15 (GMT+7)
Breaking News

Đà Nẵng tăng tốc hạ tầng: Từ tiến độ công trình đến hiệu quả phát triển

Đà Nẵng đang đẩy nhanh tiến độ nhiều công trình động lực, trọng điểm trên các lĩnh vực giao thông, cảng biển, hàng không, đô thị và môi trường. Khi được triển khai đồng bộ với quy hoạch, giải phóng mặt bằng và tổ chức không gian phát triển, những công trình này mở rộng khả năng kết nối, thu hút nguồn lực và hình thành dư địa tăng trưởng mới cho thành phố.
Tăng tốc hạ tầng, khơi thông không gian phát triển, tạo động lực tăng trưởng.

Tăng tốc công trình động lực, khơi thông không gian phát triển

Đà Nẵng đang đẩy nhanh tiến độ nhiều công trình động lực, trọng điểm thuộc các lĩnh vực giao thông, cảng biển, hàng không, đô thị và môi trường. Giá trị của quá trình này không dừng ở việc sớm hoàn thành từng dự án, mà phụ thuộc vào mức độ đồng bộ giữa quy hoạch, giải phóng mặt bằng, kết nối hạ tầng và tổ chức khai thác sau đầu tư. Khi các công trình được đặt trong một mạng lưới phát triển thống nhất, năng lực lưu chuyển hàng hóa, con người và nguồn lực sẽ được mở rộng, qua đó tạo thêm dư địa tăng trưởng cho thành phố.

I. TĂNG TỐC HẠ TẦNG: TỪ HOÀN THÀNH CÔNG TRÌNH ĐẾN TẠO LẬP NĂNG LỰC PHÁT TRIỂN

Trong nền kinh tế hiện đại, hạ tầng là một bộ phận cấu thành năng lực sản xuất và tổ chức không gian phát triển. Hệ thống giao thông, cảng biển, hàng không, đô thị và môi trường tác động trực tiếp đến chi phí lưu chuyển hàng hóa, con người, vốn và thông tin. Hạ tầng càng đồng bộ, khoảng cách kinh tế giữa các khu vực càng được thu hẹp, phạm vi tiếp cận thị trường càng được mở rộng và điều kiện phân bổ nguồn lực càng thuận lợi. Vì vậy, giá trị của đầu tư hạ tầng cần được đánh giá qua những thay đổi mà công trình tạo ra đối với hoạt động kinh tế – xã hội, thay vì chỉ dựa vào quy mô vốn hoặc khối lượng xây dựng đã hoàn thành.

Dưới góc độ kinh tế học phát triển, đầu tư công vào hạ tầng có thể thực hiện vai trò “vốn mồi”, tạo điều kiện ban đầu để thu hút các dòng vốn xã hội. Tuy nhiên, hiệu ứng dẫn dắt không phát sinh một cách tự động sau khi công trình được xây dựng. Một dự án riêng lẻ có thể cải thiện điều kiện tại một địa điểm, nhưng chỉ một hệ thống hạ tầng được tổ chức hợp lý mới có thể làm thay đổi dòng vận động của hàng hóa, lao động và đầu tư trên phạm vi rộng. Điều đó đặt ra yêu cầu lựa chọn dự án theo mức độ đóng góp vào mạng lưới chung, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết để năng lực mới sớm được đưa vào vận hành.

Đối với Đà Nẵng, yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt khi thành phố đang tổ chức lại không gian phát triển trên quy mô rộng hơn, với sự đan xen giữa đô thị trung tâm, khu vực ven biển, vùng phía Tây, các hành lang kinh tế và những đầu mối giao thông đối ngoại. Việc phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch thành phố thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 và ban hành chương trình triển khai đã tạo cơ sở để xác định vị trí, chức năng và quan hệ giữa các dự án trong tổng thể phát triển. Ở cấp độ quốc gia, Đà Nẵng được xác định thuộc Nhóm cảng biển số 3; định hướng đầu tư khu bến cảng Liên Chiểu tiếp tục khẳng định vai trò của thành phố như một cửa ngõ giao thương và trung tâm dịch vụ logistics của khu vực miền Trung – Tây Nguyên.

Quy hoạch trong trường hợp này cần được nhìn nhận như một công cụ điều phối nguồn lực và tổ chức trình tự đầu tư. Dự án có tính động lực phải tạo điều kiện cho những hoạt động tiếp nối, hạn chế tình trạng công trình đã hoàn thành nhưng thiếu hạ tầng kết nối, dịch vụ hỗ trợ hoặc phương án khai thác phù hợp. Việc ưu tiên vốn vì vậy cần dựa trên vai trò của từng dự án trong cấu trúc phát triển chung, mức độ cấp thiết và khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa, thay vì phân bổ dàn trải theo từng lĩnh vực riêng biệt.

Từ cách tiếp cận đó, “tăng tốc” cần bao quát cả quá trình chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, thi công, nghiệm thu và đưa công trình vào khai thác. Tiến độ xây dựng là điều kiện quan trọng, nhưng chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả phát triển. Giữa hoàn thành về vật chất và vận hành thực tế còn có những yêu cầu về kết nối kỹ thuật, tổ chức dịch vụ, nhân lực, môi trường và cơ chế quản lý. Rút ngắn được khoảng thời gian này sẽ giúp nguồn vốn sớm chuyển hóa thành năng lực phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Như vậy, tăng tốc hạ tầng không nên được hiểu đơn thuần là đẩy nhanh thi công. Bản chất của quá trình này là tổ chức đồng bộ các điều kiện để công trình hoàn thành đúng tiến độ, được khai thác đúng chức năng và tạo ra tác động phát triển trong thời gian sớm nhất. Đây cũng là cơ sở để chuyển từ tư duy quản lý từng dự án sang quản trị một danh mục đầu tư có mục tiêu, thứ tự ưu tiên và quan hệ bổ trợ rõ ràng.

II. NHÌN TỪ CÁC CÔNG TRÌNH ĐỘNG LỰC: HÌNH THÀNH CẤU TRÚC HẠ TẦNG ĐA PHƯƠNG THỨC

Tiến độ của các công trình động lực tại Đà Nẵng cho thấy hệ thống hạ tầng của thành phố đang được bổ sung trên nhiều phương diện, từ cửa ngõ hàng hải, giao thông liên vùng đến hàng không, quản trị đô thị và xử lý môi trường. Mỗi dự án đảm nhiệm một chức năng riêng; khi được triển khai theo cùng định hướng phát triển, các chức năng này có thể hỗ trợ lẫn nhau và nâng cao hiệu quả vận hành của toàn hệ thống.

Trước hết, cảng Liên Chiểu giữ vai trò mở rộng năng lực giao thương đường biển và từng bước chia sẻ chức năng vận chuyển hàng hóa với khu bến Tiên Sa. Phần cơ sở hạ tầng dùng chung của bến cảng đã hoàn thành 100% khối lượng; tuyến đường ven biển nối cảng đã thông xe kỹ thuật và đang hoàn thiện những hạng mục cuối để đưa vào khai thác. Việc đường kết nối được triển khai cùng với hạ tầng cảng góp phần hình thành tuyến vận tải hàng hóa chuyên dụng, hạn chế xung đột với giao thông đô thị và tạo điều kiện tổ chức hoạt động hậu cần trong khu vực.

Cách tổ chức này gợi mở nguyên tắc phát triển cảng gắn với hậu phương logistics đã được vận dụng tại những trung tâm hàng hải như Singapore và Rotterdam. Năng lực cạnh tranh của một cảng không chỉ được quyết định bởi cầu bến và luồng tàu, mà còn phụ thuộc vào mạng lưới vận tải, kho bãi, trung tâm phân phối, thủ tục và dịch vụ hỗ trợ. Đối với Liên Chiểu, mức độ phát huy hiệu quả trong giai đoạn tiếp theo sẽ gắn với tiến độ đầu tư bến container, sự hình thành của các dịch vụ logistics và khả năng kết nối với khu thương mại tự do, khu công nghiệp cùng các hành lang vận tải liên vùng. Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế ở đây mang ý nghĩa về nguyên tắc tổ chức, không phải sự đồng nhất về quy mô hoặc trình độ phát triển.

Ở khu vực phía Tây, tuyến đường kết nối vành đai phía Tây với cao tốc La Sơn – Túy Loan đang tạo thêm trục tiếp cận giữa không gian đô thị, khu vực sản xuất và mạng lưới giao thông liên vùng. Đến cuối tháng 7/2026, giá trị thực hiện của dự án đạt khoảng 1.035 tỷ đồng, tương đương 62,5% tổng vốn đầu tư. Nhà thầu phấn đấu đến cuối năm 2026 cơ bản hoàn thành kết cấu dưới của các cầu, đắp cơ bản nền đường và đạt khoảng 50% sản lượng. Khi hình thành, tuyến đường sẽ góp phần rút ngắn thời gian di chuyển, cải thiện điều kiện tiếp cận khu vực phía Tây và hỗ trợ phân bố lại các hoạt động sản xuất, logistics và dịch vụ.

Cùng với đó, nút giao Quốc lộ 14B với cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi được đẩy nhanh thi công nhằm khắc phục điểm giao cắt, tăng tính liên tục giữa các tuyến trục và nâng cao năng lực vận chuyển. Giá trị của hai dự án không giới hạn ở việc bổ sung thêm chiều dài đường giao thông. Quan trọng hơn, chúng tạo điều kiện kết nối khu vực phía Tây và phía Nam thành phố với các tuyến cao tốc, cảng biển, khu công nghiệp và những trung tâm kinh tế trong vùng.

Trong lĩnh vực hàng không, dự án Nhà ga hàng hóa Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng đang được triển khai theo tiến độ. Đây là hạng mục cần thiết để bổ sung năng lực vận chuyển hàng hóa có giá trị cao, yêu cầu thời gian giao nhận ngắn và kết nối với thị trường trong nước, quốc tế. Khi được phối hợp với cảng biển, đường bộ và hệ thống logistics, hạ tầng hàng không có thể góp phần đa dạng hóa phương thức vận tải, giảm sự phụ thuộc vào một loại hình kết nối và nâng cao tính linh hoạt của chuỗi cung ứng.

Bên cạnh các công trình giao thông đối ngoại, hạ tầng quản trị đô thị đang được chú trọng. Hệ thống giám sát, điều khiển giao thông thông minh đã cơ bản hoàn thành và được vận hành thử, tạo điều kiện theo dõi lưu lượng, điều tiết giao thông và xử lý tình huống trên cơ sở dữ liệu. Các nghiên cứu đầu tư tuyến đường sắt đô thị Đà Nẵng – Quảng Nam và tuyến đường sắt đô thị số 2 tiếp tục được triển khai, hướng đến bổ sung phương thức vận tải công cộng có sức chở lớn và hỗ trợ tổ chức lại không gian đô thị trong dài hạn.

Hạ tầng môi trường giữ vai trò bảo đảm sức chịu tải của quá trình phát triển. Hạng mục thuộc dự án đầu tư, nâng cấp, cải tạo Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Khánh Sơn giai đoạn 2 đã hoàn thành, bàn giao và đang thực hiện các bước lựa chọn đơn vị vận hành. Việc đầu tư công trình xử lý chất thải cùng với mở rộng giao thông, công nghiệp và đô thị cho thấy tăng trưởng hạ tầng phải đi đôi với năng lực kiểm soát những áp lực phát sinh đối với môi trường và chất lượng sống.

Nhìn trong tổng thể, các công trình trên thực hiện những chức năng bổ trợ: cảng biển củng cố cửa ngõ hàng hải; đường bộ tăng kết nối liên vùng; nhà ga hàng hóa mở rộng phương thức vận chuyển; công nghệ giao thông nâng cao hiệu quả điều hành; đường sắt đô thị định hướng lại phương thức đi lại; hạ tầng xử lý chất thải bảo đảm điều kiện phát triển lâu dài. Việc phối hợp tiến độ và phương án khai thác giữa các cấu phần này sẽ quyết định mức độ chuyển hóa nguồn vốn đầu tư thành năng lực phát triển thực tế của Đà Nẵng.

III. ĐIỂM NGHẼN QUYẾT ĐỊNH TIẾN ĐỘ: GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG VÀ QUẢN TRỊ CHUỖI DỰ ÁN

Trong quá trình triển khai đầu tư công, nguồn vốn mới tạo ra điều kiện tài chính; khả năng chuyển nguồn lực đó thành khối lượng xây dựng lại phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng của dự án. Trong các điều kiện chuẩn bị, giải phóng mặt bằng (GPMB) thường nằm trên đường găng tiến độ, bởi sự chậm trễ ở khâu này có thể làm gián đoạn thiết kế, thi công, giải ngân và kế hoạch huy động thiết bị, nhân lực. Tại Đà Nẵng, quy mô công việc đang đặt ra yêu cầu quản trị lớn với 404 dự án cần GPMB, trải rộng trên 54 xã, phường và liên quan đến 46.928 hồ sơ. Riêng kế hoạch năm 2026 dự kiến xử lý khoảng 31.090 hồ sơ, cho thấy đây không còn là một thủ tục hỗ trợ mà đã trở thành một hợp phần trực tiếp của quản trị đầu tư.

Dưới góc độ kinh tế, một dự án dù đã được bố trí vốn, hoàn thành thiết kế và lựa chọn nhà thầu vẫn chưa thể tạo ra sản lượng nếu mặt bằng thi công chưa sẵn sàng. Vốn đầu tư khi đó mới tồn tại dưới dạng kế hoạch, trong khi doanh nghiệp xây dựng có thể phải duy trì máy móc và nhân lực chờ việc, làm gia tăng chi phí và ảnh hưởng đến tiến độ chung. Bởi vậy, thúc đẩy giải ngân cần bắt đầu từ việc nâng cao mức độ sẵn sàng của dự án, thay vì tập trung chủ yếu vào khâu thanh toán khi những điều kiện đầu vào chưa được giải quyết đầy đủ.

Tuy nhiên, GPMB không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật hay tiến độ. Quá trình này tác động trực tiếp đến quyền sử dụng đất, tài sản, nơi ở và sinh kế của người dân. Hiệu quả thực hiện vì thế phụ thuộc vào tính rõ ràng của phương án bồi thường, sự thống nhất trong áp dụng chính sách, tiến độ bố trí tái định cư và khả năng giải quyết kiến nghị ngay từ cơ sở. Thông tin cần được cung cấp đầy đủ, phương án phải được giải thích dễ hiểu và những trường hợp có hoàn cảnh khác nhau cần được xem xét trên cơ sở quy định pháp luật. Khi quyền và lợi ích chính đáng của người dân được bảo đảm, mức độ đồng thuận xã hội sẽ trở thành một yếu tố hỗ trợ tiến độ, thay vì bị nhìn nhận như vấn đề tách rời khỏi dự án.

Quy mô GPMB lớn cũng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa trung tâm phát triển quỹ đất, chính quyền cấp xã, chủ đầu tư, ban quản lý dự án và các cơ quan chuyên môn. Nếu mỗi đơn vị chỉ theo dõi phần việc của mình, tiến độ chung dễ bị chia cắt thành những thủ tục rời rạc. Một hồ sơ đã hoàn thành kiểm đếm nhưng chậm xác định nguồn gốc đất, hoặc một khu vực đã phê duyệt phương án nhưng chưa có quỹ tái định cư phù hợp, đều có thể làm gián đoạn toàn bộ chuỗi thực hiện. Vì vậy, cần xác định rõ đầu mối điều phối, trách nhiệm xử lý và thời hạn hoàn thành đối với từng nhóm hồ sơ, nhất là tại các dự án động lực có phạm vi ảnh hưởng lớn.

Từ yêu cầu đó, quản trị dự án cần chuyển từ theo dõi từng thủ tục sang kiểm soát một chuỗi phụ thuộc lẫn nhau: mặt bằng – thiết kế – vật liệu – thi công – nghiệm thu – giải ngân. Mỗi khâu phải có mốc hoàn thành, chủ thể chịu trách nhiệm và cơ chế cảnh báo sớm khi xuất hiện nguy cơ chậm tiến độ. Việc theo dõi cần tập trung vào đường găng của dự án, tức những công việc mà sự chậm trễ sẽ trực tiếp kéo dài thời gian hoàn thành chung. Cách tiếp cận này giúp cơ quan quản lý ưu tiên xử lý đúng điểm nghẽn, thay vì dàn đều nguồn lực cho tất cả thủ tục.

Công nghệ số có thể hỗ trợ quá trình điều phối thông qua hệ thống dữ liệu dùng chung về hồ sơ đất đai, tiến độ thiết kế, tình trạng bàn giao mặt bằng, khối lượng thi công và giải ngân. Một bảng điều hành cập nhật theo thời gian thực sẽ giúp nhận diện khu vực chậm bàn giao, gói thầu có nguy cơ thiếu vật liệu hoặc hạng mục đang lệch khỏi kế hoạch. Dữ liệu thống nhất cũng hạn chế tình trạng các đơn vị sử dụng những báo cáo khác nhau, đồng thời tạo cơ sở để đánh giá trách nhiệm và điều chỉnh nguồn lực kịp thời.

Dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 14D minh họa cho cách tổ chức các công đoạn có quan hệ chặt chẽ. Dự án được thực hiện theo hợp đồng EC, kết hợp thiết kế và thi công trong cùng một cấu trúc hợp đồng. Sau khi khởi công, ban quản lý dự án tập trung lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công; song song với đó, nhà thầu huy động nhân lực, máy móc và triển khai công tác bảo đảm giao thông trên toàn tuyến. Việc tổ chức đồng thời những công việc đủ điều kiện thực hiện có thể rút ngắn thời gian chờ và duy trì tính liên tục của quá trình thi công. Dù vậy, triển khai song song phải dựa trên hồ sơ được kiểm soát, phạm vi công việc rõ ràng và sự phối hợp chặt chẽ giữa thiết kế, giám sát và thi công, tránh để yêu cầu tiến độ làm phát sinh điều chỉnh hoặc rủi ro kỹ thuật về sau.

Giải quyết điểm nghẽn mặt bằng và nâng cao năng lực quản trị chuỗi dự án vì thế là hai nhiệm vụ có quan hệ trực tiếp. Mặt bằng tạo điều kiện để công trường được mở; cơ chế điều phối giúp các nguồn lực sau đó được huy động đúng thời điểm và đúng nhu cầu. Khi toàn bộ chuỗi công việc được quản lý trên cùng một tiến độ tổng thể, tốc độ thực hiện sẽ hình thành từ chất lượng tổ chức, thay vì chỉ dựa vào áp lực thúc đẩy ở từng khâu riêng lẻ.

IV. TĂNG TỐC CÓ KIỂM SOÁT: TỪ CHỈ SỐ GIẢI NGÂN ĐẾN HIỆU QUẢ SAU ĐẦU TƯ

Trong quản lý đầu tư công, tỷ lệ giải ngân là một chỉ báo quan trọng, phản ánh mức độ chuyển kế hoạch vốn thành khối lượng thực hiện và khả năng tổ chức của chủ đầu tư. Năm 2026, Đà Nẵng đã phân bổ chi tiết 100% kế hoạch vốn đầu tư công, tạo điều kiện để các đơn vị chủ động xây dựng tiến độ và triển khai nhiệm vụ. Tuy nhiên, phân bổ đủ vốn chưa đồng nghĩa với nguồn lực đã được sử dụng hiệu quả; giải ngân nhanh cũng chưa tự động bảo đảm chất lượng và tác động phát triển của dự án.

Đánh giá kết quả đầu tư vì vậy cần được thực hiện theo nhiều cấp độ. Ở cấp độ đầu vào là khả năng bố trí vốn, đất đai, vật liệu và nhân lực. Cấp độ thực hiện phản ánh tiến độ thi công, tỷ lệ giải ngân và mức độ hoàn thành các mốc hợp đồng. Cấp độ đầu ra xem xét công trình có đạt công suất, chất lượng và yêu cầu kỹ thuật đã được phê duyệt hay không. Sau cùng là hiệu quả kinh tế – xã hội thể hiện qua mức độ cải thiện dịch vụ, giảm chi phí, nâng cao năng lực phục vụ và tạo điều kiện cho các hoạt động phát triển mới. Cách đánh giá này giúp tránh tình trạng lấy một chỉ tiêu tài chính thay thế cho toàn bộ kết quả của dự án.

Tăng tốc có kiểm soát trước hết phải bảo đảm sự cân bằng giữa thời gian, chi phí và chất lượng. Rút ngắn tiến độ hợp lý là giảm thời gian chờ, hạn chế thủ tục trùng lặp, chuẩn bị sớm nguồn lực và tổ chức phối hợp hiệu quả hơn. Những yêu cầu về khảo sát, thiết kế, kiểm định, an toàn lao động, bảo vệ môi trường và sự phù hợp với quy hoạch vẫn phải được thực hiện đầy đủ. Nếu tiến độ được cải thiện bằng cách giản lược các bước kiểm soát cần thiết, chi phí sửa chữa, điều chỉnh hoặc khắc phục sau này có thể lớn hơn lợi ích đạt được từ việc hoàn thành sớm.

Bên cạnh chất lượng xây dựng, mức độ sẵn sàng vận hành cần được chuẩn bị ngay trong quá trình thực hiện dự án. Một công trình có thể hoàn tất về mặt kỹ thuật nhưng chưa khai thác được nếu còn thiếu quy trình vận hành, nhân sự, nguồn kinh phí bảo trì, hệ thống kết nối hoặc thủ tục nghiệm thu chuyên ngành. Vì vậy, kế hoạch đưa công trình vào sử dụng phải được xây dựng đồng thời với kế hoạch thi công. Chủ thể quản lý sau đầu tư cần tham gia từ sớm để tiếp nhận công nghệ, chuẩn bị nhân lực và kiểm tra những điều kiện phục vụ vận hành.

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá cũng cần được thiết kế phù hợp với chức năng của từng loại công trình. Đối với đường giao thông, có thể theo dõi thời gian di chuyển, lưu lượng, mức độ giảm ùn tắc và khả năng kết nối với các tuyến chính. Với cảng biển và nhà ga hàng hóa, những chỉ số như sản lượng thông qua, thời gian xử lý hàng hóa và mức độ phát triển dịch vụ hỗ trợ phản ánh rõ hơn hiệu quả khai thác. Đối với giao thông thông minh, kết quả cần thể hiện ở năng lực phát hiện, điều tiết và xử lý tình huống. Với công trình môi trường, yêu cầu vận hành ổn định và đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật phải được đặt ở vị trí trung tâm. Các chỉ tiêu này cần được xác định từ giai đoạn chuẩn bị dự án để tạo cơ sở đánh giá sau khi công trình đi vào hoạt động.

Cùng với giám sát tiến độ, công tác kiểm tra chất lượng, quản lý chi phí và công khai thông tin cần được duy trì trong suốt vòng đời dự án. Dữ liệu về khối lượng hoàn thành, điều chỉnh thiết kế, phát sinh chi phí, kết quả nghiệm thu và tình trạng vận hành giúp cơ quan quản lý nhận diện sớm những chênh lệch giữa kế hoạch và thực tế. Đây cũng là cơ sở để rút kinh nghiệm cho các dự án tiếp theo, nâng cao trách nhiệm giải trình và hạn chế tình trạng đánh giá hiệu quả chủ yếu tại thời điểm công trình khánh thành.

Thước đo của tăng tốc, vì thế, không nằm riêng ở tỷ lệ giải ngân hoặc thời điểm hoàn thành. Một dự án đạt hiệu quả khi được thực hiện đúng pháp luật, kiểm soát tốt chất lượng và chi phí, sẵn sàng vận hành sau khi bàn giao và tạo ra kết quả phù hợp với mục tiêu đầu tư. Khi tiến độ được đặt trong hệ thống tiêu chí đó, yêu cầu đẩy nhanh công trình sẽ trở thành động lực cải thiện năng lực quản trị, thay vì tạo áp lực rút ngắn quy trình bằng mọi giá.

V. KHƠI THÔNG KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN: ĐÍCH ĐẾN CỦA QUÁ TRÌNH TĂNG TỐC

Tác động sâu hơn của đầu tư hạ tầng nằm ở khả năng làm thay đổi “khoảng cách kinh tế” giữa các khu vực. Khoảng cách này không được đo đơn thuần bằng số kilômét, mà còn thể hiện qua thời gian di chuyển, chi phí vận tải, mức độ thuận tiện trong tiếp cận dịch vụ và khả năng tham gia thị trường. Khi những rào cản đó được thu hẹp, doanh nghiệp có thêm lựa chọn về địa điểm sản xuất, người lao động mở rộng phạm vi tìm kiếm việc làm, còn các khu vực trước đây gặp hạn chế về kết nối có điều kiện tham gia sâu hơn vào hoạt động kinh tế của thành phố.

Đối với Đà Nẵng, hệ thống hạ tầng đang được đầu tư có thể góp phần tái định hình quan hệ giữa đô thị trung tâm với khu vực phía Tây, không gian ven biển, các khu công nghiệp, trung tâm dịch vụ và những địa bàn còn dư địa phát triển. Cảng biển và các tuyến giao thông đối ngoại củng cố vai trò cửa ngõ; đường bộ liên vùng mở rộng phạm vi tiếp cận; hàng không hỗ trợ những hoạt động có yêu cầu cao về tốc độ; giao thông đô thị điều tiết dòng di chuyển bên trong; hạ tầng môi trường bảo đảm sức chịu tải của quá trình đô thị hóa. Sự phối hợp giữa các cấu phần này tạo điều kiện để hoạt động kinh tế được phân bố hợp lý hơn, giảm áp lực tập trung quá mức vào một số khu vực và từng bước hình thành cấu trúc phát triển đa trung tâm.

Tuy nhiên, hạ tầng chỉ mở ra điều kiện tiếp cận; hướng phát triển sau đó còn phụ thuộc vào quy hoạch sử dụng đất, phân bố dân cư, tổ chức dịch vụ công và chính sách thu hút đầu tư. Một tuyến giao thông mới có thể làm gia tăng giá trị đất đai và thúc đẩy hoạt động xây dựng dọc hành lang, nhưng nếu thiếu kiểm soát quy hoạch, quá trình phát triển có thể diễn ra tự phát, làm tăng áp lực lên giao thông, môi trường và hạ tầng xã hội. Vì vậy, tiến độ xây dựng công trình cần được phối hợp với kế hoạch phát triển đô thị, nhà ở, trường học, cơ sở y tế, cấp thoát nước và không gian công cộng.

Đây cũng là lý do cần chuyển từ quản lý ranh giới dự án sang quản trị vùng ảnh hưởng của dự án. Trước khi công trình đi vào khai thác, cơ quan quản lý cần nhận diện những thay đổi có thể phát sinh đối với sử dụng đất, mật độ dân cư, nhu cầu giao thông và khả năng cung cấp dịch vụ tại khu vực liên quan. Những khu vực có điều kiện hình thành trung tâm logistics, cụm dịch vụ hoặc điểm kết nối vận tải cần được chuẩn bị quỹ đất và hạ tầng hỗ trợ phù hợp. Đối với khu vực phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng, có thể nghiên cứu cách tổ chức mật độ xây dựng và chức năng sử dụng đất theo định hướng phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng, phù hợp với điều kiện cụ thể của thành phố.

Sự gia tăng giá trị đất đai và hoạt động kinh tế xung quanh công trình cũng đặt ra yêu cầu khai thác hợp lý nguồn lực hình thành từ đầu tư hạ tầng. Trên cơ sở pháp luật, thành phố có thể nghiên cứu các công cụ tạo nguồn thu từ quỹ đất, đấu giá quyền sử dụng đất hoặc hợp tác đầu tư tại những khu vực được hưởng lợi trực tiếp từ kết nối mới. Nguồn lực thu được nếu được tái đầu tư cho giao thông, tái định cư, hạ tầng xã hội và môi trường sẽ góp phần hình thành một chu trình phát triển có khả năng tự bổ sung nguồn lực, giảm áp lực phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước.

Khơi thông không gian phát triển đồng thời phải gắn với yêu cầu phân bổ tương đối hài hòa lợi ích từ đầu tư. Hạ tầng cần cải thiện điều kiện tiếp cận của người dân tại khu vực nông thôn, miền núi và những địa bàn còn hạn chế về giao thông, dịch vụ; tránh để lợi ích chủ yếu tập trung tại những nơi đã có điều kiện phát triển thuận lợi. Khi người dân tiếp cận việc làm, giáo dục, y tế và thị trường dễ dàng hơn, tác động của công trình sẽ được chuyển hóa thành sự cải thiện cụ thể trong đời sống, tạo nền tảng xã hội cho tăng trưởng dài hạn.

Ở quy mô vùng, việc hoàn thiện các đầu mối và hành lang giao thông sẽ tăng cường liên kết giữa Đà Nẵng với khu vực miền Trung – Tây Nguyên, các cảng biển, cửa khẩu và hành lang kinh tế quốc tế. Vị trí trung tâm của Đà Nẵng chỉ có thể phát huy đầy đủ khi thành phố thực hiện hiệu quả chức năng kết nối và cung cấp dịch vụ cho một không gian kinh tế rộng hơn. Vì vậy, hiệu quả của công trình động lực cần được nhìn nhận đồng thời ở ba cấp độ: cải thiện hoạt động bên trong thành phố, mở rộng quan hệ với các địa phương lân cận và nâng cao vị trí của Đà Nẵng trong mạng lưới giao thương quốc gia, quốc tế.

Khơi thông không gian phát triển, xét đến cùng, là quá trình chuyển lợi thế về vị trí và hạ tầng thành những cơ hội có thể tiếp cận được đối với doanh nghiệp và người dân. Đích đến của tăng tốc không phải là mở rộng xây dựng theo mọi hướng, mà là định hình một cấu trúc phát triển có trọng tâm, kết nối thuận lợi, sử dụng đất hiệu quả và duy trì được các điều kiện về xã hội, môi trường. Khi hạ tầng dẫn dắt đúng hướng phân bố nguồn lực, mỗi công trình sẽ trở thành một bộ phận của chiến lược phát triển thành phố, thay vì chỉ là một tài sản xây dựng riêng lẻ.

VI. KẾT LUẬN

Tăng tốc các công trình động lực là yêu cầu cần thiết để Đà Nẵng sớm bổ sung năng lực hạ tầng và tạo thêm dư địa phát triển. Tuy nhiên, tốc độ chỉ có ý nghĩa khi được hình thành từ chất lượng chuẩn bị dự án, sự chủ động trong giải phóng mặt bằng, năng lực điều phối thi công và cơ chế kiểm soát hiệu quả sau đầu tư. Giải ngân, hoàn thành xây dựng và đưa công trình vào vận hành vì thế phải được xem là những khâu liên tiếp trong cùng một quá trình quản trị.

Khi mỗi dự án được đặt đúng vị trí trong quy hoạch và phối hợp với các cấu phần liên quan, vốn đầu tư sẽ tạo lập tài sản hạ tầng, đồng thời mở rộng dòng lưu chuyển hàng hóa, con người, vốn và tri thức. Khả năng chuyển những dòng lưu chuyển đó thành việc làm, dịch vụ, đầu tư và chất lượng sống chính là thước đo thực chất của công trình động lực. Đây là nền tảng để Đà Nẵng chuyển tiến độ xây dựng thành năng lực phát triển và chuyển lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng bền vững.

ThS, Trần Hải Nam