24/08/2026 lúc 10:53 (GMT+7)
Breaking News

Liên kết vùng: Từ kết nối nguồn lực đến nâng tầm năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

Trong một nền kinh tế ngày càng vận hành theo chuỗi, lợi thế của một địa phương hay một doanh nghiệp không còn được quyết định chỉ bởi quy mô nguồn lực riêng lẻ. Giá trị cạnh tranh ngày càng phụ thuộc vào khả năng kết nối hạ tầng, logistics, vùng nguyên liệu, doanh nghiệp, công nghệ, dữ liệu và thị trường thành một hệ sinh thái thống nhất. Thực tiễn khu vực phía Nam cho thấy, thúc đẩy liên kết vùng đang đứng trước yêu cầu chuyển từ “kết nối địa lý” sang “kết nối chuỗi giá trị”, qua đó mở rộng không gian phát triển và tạo nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp vị thế trong chuỗi cung ứng.

Liên kết vùng đã nâng tầm năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao. Ảnh minh họa - TL

Từ lợi thế phân tán đến sức mạnh của một hệ sinh thái

Liên kết vùng từ lâu đã được xác định là một trong những động lực quan trọng để khai thác hiệu quả nguồn lực và tổ chức lại không gian phát triển. Tuy nhiên, trong thực tiễn, khái niệm này không ít khi được tiếp cận chủ yếu từ góc độ đầu tư hạ tầng, quy hoạch hay kết nối giao thông. Những yếu tố đó là điều kiện cần, nhưng chưa đủ để tạo ra một hệ sinh thái kinh tế có sức cạnh tranh cao.

Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026 - phiên bàn tròn khu vực phía Nam diễn ra ngày 21/8 tại TPHCM, các đại biểu đã đặt vấn đề theo hướng rộng hơn: khu vực phía Nam không thiếu nguồn lực, mà thách thức lớn nằm ở khả năng tổ chức, kết nối và chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, thị trường và năng lực cạnh tranh thực chất của doanh nghiệp.

Đây cũng chính là điểm cần nhìn nhận lại trong tư duy phát triển vùng. Một cảng biển hiện đại sẽ khó phát huy tối đa hiệu quả nếu thiếu hệ thống đường bộ, đường sắt, trung tâm logistics và mạng lưới doanh nghiệp cung ứng tương ứng. Một vùng nguyên liệu lớn cũng chưa thể tạo ra giá trị cao nếu thiếu công nghệ sơ chế, chế biến, kiểm nghiệm, kho lạnh, logistics và hệ thống phân phối. Tương tự, sự hiện diện của các tập đoàn FDI chỉ thực sự tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh khi doanh nghiệp trong nước đủ năng lực tham gia sâu vào chuỗi cung ứng.

Vì vậy, liên kết vùng cần được nhìn nhận như một phương thức tổ chức lại các nguồn lực kinh tế. Từ chỗ mỗi địa phương khai thác lợi thế riêng, mục tiêu cao hơn là tạo ra sự bổ trợ giữa các lợi thế ấy để hình thành chuỗi giá trị có tính liên hoàn.

Ở phía Nam, sự bổ trợ này thể hiện khá rõ. TPHCM có lợi thế về tài chính, thương mại, công nghệ và kết nối thị trường; Đồng Nai có thế mạnh về công nghiệp chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics; Tây Ninh có vị trí cửa ngõ thương mại xuyên biên giới; trong khi Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nguyên liệu lớn về nông nghiệp, thủy sản, năng lượng và kinh tế biển. Nếu những lợi thế này được tổ chức thành một hệ sinh thái thống nhất, giá trị tạo ra sẽ lớn hơn nhiều so với tổng giá trị của từng địa phương hoạt động riêng lẻ.

Đây là sự chuyển đổi quan trọng trong tư duy phát triển: từ “địa phương có gì” sang “chuỗi giá trị cần gì”; từ cạnh tranh giữa các địa phương sang bổ trợ lẫn nhau; từ hỗ trợ từng doanh nghiệp sang xây dựng môi trường để nhiều doanh nghiệp cùng nâng cấp.

Đối với cộng đồng doanh nghiệp, thay đổi này có ý nghĩa trực tiếp. Khi không gian thị trường được mở rộng, doanh nghiệp có thêm cơ hội tiếp cận nguồn nguyên liệu, nhà cung ứng, nhân lực, công nghệ và khách hàng. Khi các dịch vụ dùng chung được hình thành, chi phí đầu tư và vận hành có thể giảm. Quan trọng hơn, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tham gia vào những chuỗi sản xuất mà nếu hoạt động độc lập, họ khó có khả năng tiếp cận.

Do đó, liên kết vùng không đơn thuần là câu chuyện của các cơ quan quản lý địa phương. Đây phải trở thành một chiến lược phát triển của chính doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và các doanh nghiệp đầu chuỗi.

Logistics và chuỗi cung ứng: “mạch máu” của liên kết vùng

Nếu liên kết chuỗi giá trị là mục tiêu thì logistics chính là một trong những hạ tầng quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu đó.

Thực tế cho thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ được quyết định tại nhà máy. Chi phí và thời gian vận chuyển nguyên liệu, khả năng lưu kho, kết nối cảng biển, sân bay, cửa khẩu, trung tâm phân phối và khả năng theo dõi hàng hóa đều tác động trực tiếp đến giá thành, thời gian giao hàng và khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tác động này càng rõ. Một doanh nghiệp có sản phẩm đạt tiêu chuẩn nhưng không bảo đảm năng lực cung ứng ổn định, không kiểm soát được truy xuất nguồn gốc hoặc phải chịu chi phí logistics quá cao sẽ khó có thể trở thành nhà cung ứng cho các chuỗi phân phối lớn hay tập đoàn đa quốc gia.

Tại diễn đàn, TS. Trần Du Lịch chỉ ra rằng sự kết nối giữa cảng biển, sân bay, đường bộ, đường sắt, kho bãi và trung tâm phân phối ở Đông Nam Bộ chưa thật sự đồng bộ. Điều này làm tăng chi phí và hạn chế khả năng doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Bài toán đặt ra vì thế không chỉ là xây thêm một công trình giao thông hay một trung tâm logistics. Quan trọng hơn là xây dựng một mạng lưới logistics tích hợp cấp vùng.

Trong cấu trúc đó, Cái Mép - Thị Vải có thể phát huy vai trò cửa ngõ xuất nhập khẩu quốc tế; sân bay Long Thành trở thành đầu mối logistics hàng không; hệ thống vành đai, cao tốc, đường sắt kết nối khu công nghiệp với cảng biển và sân bay; cùng với đó là các trung tâm logistics, kho ngoại quan, kho lạnh và trung tâm phân phối hiện đại.

Một bước tiến quan trọng khác là logistics số. Khi dữ liệu được chia sẻ và kết nối giữa doanh nghiệp sản xuất, vận tải, cảng biển, kho bãi và cơ quan quản lý, quá trình vận chuyển hàng hóa có thể được giám sát xuyên suốt. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả vận hành mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của các chuỗi cung ứng hiện đại.

Định hướng này phù hợp với yêu cầu phát triển logistics của Việt Nam trong giai đoạn mới, trong đó thúc đẩy liên kết vùng, nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh được xác định là những nhóm nhiệm vụ quan trọng.

Ở góc độ doanh nghiệp, logistics vì thế không nên được xem đơn thuần là khoản chi phí phải tối ưu. Trong nền kinh tế chuỗi, logistics đang trở thành một năng lực cạnh tranh.

Một doanh nghiệp có khả năng giao hàng nhanh hơn, kiểm soát tồn kho tốt hơn, truy xuất hàng hóa chính xác hơn và giảm phát thải trong vận chuyển sẽ có lợi thế lớn hơn trong đàm phán với khách hàng. Với doanh nghiệp xuất khẩu, đây còn là điều kiện để đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe về tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng.

Nói cách khác, muốn có chuỗi giá trị hiệu quả phải có chuỗi logistics tương ứng. Và muốn doanh nghiệp Việt Nam đi sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, năng lực logistics của từng doanh nghiệp phải được đặt trong năng lực logistics chung của cả vùng.

Doanh nghiệp đầu chuỗi dẫn dắt, Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp cùng nâng cấp

Một trong những vấn đề đáng chú ý nhất từ câu chuyện liên kết vùng là cần thay đổi cách thức hỗ trợ doanh nghiệp.

Nếu chính sách chỉ tập trung vào hỗ trợ từng doanh nghiệp, hiệu quả có thể bị giới hạn bởi quy mô và năng lực của chính doanh nghiệp đó. Ngược lại, nếu chính sách hướng tới xây dựng hệ sinh thái, tạo kết nối giữa doanh nghiệp đầu chuỗi với doanh nghiệp nhỏ và vừa, giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức logistics và thị trường, tác động lan tỏa sẽ lớn hơn.

Thực tế tại diễn đàn cho thấy một mô hình đáng chú ý là “doanh nghiệp đầu chuỗi dẫn dắt - Nhà nước hỗ trợ - doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia”. Trong đó, nhu cầu thị trường và đơn hàng thực tế được đặt làm điểm xuất phát để hình thành mạng lưới nhà cung ứng, thay vì chỉ bắt đầu từ việc mỗi địa phương đang có sản phẩm gì.

Đây là cách tiếp cận có ý nghĩa đặc biệt đối với doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI.

Một trong những hạn chế hiện nay là nhiều doanh nghiệp nội địa mới dừng ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp. Muốn thay đổi vị trí, doanh nghiệp phải từng bước nâng cấp từ gia công, cung ứng đơn giản lên các khâu có hàm lượng công nghệ và quản trị cao hơn như thiết kế, kiểm định, quản trị dữ liệu, phát triển sản phẩm và quản trị chuỗi.

Điều đó đòi hỏi không chỉ vốn mà còn cả năng lực công nghệ, nhân lực, quản trị chất lượng và khả năng tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế.

Vì vậy, bài toán phát triển doanh nghiệp không thể tách rời bài toán phát triển hệ sinh thái. Một doanh nghiệp nhỏ sẽ khó tự mình đầu tư phòng kiểm nghiệm, kho lạnh, hệ thống dữ liệu hay trung tâm logistics. Nhưng nếu những dịch vụ này được tổ chức dưới dạng hạ tầng và dịch vụ dùng chung của vùng, rào cản gia nhập chuỗi sẽ được giảm đáng kể. Tương tự, doanh nghiệp nhỏ sẽ có cơ hội nâng cao năng lực nếu được doanh nghiệp đầu chuỗi đặt hàng, hướng dẫn tiêu chuẩn và hỗ trợ cải tiến quy trình.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp đầu chuỗi cũng được hưởng lợi khi có mạng lưới nhà cung ứng nội địa ổn định, giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và rút ngắn chuỗi logistics.

Vai trò của Nhà nước trong mô hình này vì thế cần được xác định rõ là kiến tạo và kết nối. Nhà nước tập trung vào hạ tầng, dữ liệu, tiêu chuẩn, thể chế, môi trường cạnh tranh bình đẳng và cơ chế điều phối vùng; doanh nghiệp quyết định đầu tư, tổ chức sản xuất và cạnh tranh trên thị trường.

Đặc biệt, cơ chế điều phối cần vượt qua ranh giới địa giới hành chính. Một chuỗi sản xuất không vận hành theo địa giới. Một doanh nghiệp ở TPHCM có thể lấy nguyên liệu từ Đồng bằng sông Cửu Long, sử dụng linh kiện từ Đồng Nai, đưa hàng qua cảng biển và tiếp cận thị trường quốc tế. Nếu từng chính sách hỗ trợ, dữ liệu, xúc tiến đầu tư và logistics vẫn được thiết kế hoàn toàn theo từng địa phương, chi phí liên kết sẽ còn lớn và cơ hội cộng hưởng sẽ bị hạn chế.

Do đó, điều cần thiết là xây dựng những cơ chế liên kết thực chất, gắn với ngành hàng, sản phẩm và đơn hàng cụ thể. Liên kết chỉ có ý nghĩa khi tạo ra kết quả có thể đo lường: có thêm nhà cung ứng đạt chuẩn, có thêm hợp đồng được ký kết, giá trị đơn hàng tăng lên, thời gian giao hàng rút ngắn, chi phí logistics giảm xuống và doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Đây cũng là thước đo quan trọng để tránh tình trạng liên kết vùng chỉ dừng ở các chương trình, hội nghị hay biên bản hợp tác mà chưa tạo ra chuyển biến thực chất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới nâng cao năng suất, đổi mới mô hình tăng trưởng và tăng cường vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, liên kết vùng cần được đặt trong một tầm nhìn dài hạn hơn. Chương trình quốc gia về tăng năng suất lao động cũng xác định phát triển vùng và liên kết vùng hiệu quả là một trong những hướng quan trọng để phát huy lợi thế cạnh tranh và nâng cao năng suất ở các tiểu vùng, địa phương.

Điều đó cho thấy, liên kết vùng và nâng cao năng lực doanh nghiệp thực chất là hai mặt của cùng một quá trình. Không có doanh nghiệp đủ mạnh, liên kết vùng khó tạo ra giá trị. Nhưng nếu thiếu một hệ sinh thái vùng hiệu quả, doanh nghiệp riêng lẻ cũng khó phát huy hết tiềm năng.

Trong giai đoạn phát triển mới, khi không gian kinh tế ngày càng được mở rộng và các chuỗi cung ứng đang tái cấu trúc mạnh mẽ, cơ hội của Việt Nam không chỉ nằm ở việc thu hút thêm nguồn vốn hay mở rộng hạ tầng. Quan trọng hơn là khả năng biến những nguồn lực phân tán thành sức mạnh cộng hưởng.

Với khu vực phía Nam, đây là thời điểm thuận lợi để chuyển từ tư duy “liên kết để cùng phát triển” sang “liên kết để cùng nâng cấp năng lực cạnh tranh”. TPHCM, Đồng Nai, Tây Ninh và Đồng bằng sông Cửu Long, cùng các không gian kinh tế lân cận, có thể tạo nên một hệ sinh thái mà trong đó mỗi địa phương phát huy một lợi thế, mỗi doanh nghiệp đảm nhận một mắt xích và toàn vùng cùng hướng tới những thị trường lớn hơn.

Khi đó, liên kết vùng không còn là câu chuyện của những tuyến đường nối các địa phương, mà trở thành những dòng chảy liên tục của hàng hóa, dữ liệu, vốn, công nghệ, nhân lực và tri thức.

Và khi những dòng chảy ấy được tổ chức hiệu quả, lợi thế địa lý mới có thể chuyển hóa thành năng suất; năng suất chuyển thành năng lực cạnh tranh; còn năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp sẽ cộng hưởng thành sức mạnh của cả vùng và nền kinh tế.

Đó chính là bước chuyển cần thiết để kinh tế tư nhân Việt Nam không chỉ “tham gia” vào chuỗi giá trị, mà từng bước nâng cấp vị trí và trở thành một mắt xích có năng lực dẫn dắt trong các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

ThS Bùi Tuấn Hùng

Tài liệu tham khảo:

  1. Báo Điện tử Chính phủ, Thúc đẩy liên kết vùng, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, ngày 22/8/2026.
  2. Báo Điện tử Chính phủ, Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến 2050.
  3. Báo Điện tử Chính phủ, Phê duyệt Chương trình quốc gia về tăng năng suất lao động.
  4. Báo Điện tử Chính phủ, Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/4/2026.