Tóm tắt: Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng trở thành động lực trực tiếp của tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia, hiệu quả sử dụng ngân sách dành cho các lĩnh vực này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Số liệu đến ngày 26/10/2026 cho thấy tỷ lệ giải ngân kinh phí khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên cả nước mới đạt 41,18%; riêng khối địa phương đạt 38,49%. Thực trạng này đặt ra yêu cầu nhìn nhận giải ngân không chỉ là vấn đề tiến độ tài chính, mà còn phản ánh năng lực quản trị nhiệm vụ, chất lượng thể chế thực thi, khả năng hấp thụ công nghệ và mức độ gắn kết giữa nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn. Bài viết phân tích những nguyên nhân chủ yếu, làm rõ yêu cầu chuyển đổi từ quản lý đầu vào sang quản trị theo kết quả đầu ra, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách, nâng cao trách nhiệm giải trình, thúc đẩy hợp tác công – tư và xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả đầu tư khoa học, công nghệ theo hướng thực chất, minh bạch và có khả năng đo lường.
Từ khóa: Khoa học và công nghệ; đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; giải ngân ngân sách; quản trị theo kết quả; hiệu quả đầu tư công.
Abstract: As science and technology, innovation, and digital transformation increasingly become direct drivers of economic growth and national competitiveness, the effective use of public funding in these areas is of particular importance. Data as of October 26, 2026, indicate that the national disbursement rate for science and technology, innovation, and digital transformation funding stood at 41.18%, while the rate for local governments was 38.49%. This situation calls for a broader understanding of public expenditure, extending beyond financial disbursement schedules to encompass research governance, institutional implementation capacity, technological absorption, and the connection between research activities and practical needs. This article examines the main causes of slow disbursement, discusses the transition from input-based administration to outcome-oriented governance, and proposes measures to improve budget allocation, strengthen accountability, promote public–private partnerships, and establish a transparent, measurable framework for evaluating the effectiveness of public investment in science, technology, innovation, and digital transformation.
Keywords: Science and technology; innovation; digital transformation; budget disbursement; outcome-based governance; public investment efficiency.
![]()
Đổi mới quản trị nguồn lực khoa học, công nghệ: Từ giải ngân đến hiệu quả thực chất. Ảnh minh họa - TL
1. Đặt vấn đề: Khi nguồn lực lớn đòi hỏi hiệu quả tương xứng
Trong nền kinh tế hiện đại, năng lực cạnh tranh của một quốc gia ngày càng được quyết định bởi trình độ khoa học, công nghệ, khả năng đổi mới mô hình sản xuất, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực khai thác dữ liệu. Nếu trước đây vốn, lao động và tài nguyên thiên nhiên được xem là những yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế phát triển, thì ngày nay tri thức và công nghệ đang trở thành nguồn lực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mở rộng không gian tăng trưởng.
Đối với Việt Nam, yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ xuất phát từ xu hướng quốc tế mà còn gắn trực tiếp với mục tiêu nâng cao năng suất lao động, hiện đại hóa nền kinh tế, cải thiện hiệu quả quản trị quốc gia và tăng cường khả năng tự chủ công nghệ. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác lập định hướng đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tạo cơ sở chính trị quan trọng cho việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển.
Tuy nhiên, tăng nguồn lực mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là khả năng chuyển hóa nguồn vốn thành tri thức, công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và năng lực sản xuất mới. Một chương trình nghiên cứu được bố trí đủ kinh phí nhưng chậm triển khai; một dự án chuyển đổi số được phê duyệt nhưng chưa đưa vào vận hành; hay một đề tài có sản phẩm nghiệm thu nhưng không được doanh nghiệp tiếp nhận đều có thể làm giảm hiệu quả đầu tư công, dù các thủ tục tài chính có thể được thực hiện đầy đủ.
Vấn đề này được thể hiện rõ qua số liệu giải ngân kinh phí khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026. Theo thông tin tại Hội nghị trực tuyến do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức ngày 27/10/2026, tính đến ngày 26/10, tổng dự toán kinh phí được sử dụng trên cả nước đạt 52.680,28 tỷ đồng, trong đó số đã giải ngân là 21.693,48 tỷ đồng, tương đương 41,18%. Riêng khối địa phương có tổng dự toán 28.032,79 tỷ đồng, đã giải ngân 10.789,36 tỷ đồng, đạt 38,49%; số chưa giải ngân còn 17.243,43 tỷ đồng.
Những con số này không đơn thuần phản ánh tiến độ thực hiện dự toán. Chúng đặt ra một câu hỏi quan trọng hơn: Làm thế nào để mỗi đồng ngân sách đầu tư cho khoa học, công nghệ và chuyển đổi số thực sự tạo ra giá trị phát triển?
Đây cũng là thời điểm cần chuyển trọng tâm từ tư duy phân bổ và giải ngân nguồn lực sang tư duy quản trị hiệu quả đầu tư, trong đó tiến độ tài chính phải gắn với chất lượng thực hiện nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra và tác động cuối cùng đối với nền kinh tế, doanh nghiệp và người dân.
2. Tỷ lệ giải ngân thấp: Biểu hiện của những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện
2.1. Khoảng cách giữa nguồn lực được bố trí và năng lực hấp thụ
Tỷ lệ giải ngân 41,18% trên phạm vi cả nước cho thấy khối lượng kinh phí chưa được đưa vào thực hiện còn lớn tại thời điểm cuối tháng 10/2026. Riêng khối địa phương, tỷ lệ 38,49% thấp hơn mức chung, cho thấy yêu cầu cấp thiết phải rà soát năng lực tổ chức thực hiện tại từng địa bàn.
Tuy nhiên, cần tránh cách tiếp cận đồng nhất mọi trường hợp giải ngân chậm với sự yếu kém trong quản lý. Đặc thù của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khác với nhiều khoản chi đầu tư thông thường. Một nhiệm vụ nghiên cứu có thể cần thời gian hoàn thiện thuyết minh, lựa chọn tổ chức thực hiện, tuyển chọn chuyên gia, xây dựng phương án thử nghiệm và xác lập tiêu chí đánh giá. Một dự án chuyển đổi số lại phụ thuộc vào kiến trúc hệ thống, tiêu chuẩn dữ liệu, an toàn thông tin, khả năng tích hợp với nền tảng sẵn có và mức độ sẵn sàng của đơn vị sử dụng.
Nếu những công việc chuẩn bị này chưa hoàn tất, việc bố trí ngân sách sớm chưa chắc tạo ra khả năng giải ngân tương ứng. Ngược lại, nếu chỉ thúc ép tiến độ chi tiêu mà không bảo đảm điều kiện thực hiện, nguy cơ phát sinh các khoản chi thiếu hiệu quả sẽ tăng lên.
Do đó, năng lực hấp thụ vốn cần được nhìn nhận như một cấu phần của năng lực quản trị khoa học, công nghệ. Năng lực ấy bao gồm khả năng xác định đúng nhu cầu, xây dựng nhiệm vụ có mục tiêu rõ ràng, lựa chọn đơn vị đủ năng lực, hoàn thiện thủ tục kịp thời và tổ chức thực hiện theo một lộ trình khả thi.
Khoảng cách giữa dự toán và giải ngân vì vậy có thể phản ánh nhiều vấn đề: kế hoạch chưa sát thực tế; nhiệm vụ chưa sẵn sàng; quy trình phối hợp còn chậm; nguồn nhân lực quản lý chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu; hoặc việc phân bổ nguồn lực chưa gắn với khả năng triển khai của từng đơn vị. Muốn xử lý đúng, trước hết phải phân loại đúng nguyên nhân.
2.2. Sự khác biệt giữa các địa phương cho thấy vai trò của năng lực điều hành
Số liệu được công bố ngày 27/10/2026 cho thấy kết quả giải ngân có sự chênh lệch đáng kể giữa các địa phương. Có bảy địa phương đạt tỷ lệ từ 50% trở lên, gồm Thái Nguyên, Huế, Tuyên Quang, Cần Thơ, Quảng Trị, Khánh Hòa và Đà Nẵng. Huế đạt 65,21%, Tuyên Quang đạt 65,17%.
Xét về giá trị tuyệt đối, Thành phố Hồ Chí Minh giải ngân 2.711,87 tỷ đồng, Hà Nội đạt 2.035,14 tỷ đồng và Đà Nẵng đạt 697,70 tỷ đồng. Mười địa phương có số giải ngân lớn nhất chiếm 72,1% tổng giá trị giải ngân của khối địa phương.
Sự khác biệt này cho thấy tiến độ giải ngân không chỉ phụ thuộc vào quy mô ngân sách hoặc khuôn khổ pháp lý chung, mà còn chịu tác động từ cách thức tổ chức thực hiện tại mỗi địa phương.
Một địa phương có thể đạt kết quả tốt nhờ chuẩn bị nhiệm vụ sớm, phân công rõ trách nhiệm, duy trì cơ chế phối hợp giữa cơ quan khoa học và công nghệ với cơ quan tài chính, kho bạc và các đơn vị sử dụng ngân sách. Ngược lại, tình trạng chậm ban hành quy trình nội bộ, thiếu đầu mối chịu trách nhiệm hoặc phối hợp không đồng bộ có thể kéo dài thời gian thực hiện ngay cả khi nguồn vốn đã được bố trí.
Tuy nhiên, tỷ lệ giải ngân cao cũng chưa đủ để kết luận hiệu quả đầu tư cao. Cần xem xét đồng thời quy mô nhiệm vụ, tính chất công nghệ, sản phẩm đã hoàn thành, mức độ ứng dụng và tác động tạo ra. Một dự án nghiên cứu có chu kỳ dài không thể được đánh giá giống một nhiệm vụ mua sắm hoặc nâng cấp hạ tầng số.
Bởi vậy, so sánh địa phương cần hướng đến việc nhận diện mô hình quản trị tốt, thay vì chỉ xếp hạng theo tỷ lệ giải ngân. Những kinh nghiệm có thể nhân rộng là cơ chế chuẩn bị dự án, phương thức phối hợp, quy trình tháo gỡ vướng mắc và cách tổ chức đánh giá kết quả đầu ra.
2.3. Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần cơ chế triển khai phù hợp đặc thù
Theo số liệu tại hội nghị, tỷ lệ giải ngân của khối địa phương đạt 47,15% đối với khoa học và công nghệ, 27,54% đối với đổi mới sáng tạo và 30,23% đối với chuyển đổi số. Chi đầu tư phát triển đạt 43,78%, trong khi chi thường xuyên đạt 37,18%.
Sự chênh lệch giữa các lĩnh vực gợi mở yêu cầu phân tích sâu hơn về đặc điểm từng nhóm nhiệm vụ.
Đối với khoa học và công nghệ, quy trình tuyển chọn, giao nhiệm vụ, xác định nội dung nghiên cứu và triển khai thực nghiệm có thể tạo ra độ trễ nếu khâu chuẩn bị chưa đồng bộ. Với đổi mới sáng tạo, việc hỗ trợ doanh nghiệp còn phụ thuộc vào nhu cầu đổi mới công nghệ, khả năng đối ứng nguồn lực, mức độ sẵn sàng thương mại hóa và tính khả thi của phương án kinh doanh.
Trong khi đó, chuyển đổi số thường đòi hỏi phối hợp giữa nhiều đơn vị, tích hợp hệ thống và chuẩn hóa dữ liệu. Một dự án phần mềm có thể được triển khai nhanh về mặt kỹ thuật nhưng vẫn không đạt hiệu quả nếu quy trình nghiệp vụ chưa được cải tiến hoặc người sử dụng chưa sẵn sàng tiếp nhận.
Vì thế, không nên áp dụng một cách quản lý đồng nhất cho cả ba lĩnh vực. Cần thiết kế cơ chế theo đặc thù nhiệm vụ, trong đó các thủ tục được chuẩn hóa ở những khâu có thể chuẩn hóa, còn những nội dung cần thử nghiệm, nghiên cứu hoặc thích ứng công nghệ phải có dư địa linh hoạt phù hợp với pháp luật.
3. Chuyển từ quản lý đầu vào sang quản trị theo kết quả đầu ra
3.1. Giải ngân là điều kiện thực hiện, không phải đích đến
Trong quản lý ngân sách truyền thống, mức độ hoàn thành dự toán và tuân thủ thủ tục thường là những tiêu chí dễ theo dõi. Tuy nhiên, đối với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cách tiếp cận này chưa đủ để phản ánh hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Một đề tài có thể hoàn thành các thủ tục tài chính nhưng sản phẩm nghiên cứu chưa giải quyết được vấn đề đặt ra. Một hệ thống dữ liệu có thể được nghiệm thu về kỹ thuật nhưng chưa được khai thác thường xuyên. Một chương trình hỗ trợ doanh nghiệp có thể giải ngân đúng kế hoạch nhưng chưa tạo ra cải tiến rõ rệt về năng suất, chất lượng sản phẩm hoặc khả năng cạnh tranh. Do đó, cần phân biệt ba cấp độ đánh giá.
Thứ nhất là đầu vào, bao gồm ngân sách, nhân lực, thiết bị, dữ liệu và thời gian thực hiện. Thứ hai là đầu ra trực tiếp, như báo cáo nghiên cứu, quy trình công nghệ, phần mềm, cơ sở dữ liệu, nguyên mẫu, bằng độc quyền sáng chế hoặc mô hình ứng dụng. Thứ ba là kết quả và tác động, thể hiện ở khả năng thương mại hóa, cải thiện năng suất, giảm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ công, tạo doanh thu hoặc giải quyết các vấn đề xã hội.
Ba cấp độ này có mối quan hệ chặt chẽ nhưng không thể thay thế cho nhau. Hoàn thành đầu ra chưa đồng nghĩa với tạo ra tác động; giải ngân đủ cũng không bảo đảm sản phẩm đạt chất lượng mong muốn.
Quản trị theo kết quả vì vậy phải đặt câu hỏi ngay từ khi thiết kế nhiệm vụ: Nguồn vốn sẽ giải quyết vấn đề gì? Sản phẩm nào cần được tạo ra? Ai là người sử dụng? Thành công được đo lường bằng tiêu chí nào? Kết quả có thể được duy trì, mở rộng hoặc thương mại hóa ra sao?
Khi những câu hỏi này được trả lời rõ ràng, việc phân bổ kinh phí, giám sát tiến độ và nghiệm thu sẽ có cơ sở thực chất hơn.
3.2. Thiết kế chỉ tiêu đầu ra có thể kiểm chứng
Một hệ thống quản trị theo kết quả cần bộ chỉ tiêu phù hợp với từng loại nhiệm vụ. Không nên sử dụng duy nhất một tiêu chí chung cho mọi hoạt động khoa học và công nghệ.
Đối với nghiên cứu cơ bản, kết quả có thể được đánh giá qua đóng góp tri thức, chất lượng công bố khoa học, dữ liệu nghiên cứu hoặc năng lực hình thành hướng nghiên cứu mới. Đối với nghiên cứu ứng dụng, cần quan tâm đến nguyên mẫu, khả năng thử nghiệm, độ tin cậy và mức độ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Với nhiệm vụ đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp, các chỉ tiêu có thể bao gồm mức giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất, tiết kiệm năng lượng, cải thiện chất lượng hoặc hình thành sản phẩm mới.
Đối với chuyển đổi số, các tiêu chí cần phản ánh hiệu quả sử dụng thực tế: số quy trình được tái thiết kế, thời gian xử lý công việc được rút ngắn, mức độ liên thông dữ liệu, tỷ lệ dịch vụ được sử dụng thường xuyên, khả năng bảo đảm an toàn thông tin và mức độ hài lòng của người dùng.
Đặc biệt, phải phân biệt giữa sản phẩm hoàn thành về mặt kỹ thuật và sản phẩm tạo ra giá trị sử dụng. Một phần mềm được nghiệm thu nhưng không có người dùng thực tế không thể được xem là thành công đầy đủ. Một cơ sở dữ liệu được xây dựng nhưng thiếu cơ chế cập nhật, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu cũng khó tạo ra hiệu quả bền vững.
Bộ chỉ tiêu nên được xác lập từ đầu, có mốc kiểm tra giữa kỳ và cơ chế điều chỉnh khi xuất hiện những thay đổi hợp lý về công nghệ hoặc điều kiện nghiên cứu. Việc đánh giá phải dựa trên bằng chứng có thể kiểm chứng, tránh tình trạng chỉ tiêu hình thức hoặc chạy theo những con số dễ đạt.
3.3. Đánh giá theo chu kỳ, không chỉ tại thời điểm nghiệm thu
Đặc điểm của nghiên cứu và đổi mới sáng tạo là kết quả cuối cùng có thể xuất hiện sau khi nhiệm vụ đã kết thúc. Vì vậy, nếu chỉ đánh giá tại thời điểm nghiệm thu, cơ quan quản lý có thể chưa nhìn thấy đầy đủ giá trị của khoản đầu tư.
Cần hình thành cơ chế đánh giá theo chu kỳ, gồm đánh giá tiến độ, đánh giá đầu ra, đánh giá ứng dụng sau nghiệm thu và đánh giá tác động trong khoảng thời gian phù hợp với từng loại nhiệm vụ.
Chẳng hạn, một công nghệ mới có thể cần thêm thời gian để hoàn thiện, thử nghiệm tại doanh nghiệp và đáp ứng yêu cầu thị trường. Một nền tảng số có thể chỉ thể hiện hiệu quả rõ rệt sau khi dữ liệu được chuẩn hóa và các đơn vị sử dụng thay đổi quy trình làm việc.
Cách đánh giá theo chu kỳ không có nghĩa là kéo dài vô thời hạn việc theo dõi. Ngược lại, nó giúp xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, thời điểm cần can thiệp và căn cứ quyết định tiếp tục, điều chỉnh hoặc dừng một nhiệm vụ.
4. Hoàn thiện thể chế để tháo gỡ điểm nghẽn thực thi
4.1. Từ tháo gỡ thủ tục đến nâng cao chất lượng thiết kế nhiệm vụ
Tại hội nghị ngày 27/10/2026, các đơn vị thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đã trao đổi, giải đáp những vướng mắc liên quan đến thủ tục quản lý nhiệm vụ, cơ chế đặt hàng, tài trợ và quy định triển khai nhiệm vụ chuyển đổi số.
Thông tin được công bố cũng đề cập quy định về thời gian ký hợp đồng giao nhiệm vụ theo Nghị định số 267/2025/NĐ-CP, cơ chế quản lý quyền đối với kết quả nghiên cứu theo Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, cùng một số nội dung liên quan đến Nghị định số 224/2026/NĐ-CP trong lĩnh vực chuyển đổi số.
Những nội dung này cho thấy hoàn thiện thể chế cần được triển khai đồng thời trên hai phương diện: đơn giản hóa những quy trình không cần thiết và nâng cao chất lượng chuẩn bị nhiệm vụ trước khi phân bổ ngân sách.
Nếu nhiệm vụ được xây dựng thiếu mục tiêu rõ ràng, chưa xác định người sử dụng sản phẩm hoặc chưa có phương án kỹ thuật khả thi, việc rút ngắn thủ tục chưa chắc giải quyết được vấn đề cốt lõi. Ngược lại, một quy trình minh bạch, thời hạn rõ ràng và phân công trách nhiệm cụ thể sẽ giúp hạn chế độ trễ trong tổ chức thực hiện.
Cần rà soát toàn bộ chuỗi triển khai, từ tiếp nhận đề xuất, thẩm định, phê duyệt, giao nhiệm vụ, ký hợp đồng đến thanh toán, nghiệm thu và đánh giá sau đầu tư. Ở mỗi khâu, phải xác định rõ hồ sơ cần thiết, cơ quan chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý và cơ chế giải quyết khi phát sinh vướng mắc.
Đồng thời, cần hạn chế tình trạng cùng một thông tin phải kê khai nhiều lần hoặc nhiều cơ quan cùng yêu cầu các bộ hồ sơ tương tự. Khi dữ liệu quản lý được chuẩn hóa và chia sẻ theo quy định, thời gian xử lý có thể được rút ngắn mà vẫn bảo đảm yêu cầu kiểm soát.
4.2. Phân biệt cơ chế đặt hàng và cơ chế tài trợ
Một nội dung đáng chú ý là sự khác biệt giữa nhiệm vụ đặt hàng và nhiệm vụ tài trợ trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo.
Nhiệm vụ đặt hàng xuất phát từ yêu cầu giải quyết một vấn đề cụ thể của cơ quan quản lý, địa phương hoặc ngành, lĩnh vực. Trong khi đó, cơ chế tài trợ có thể bắt đầu từ đề xuất của chủ thể nghiên cứu hoặc doanh nghiệp, hướng tới hỗ trợ phát triển công nghệ và đổi mới sản phẩm.
Nếu áp dụng cơ chế đặt hàng cho mọi trường hợp, các ý tưởng mới có thể bị hạn chế bởi cách xác định vấn đề từ trước. Ngược lại, nếu chỉ dựa vào đề xuất tự phát mà thiếu tiêu chí lựa chọn, nguồn lực có thể phân tán vào những nhiệm vụ chưa có khả năng ứng dụng hoặc không phù hợp với ưu tiên phát triển.
Vì vậy, cần thiết kế hai cơ chế bổ trợ nhau. Đặt hàng phù hợp với những bài toán đã xác định rõ, có nhu cầu sử dụng và khả năng đánh giá kết quả. Tài trợ phù hợp với các sáng kiến có tiềm năng, cần được thử nghiệm, hoàn thiện hoặc hỗ trợ để tiến gần hơn đến thị trường.
Trong cả hai trường hợp, tiêu chí lựa chọn phải công khai, minh bạch; quyền lợi và trách nhiệm của tổ chức chủ trì phải được xác định rõ; kết quả sử dụng ngân sách phải được theo dõi bằng các chỉ tiêu phù hợp.
Đặc biệt, cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia từ khâu xác định bài toán, đồng thiết kế nhiệm vụ đến thử nghiệm và tiếp nhận kết quả. Khi có sự tham gia của người sử dụng ngay từ đầu, khả năng hình thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu thực tế sẽ cao hơn.
4.3. Chấp nhận rủi ro khoa học, nhưng không chấp nhận buông lỏng trách nhiệm
Nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo luôn tồn tại yếu tố bất định. Không phải mọi giả thuyết đều được chứng minh, mọi nguyên mẫu đều có thể thương mại hóa hoặc mọi giải pháp công nghệ đều đạt kết quả như dự kiến.
Nếu đánh đồng thất bại khoa học có căn cứ với vi phạm quản lý, cơ quan thực hiện sẽ có xu hướng lựa chọn những nhiệm vụ ít rủi ro, dễ nghiệm thu, khó tạo ra đột phá. Đây là một nghịch lý cần tránh trong quản trị đầu tư khoa học và công nghệ.
Tuy nhiên, chấp nhận rủi ro khoa học không có nghĩa là miễn trừ trách nhiệm đối với việc sử dụng ngân sách. Cần phân biệt rõ rủi ro phát sinh từ bản chất nghiên cứu với các sai phạm trong lựa chọn nhiệm vụ, quản lý chi phí, thực hiện cam kết hoặc cung cấp thông tin.
Một cơ chế phù hợp cần xác định trước mục tiêu, phương pháp, mốc đánh giá và những tình huống có thể dẫn đến điều chỉnh. Khi kết quả không đạt như dự kiến nhưng quá trình thực hiện trung thực, có cơ sở khoa học và tuân thủ quy định, việc đánh giá cần xem xét đầy đủ bối cảnh. Ngược lại, những hành vi sử dụng kinh phí sai mục đích, che giấu thông tin hoặc nghiệm thu không đúng thực tế phải được xử lý theo quy định.
Sự phân định này vừa bảo vệ kỷ luật tài chính, vừa tạo không gian cần thiết cho sáng tạo và thử nghiệm.
5. Đưa kết quả nghiên cứu vào đời sống và thị trường
5.1. Khắc phục khoảng cách giữa nghiên cứu và nhu cầu doanh nghiệp
Một trong những thách thức lớn của hệ sinh thái khoa học, công nghệ là khoảng cách giữa nơi tạo ra tri thức và nơi có khả năng chuyển hóa tri thức thành sản phẩm, dịch vụ.
Các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức khoa học có thể tạo ra kết quả có giá trị, nhưng để thương mại hóa còn cần vốn, năng lực sản xuất, hệ thống phân phối, dữ liệu thị trường, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Nếu không có cơ chế kết nối, kết quả nghiên cứu có thể dừng lại ở báo cáo, công bố hoặc nguyên mẫu, chưa tạo ra tác động tương xứng với nguồn lực đầu tư.
Do đó, cần coi doanh nghiệp là một chủ thể quan trọng trong quá trình đổi mới sáng tạo, chứ không chỉ là đơn vị tiếp nhận sản phẩm ở giai đoạn cuối. Doanh nghiệp cần được tham gia xác định nhu cầu công nghệ, đề xuất nhiệm vụ, cung cấp môi trường thử nghiệm và đánh giá khả năng ứng dụng.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các doanh nghiệp tại địa phương, việc tiếp cận công nghệ mới thường bị hạn chế bởi chi phí đầu tư, thiếu chuyên gia và năng lực quản trị đổi mới. Các chương trình hỗ trợ cần hướng đến những vấn đề cụ thể như tự động hóa, quản trị dữ liệu, tiết kiệm năng lượng, truy xuất nguồn gốc, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường số.
Thay vì phân bổ dàn trải cho nhiều hoạt động khó đo lường, nguồn lực công nên ưu tiên những nhiệm vụ có nhu cầu thực tế, khả năng lan tỏa và phương án duy trì sau khi kết thúc hỗ trợ.
5.2. Tăng cường cơ chế đồng đầu tư công - tư
Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo lập nền tảng nghiên cứu, hỗ trợ những lĩnh vực có rủi ro cao và giải quyết các vấn đề mang tính công cộng. Tuy nhiên, nguồn lực công khó có thể đáp ứng mọi nhu cầu đầu tư công nghệ của nền kinh tế.
Cơ chế đồng đầu tư công – tư có thể giúp huy động thêm nguồn lực xã hội, đồng thời tạo động lực để các bên quan tâm hơn đến hiệu quả sử dụng vốn. Khi doanh nghiệp cùng tham gia tài trợ hoặc bố trí nguồn lực đối ứng, nhiệm vụ nghiên cứu thường có điều kiện gắn chặt hơn với nhu cầu thị trường.
Dù vậy, cơ chế này phải được thiết kế minh bạch, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng và tránh tình trạng ngân sách công chỉ hỗ trợ cho những dự án có lợi ích riêng mà không tạo ra giá trị xã hội tương xứng.
Cần làm rõ tỷ lệ và hình thức đóng góp của các bên, quyền sở hữu trí tuệ, nguyên tắc phân chia lợi ích, nghĩa vụ công bố kết quả và điều kiện sử dụng sản phẩm hình thành từ ngân sách nhà nước. Đối với những công nghệ có ý nghĩa chiến lược hoặc phục vụ lợi ích công cộng, cần cân nhắc yêu cầu về khả năng tiếp cận, tính liên thông và mức độ tự chủ công nghệ.
Quan trọng hơn, không nên đánh giá hiệu quả của chương trình chỉ bằng tổng số vốn huy động được. Cần xem xét vốn đối ứng đã tạo ra năng lực sản xuất nào, công nghệ nào được tiếp nhận, doanh nghiệp nào được nâng cấp và giá trị gia tăng nào được hình thành.
5.3. Tăng cường quản trị quyền sở hữu trí tuệ và tài sản hình thành từ nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu chỉ có thể phát huy giá trị khi quyền quản lý, sử dụng và khai thác được xác lập rõ ràng. Sự thiếu minh bạch về quyền sở hữu trí tuệ hoặc tài sản hình thành trong quá trình nghiên cứu có thể làm chậm việc chuyển giao công nghệ, gây khó khăn cho hợp tác với doanh nghiệp.
Việc hoàn thiện cơ chế quản lý quyền đối với kết quả nghiên cứu theo Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 tạo cơ sở để thúc đẩy khai thác tài sản trí tuệ. Tuy nhiên, để cơ chế phát huy hiệu quả, cần nâng cao năng lực quản trị tài sản trí tuệ tại các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức chủ trì nhiệm vụ.
Các tổ chức cần có quy trình nhận diện kết quả có khả năng bảo hộ, đánh giá tiềm năng thương mại, tìm kiếm đối tác và đàm phán chuyển giao. Đồng thời, phải xác định rõ trách nhiệm duy trì, cập nhật và bảo vệ các tài sản công nghệ sau khi nhiệm vụ kết thúc.
Một hệ thống nghiên cứu hiệu quả không chỉ tạo ra nhiều kết quả mà còn phải có khả năng lựa chọn những kết quả có triển vọng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên và chuyển giao tri thức vào sản xuất, kinh doanh.
6. Chuyển đổi số trong quản lý ngân sách khoa học và công nghệ
Chuyển đổi số không chỉ là một lĩnh vực được đầu tư mà còn phải trở thành công cụ nâng cao hiệu quả quản lý các khoản đầu tư khoa học và công nghệ.
Việc xây dựng và vận hành nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia có thể tạo điều kiện theo dõi toàn bộ vòng đời của nhiệm vụ, từ đề xuất, phê duyệt, cấp kinh phí đến nghiệm thu và đánh giá sau đầu tư.
Nếu được tổ chức tốt, hệ thống này có thể giúp cơ quan quản lý nhận diện sớm nhiệm vụ chậm tiến độ, đối chiếu dữ liệu tài chính với kết quả chuyên môn và phát hiện các điểm nghẽn cần xử lý. Thông tin về tiến độ, sản phẩm và mức độ hoàn thành cam kết cũng giúp nâng cao trách nhiệm giải trình của tổ chức chủ trì.
Tuy nhiên, số hóa quy trình không đồng nghĩa với việc chuyển nguyên trạng các thủ tục phức tạp lên môi trường điện tử. Nếu quy trình cũ chưa được rà soát, nền tảng số có thể chỉ tạo ra thêm một lớp thao tác hành chính.
Do đó, cần kết hợp ba nhiệm vụ: tái thiết kế quy trình, chuẩn hóa dữ liệu và xây dựng hệ thống công nghệ phù hợp. Các nền tảng cần có khả năng liên thông theo quy định với hệ thống quản lý ngân sách, kho bạc và cơ sở dữ liệu liên quan, hạn chế việc nhập lại dữ liệu nhiều lần.
Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phân quyền truy cập, bảo vệ thông tin nghiên cứu, dữ liệu cá nhân và bí mật kinh doanh. Những dữ liệu có thể công khai nên được cung cấp ở dạng dễ tra cứu, qua đó tạo điều kiện cho cộng đồng khoa học, doanh nghiệp và xã hội giám sát hiệu quả đầu tư công.
Việc số hóa cũng cần đi kèm đánh giá hiệu quả vận hành. Các chỉ tiêu như thời gian xử lý hồ sơ, tỷ lệ dữ liệu đầy đủ, mức độ liên thông, số nhiệm vụ được cảnh báo sớm và khả năng truy xuất lịch sử thực hiện sẽ phản ánh rõ hơn giá trị của hệ thống.
7. Giải pháp nâng cao hiệu quả giải ngân và chất lượng đầu tư
7.1. Rà soát nhiệm vụ theo nguyên nhân và khả năng hoàn thành
Trước hết, các bộ, ngành và địa phương cần rà soát toàn bộ danh mục nhiệm vụ đang triển khai, phân loại theo tiến độ, nguyên nhân chậm và khả năng hoàn thành trong năm ngân sách.
Đối với nhiệm vụ chậm do thủ tục hành chính hoặc phối hợp nội bộ, cần xác định đầu mối xử lý và thời hạn hoàn thành cụ thể. Với nhiệm vụ chưa đủ điều kiện triển khai, cần đánh giá khả năng điều chỉnh kế hoạch hoặc thời gian thực hiện theo quy định. Đối với những khoản kinh phí được xác định không còn khả năng giải ngân trong năm, cần chủ động đề xuất xử lý dự toán theo thẩm quyền, tránh để nguồn lực bị giữ lại trong khi những nhiệm vụ khả thi khác đang thiếu kinh phí.
Việc rà soát phải dựa trên dữ liệu thực tế, không chỉ trên báo cáo tiến độ. Cơ quan quản lý cần đối chiếu số liệu với Kho bạc Nhà nước, kiểm tra hợp đồng, sản phẩm trung gian và điều kiện thực hiện để xác định chính xác tình trạng từng nhiệm vụ.
Đặc biệt, không nên coi việc giải ngân bằng mọi giá là mục tiêu. Chỉ những khoản chi gắn với nhiệm vụ đủ điều kiện, có khả năng tạo ra kết quả phù hợp mới nên được thúc đẩy thực hiện.
7.2. Thiết lập cơ chế điều hành theo dữ liệu
Cần duy trì chế độ cập nhật tiến độ giải ngân định kỳ, trong đó số liệu tài chính được đối chiếu với tiến độ chuyên môn. Các nhiệm vụ có nguy cơ chậm phải được cảnh báo sớm, thay vì chờ đến cuối kỳ mới xử lý.
Cơ chế điều hành cần phân biệt giữa đơn vị thiếu năng lực tổ chức thực hiện, nhiệm vụ gặp vướng mắc khách quan và nhiệm vụ được thiết kế chưa phù hợp. Mỗi nhóm nguyên nhân cần một giải pháp tương ứng.
Ở cấp địa phương, UBND tỉnh, thành phố cần chủ động ban hành quy trình quản lý thuộc thẩm quyền, phân công trách nhiệm giữa cơ quan khoa học và công nghệ, cơ quan tài chính và các đơn vị liên quan. Người đứng đầu cần chịu trách nhiệm về chất lượng chuẩn bị, tiến độ triển khai và hiệu quả sử dụng ngân sách trong phạm vi được giao.
Cùng với đó, cần phát huy vai trò hỗ trợ của các cơ quan chuyên môn cấp trung ương trong hướng dẫn, giải đáp và tháo gỡ những vướng mắc có tính hệ thống. Các vấn đề vượt thẩm quyền địa phương cần được tổng hợp, xử lý theo cơ chế phối hợp rõ ràng.
7.3. Gắn kết quả đầu ra với phân bổ ngân sách các năm tiếp theo
Kết quả giải ngân và sản phẩm đầu ra tương ứng cần trở thành căn cứ quan trọng khi xem xét bố trí ngân sách cho các năm tiếp theo. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu sử dụng nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm và nâng cao trách nhiệm giải trình.
Tuy nhiên, việc phân bổ ngân sách không nên chỉ dựa vào tỷ lệ giải ngân của năm trước. Nếu áp dụng cơ học, các đơn vị thực hiện nghiên cứu dài hạn hoặc nhiệm vụ có độ phức tạp cao có thể bị bất lợi so với những nhiệm vụ dễ hoàn thành về mặt tài chính.
Một cơ chế đánh giá hợp lý cần kết hợp nhiều tiêu chí: mức độ hoàn thành cam kết, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sử dụng nguồn vốn, năng lực tổ chức thực hiện, khả năng ứng dụng và mức độ phù hợp với ưu tiên phát triển.
Đối với nhiệm vụ chưa đạt kết quả, cần xác định nguyên nhân trước khi quyết định điều chỉnh hoặc tiếp tục đầu tư. Đối với những nhiệm vụ có kết quả tốt, có khả năng nhân rộng hoặc tạo tác động lớn, cần xem xét bố trí nguồn lực tương xứng để mở rộng phạm vi ứng dụng.
Cách làm này giúp chuyển từ phân bổ ngân sách theo quán tính sang phân bổ dựa trên bằng chứng, đồng thời tạo động lực để các tổ chức chủ trì nâng cao chất lượng quản trị.
7.4. Phát triển năng lực quản lý khoa học, công nghệ tại địa phương
Năng lực thực thi chính sách phụ thuộc đáng kể vào chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và khả năng phối hợp giữa các cơ quan.
Cần tăng cường đào tạo về quản trị nhiệm vụ khoa học, quản lý hợp đồng nghiên cứu, đánh giá công nghệ, sở hữu trí tuệ, chuyển đổi số và kiểm soát hiệu quả đầu tư. Đối với những nhiệm vụ có tính chất chuyên sâu, địa phương có thể huy động chuyên gia, tổ chức nghiên cứu và đơn vị tư vấn đủ năng lực tham gia các khâu cần thiết theo quy định.
Đồng thời, nên xây dựng mạng lưới chia sẻ kinh nghiệm giữa các địa phương. Những địa phương có tiến độ giải ngân tốt và cách tổ chức thực hiện hiệu quả cần được nghiên cứu để rút ra bài học có thể áp dụng ở những địa bàn khác.
Việc nâng cao năng lực không chỉ nhằm đẩy nhanh thủ tục mà còn giúp địa phương xác định đúng bài toán phát triển, lựa chọn đúng công nghệ và sử dụng ngân sách sát với nhu cầu thực tiễn.
7.5. Xây dựng văn hóa trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực chất
Một cơ chế quản trị hiệu quả cần bảo đảm mỗi chủ thể hiểu rõ trách nhiệm của mình. Cơ quan quản lý chịu trách nhiệm về chất lượng lựa chọn và giám sát nhiệm vụ; tổ chức chủ trì chịu trách nhiệm về tính trung thực của thông tin, tiến độ và sản phẩm đã cam kết; cơ quan tài chính thực hiện chức năng kiểm soát theo quy định; còn đơn vị tiếp nhận công nghệ cần phối hợp đánh giá khả năng ứng dụng.
Trách nhiệm giải trình phải đi đôi với minh bạch thông tin và cơ chế xử lý phù hợp. Những đơn vị thực hiện tốt cần được ghi nhận; những vướng mắc khách quan cần được hỗ trợ; những sai phạm phải được xử lý nghiêm minh.
Đồng thời, cần tránh tình trạng biến chỉ tiêu giải ngân thành áp lực duy nhất đối với cán bộ quản lý. Nếu đánh giá thành tích chỉ dựa vào tỷ lệ chi tiêu, hệ thống có thể phát sinh hành vi ưu tiên các khoản chi dễ thực hiện, trong khi những nhiệm vụ quan trọng nhưng phức tạp bị trì hoãn.
Văn hóa hiệu quả thực chất đòi hỏi sự cân bằng giữa kỷ luật ngân sách, tính chủ động trong thực thi và không gian cần thiết cho sáng tạo.
8. Mỗi đồng ngân sách phải trở thành một năng lực phát triển
Kết quả giải ngân kinh phí khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026 đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, nhất là tại các địa phương. Tỷ lệ giải ngân 41,18% trên cả nước và 38,49% ở khối địa phương cho thấy khoảng cách đáng kể giữa nguồn lực được bố trí và kinh phí đã đưa vào thực hiện tại thời điểm cuối tháng 10.
Nhưng vấn đề căn bản không chỉ là giải ngân nhanh hơn. Mục tiêu quan trọng hơn là bảo đảm nguồn lực công được chuyển hóa thành kết quả nghiên cứu có giá trị, công nghệ có khả năng ứng dụng, doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao hơn và dịch vụ công hiệu quả hơn.
Để đạt được mục tiêu đó, cần triển khai đồng bộ các giải pháp: hoàn thiện thể chế và quy trình thực hiện; nâng cao chất lượng chuẩn bị nhiệm vụ; phân biệt cơ chế đặt hàng với tài trợ; thiết lập hệ thống đánh giá đầu ra và tác động; tăng cường kết nối giữa viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp; đẩy mạnh quản trị số; đồng thời gắn trách nhiệm giải trình với hiệu quả sử dụng ngân sách.
Đặc biệt, việc thúc đẩy giải ngân trong những tháng cuối năm phải dựa trên nguyên tắc đúng nhiệm vụ, đúng quy định và đúng tiến độ thực tế. Những khoản kinh phí không còn khả năng thực hiện cần được xử lý kịp thời; những nhiệm vụ khả thi cần được hỗ trợ tháo gỡ vướng mắc; những sản phẩm đã hình thành cần được đánh giá, khai thác và nhân rộng khi đáp ứng yêu cầu.
Trong dài hạn, hiệu quả đầu tư cho khoa học, công nghệ không thể chỉ được đo bằng số tiền đã chi hay số nhiệm vụ đã hoàn thành. Thước đo quan trọng hơn là năng lực công nghệ được nâng lên đến đâu, tri thức được chuyển hóa thành giá trị như thế nào và nền kinh tế thu được những lợi ích gì từ nguồn lực đã đầu tư.
Chuyển từ tư duy giải ngân sang tư duy tạo giá trị chính là bước chuyển quan trọng trong quản trị phát triển. Khi ngân sách được phân bổ đúng trọng tâm, nhiệm vụ được tổ chức khoa học, kết quả được đánh giá minh bạch và sản phẩm được đưa vào thực tiễn, đầu tư công cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mới thực sự trở thành động lực nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.
TS. Đoàn Công Vụ
___________________________________________
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Quốc hội (2025), Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15.
Chính phủ (2025), Nghị định số 267/2025/NĐ-CP, quy định về quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo nội dung liên quan.
Chính phủ (2026), Nghị định số 224/2026/NĐ-CP, các quy định liên quan đến triển khai nhiệm vụ chuyển đổi số.
Thủ tướng Chính phủ (2026), Chỉ thị số 29/CT-TTg ngày 16/7/2026 về đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026.
Báo Điện tử Chính phủ (27/10/2026), “Thúc tiến độ giải ngân kinh phí KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, gắn với kết quả đầu ra”, https://baochinhphu.vn/thuc-tien-do-giai-ngan-kinh-phi-khcn-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-gan-voi-ket-qua-dau-ra-102261027183243501.htm.
Báo Thanh tra (27/10/2026), “Giải ngân kinh phí khoa học, công nghệ và chuyển đổi số mới đạt 41,18%”, https://thanhtra.com.vn/chuyen-doi-so-DFC98D38D/giai-ngan-kinh-phi-khoa-hoc-cong-nghe-va-chuyen-doi-so-moi-dat-4118-cce974896.html.
Báo Điện tử Chính phủ (17/7/2026), “Đẩy nhanh thực hiện nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số”, https://media.chinhphu.vn/day-nhanh-thuc-hien-nhiem-vu-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-va-chuyen-doi-so-102260717164638042.htm.




