Việc Bộ Khoa học và Công nghệ mở rộng cơ chế tiếp nhận đề xuất nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược từ doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức khoa học và công nghệ và cá nhân đang tạo thêm một kênh quan trọng để đưa nhu cầu thực tiễn, năng lực nghiên cứu và nguồn lực thị trường cùng tham gia vào quá trình xác lập các nhiệm vụ công nghệ có ý nghĩa quốc gia. Đây không chỉ là bước mở rộng chủ thể tham gia mà còn đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ “đặt nhiệm vụ nghiên cứu” sang kiến tạo hệ sinh thái làm chủ, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Ngày 16/9/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông báo số 392/TB-BKHCN, kêu gọi đề xuất nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược. Theo đó, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, tổ chức khoa học và công nghệ và cá nhân có thể trực tiếp gửi đề xuất tới Bộ trước ngày 30/9.
Điểm đáng chú ý nằm ở việc doanh nghiệp được đặt vào cùng không gian đề xuất với viện nghiên cứu và trường đại học. Điều này phù hợp với yêu cầu ngày càng rõ của chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: nghiên cứu không dừng ở phòng thí nghiệm mà phải hướng tới giải quyết những bài toán lớn của đất nước, tạo ra công nghệ có khả năng ứng dụng, sản phẩm có thị trường và từng bước hình thành năng lực tự chủ công nghệ.
Từ “đề tài nghiên cứu” đến bài toán công nghệ quốc gia
Trong nhiều năm, một trong những điểm nghẽn của hoạt động khoa học và công nghệ là khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường. Một kết quả nghiên cứu có thể có giá trị về mặt học thuật nhưng chưa chắc trở thành sản phẩm; ngược lại, doanh nghiệp có nhu cầu công nghệ cụ thể nhưng không phải lúc nào cũng tìm được đối tác nghiên cứu đủ năng lực để giải quyết.
Công nghệ chiến lược làm cho khoảng cách này trở nên đặc biệt quan trọng. Đây là những lĩnh vực có thể tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh, an ninh, quốc phòng, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và khả năng tự chủ của nền kinh tế. Vì vậy, cách lựa chọn nhiệm vụ không thể chỉ dựa trên câu hỏi “có thể nghiên cứu gì”, mà cần chuyển sang câu hỏi “đất nước cần làm chủ công nghệ nào, để giải quyết bài toán nào và tạo ra sản phẩm gì”.
Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 đã ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược. Tiếp đó, Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 6/5/2026 giao các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược gắn với những bài toán lớn cho 10 bộ, cơ quan Trung ương.
Việc tiếp tục mở rộng kênh đề xuất trong tháng 9 cho thấy chính sách đang chuyển từ giai đoạn xác lập danh mục, bài toán và cơ quan chủ quản sang giai đoạn huy động rộng hơn các lực lượng có khả năng trực tiếp nghiên cứu, phát triển và đưa công nghệ vào thực tiễn.
Đây là thay đổi có ý nghĩa về phương thức quản trị. Nếu chỉ giao nhiệm vụ theo cơ chế hành chính từ trên xuống, nguy cơ xuất hiện khoảng cách giữa mục tiêu chính sách và năng lực thực hiện là điều khó tránh khỏi. Khi doanh nghiệp, viện trường và cá nhân được quyền đề xuất, Nhà nước có thêm khả năng nhận diện những ý tưởng, năng lực và nhu cầu công nghệ xuất phát từ thực tiễn.
Đặc biệt, doanh nghiệp có một lợi thế mà khu vực nghiên cứu thuần túy không phải lúc nào cũng có: khả năng nhận biết nhu cầu thị trường, khách hàng và chuỗi cung ứng. Trong khi đó, viện nghiên cứu và trường đại học có thế mạnh về tri thức nền tảng, nhân lực khoa học và cơ sở nghiên cứu. Khi hai khu vực này được kết nối với nhau thông qua các nhiệm vụ chiến lược, khả năng hình thành sản phẩm công nghệ có tính ứng dụng sẽ được mở rộng.
Tuy nhiên, mở rộng chủ thể đề xuất mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là phải thiết kế được cơ chế tuyển chọn, tài trợ, đánh giá và thương mại hóa phù hợp với đặc thù của công nghệ chiến lược.
Doanh nghiệp - viện trường: từ liên kết hình thức đến đồng phát triển công nghệ
Một nhiệm vụ công nghệ chiến lược khó có thể được giải quyết bởi một tổ chức đơn lẻ. Chuỗi phát triển công nghệ hiện đại thường bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thiết kế, chế tạo thử nghiệm, kiểm định, hoàn thiện sản phẩm, thử nghiệm thị trường và thương mại hóa.
Mỗi khâu lại đòi hỏi năng lực khác nhau. Trường đại học có thể mạnh về nghiên cứu nền tảng và đào tạo nhân lực; viện nghiên cứu có thể sở hữu các nhóm chuyên gia, phòng thí nghiệm và năng lực phát triển công nghệ; doanh nghiệp lại có lợi thế về vốn, quản trị dự án, sản xuất, thị trường và khả năng mở rộng quy mô.
Do đó, giá trị lớn nhất của cơ chế mới không chỉ nằm ở việc “ai cũng có thể đề xuất”, mà ở khả năng hình thành các liên minh công nghệ đủ năng lực đi hết chuỗi từ ý tưởng tới sản phẩm.
Định hướng này tương thích với cách tổ chức mới của Chương trình công nghệ chiến lược. Theo thông tin được Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, nhiệm vụ có thể được tổ chức dưới dạng nhiệm vụ đơn lẻ, cụm nhiệm vụ hoặc chuỗi nhiệm vụ liên kết; nội dung được chia thành các gói công việc và mốc đánh giá, gắn với mục tiêu, sản phẩm đầu ra, chỉ tiêu kỹ thuật, kinh phí, tiến độ và trách nhiệm của tổ chức chủ trì.
Cách tiếp cận theo chuỗi có ý nghĩa đặc biệt đối với những công nghệ phức tạp. Thay vì tài trợ riêng lẻ cho từng đề tài, Nhà nước có thể hình thành một “bài toán công nghệ” với nhiều tầng nhiệm vụ. Một nhóm nghiên cứu giải quyết công nghệ lõi; một doanh nghiệp phát triển thiết kế và sản phẩm; một đơn vị khác đảm nhiệm thử nghiệm, đo kiểm; cơ quan quản lý hỗ trợ về tiêu chuẩn, quy chuẩn và môi trường thử nghiệm.
Khi đó, viện trường không bị buộc phải trở thành doanh nghiệp, còn doanh nghiệp cũng không phải tự mình thực hiện toàn bộ hoạt động nghiên cứu. Hai bên bổ sung cho nhau trong một chuỗi giá trị công nghệ.
Đây cũng là cách để giải quyết một vấn đề lâu nay của hệ thống đổi mới sáng tạo: kết quả nghiên cứu có thể nhiều nhưng sản phẩm thương mại hóa còn hạn chế. Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được điều chỉnh năm 2026 đặt mục tiêu tỷ lệ kết quả nghiên cứu từ viện, trường được thương mại hóa đạt tối thiểu 30%, đồng thời hướng tới hình thành các doanh nghiệp công nghệ quy mô khu vực trong những lĩnh vực chiến lược.
Như vậy, tiêu chí đánh giá thành công của một nhiệm vụ công nghệ chiến lược cần được mở rộng. Một công trình khoa học tốt là chưa đủ; cần xem xét khả năng tạo ra nguyên mẫu, công nghệ lõi, dây chuyền thử nghiệm, bằng sáng chế, tiêu chuẩn kỹ thuật, sản phẩm thương mại hoặc năng lực công nghệ có thể tiếp tục phát triển sau khi nhiệm vụ kết thúc.
Nói cách khác, đầu ra của chính sách phải là năng lực công nghệ, chứ không chỉ là hồ sơ nghiệm thu.
Cơ chế tài chính và chấp nhận rủi ro: điều kiện để công nghệ chiến lược tăng tốc
Công nghệ chiến lược thường có đặc điểm vốn đầu tư lớn, thời gian nghiên cứu dài, độ bất định cao và khả năng thất bại không nhỏ. Nếu sử dụng phương thức quản lý tài chính quá thiên về kiểm soát đầu vào, các tổ chức thực hiện sẽ khó có đủ không gian để thử nghiệm những hướng công nghệ mới.
Đây là lý do cơ chế tài chính và quản trị rủi ro trở thành một bộ phận quan trọng của chính sách công nghệ chiến lược.
Các định hướng được Chính phủ đưa ra trong năm 2026 nhấn mạnh cơ chế tài chính đặc thù gắn với kết quả đầu ra, chấp nhận rủi ro có kiểm soát, đồng thời nghiên cứu các cơ chế ưu đãi về thuế, tín dụng, hỗ trợ lãi suất, đồng tài trợ công – tư và sử dụng ngân sách nhà nước để đặt hàng, mua sắm sản phẩm công nghệ.
Đối với doanh nghiệp, đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Nghiên cứu một công nghệ chưa được kiểm chứng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải chấp nhận rủi ro mà lợi ích thương mại chưa chắc xuất hiện ngay. Nếu chính sách công chỉ hỗ trợ một phần nhỏ chi phí nghiên cứu nhưng doanh nghiệp phải gánh toàn bộ rủi ro thương mại hóa, động lực tham gia sẽ bị hạn chế.
Ngược lại, nếu Nhà nước chia sẻ một phần rủi ro thông qua đặt hàng, tài trợ, thử nghiệm, mua sắm công hoặc hỗ trợ hạ tầng nghiên cứu, doanh nghiệp có thể mạnh dạn đầu tư hơn.
Tuy nhiên, “chấp nhận rủi ro” không đồng nghĩa với giảm yêu cầu trách nhiệm. Cần phân biệt rõ rủi ro công nghệ khách quan với quản trị yếu kém, sai lệch mục tiêu hoặc sử dụng nguồn lực không hiệu quả.
Một cơ chế hợp lý có thể dựa trên các mốc kỹ thuật. Ở mỗi giai đoạn, nhiệm vụ được đánh giá theo kết quả thực tế: đạt chỉ tiêu thì chuyển sang giai đoạn tiếp theo; không đạt thì điều chỉnh, tái cấu trúc hoặc dừng. Cách làm này vừa tạo không gian thử nghiệm, vừa bảo đảm nguồn lực công được sử dụng có trọng tâm.
Mục tiêu của Chương trình giai đoạn 2026-2030 là làm chủ ít nhất 4 công nghệ, phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm, trong đó có 5 sản phẩm tại thị trường khu vực hoặc quốc tế. Giai đoạn 2031-2035, các mục tiêu tiếp tục được nâng lên.
Những mục tiêu định lượng này cho thấy thương mại hóa đang được đặt ở vị trí quan trọng trong cách đo lường hiệu quả chính sách. Đây là bước chuyển cần thiết bởi một nền kinh tế muốn nâng cao năng lực tự chủ không thể chỉ sở hữu các công trình nghiên cứu mà phải có doanh nghiệp, sản phẩm và thị trường.
Mở rộng “không gian thử nghiệm” để biến công nghệ thành năng lực cạnh tranh
Một công nghệ mới chỉ thực sự tạo ra giá trị khi có môi trường để thử nghiệm. Với nhiều công nghệ chiến lược, thách thức không nằm hoàn toàn ở khâu nghiên cứu mà còn ở việc chứng minh công nghệ có thể vận hành ổn định trong điều kiện thực tế.
Do đó, cùng với việc tiếp nhận đề xuất nhiệm vụ, Việt Nam cần tiếp tục phát triển hệ thống phòng thí nghiệm, trung tâm đo kiểm, hạ tầng tính toán, dữ liệu, tiêu chuẩn và môi trường thử nghiệm.
Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026-2030 đã đặt mục tiêu hình thành mạng lưới các trung tâm, phòng thí nghiệm trọng điểm phục vụ sản xuất, thiết kế và đo kiểm chip bán dẫn, thiết bị mạng 5G/6G và các sản phẩm công nghệ số; đồng thời hướng tới hình thành trung tâm tính toán hiệu năng cao dùng chung phục vụ các bài toán lớn.
Những hạ tầng như vậy có thể trở thành “hạ tầng dùng chung” của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Một trường đại học không nhất thiết phải tự đầu tư toàn bộ thiết bị đắt tiền nếu có thể tiếp cận phòng thí nghiệm quốc gia; doanh nghiệp nhỏ cũng có thể thử nghiệm công nghệ mà không phải tự xây dựng toàn bộ hệ thống đo kiểm.
Cùng với đó, cần coi tiêu chuẩn, quy chuẩn và sở hữu trí tuệ là một phần của quá trình phát triển công nghệ ngay từ đầu. Nếu sản phẩm được nghiên cứu nhưng không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc không có chiến lược bảo hộ sở hữu trí tuệ, khả năng bước vào thị trường quốc tế sẽ bị hạn chế.
Về dài hạn, mục tiêu lớn hơn của việc mở rộng đề xuất nhiệm vụ công nghệ chiến lược không chỉ là tạo ra một số sản phẩm riêng lẻ. Đó là hình thành năng lực đổi mới sáng tạo có tính hệ thống: Nhà nước xác định bài toán và kiến tạo thể chế; viện, trường tạo tri thức và nhân lực; doanh nghiệp đầu tư, phát triển sản phẩm và thị trường; các quỹ, tổ chức tài chính tham gia chia sẻ rủi ro; còn người sử dụng cuối cùng trở thành một phần của quá trình hoàn thiện công nghệ.
Việt Nam cũng đang định hướng hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước. Đề án được phê duyệt tháng 6/2026 đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn, có khả năng làm chủ, phát triển và thương mại hóa một số công nghệ chiến lược then chốt.
Nếu kết nối được mục tiêu này với cơ chế đề xuất nhiệm vụ từ doanh nghiệp và viện trường, hệ sinh thái công nghệ chiến lược có thể hình thành theo hướng đa trung tâm thay vì phụ thuộc vào một vài tổ chức.
Từ góc độ chính sách, bước đi hiện nay vì vậy cần được nhìn nhận như một quá trình tái cấu trúc cách Nhà nước tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ. Từ xác định danh mục công nghệ, giao bài toán lớn, mở rộng chủ thể đề xuất, thiết kế cơ chế tài chính, xây dựng hạ tầng thử nghiệm cho tới thương mại hóa, các khâu phải được kết nối thành một chuỗi thống nhất.
Quan trọng hơn, doanh nghiệp cần thực sự trở thành một chủ thể của quá trình kiến tạo công nghệ, chứ không chỉ là đơn vị tiếp nhận kết quả nghiên cứu. Viện trường cũng cần được trao điều kiện để tham gia sâu hơn vào những bài toán công nghiệp thực tế.
Khi khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và thị trường được thu hẹp, mỗi nhiệm vụ công nghệ chiến lược không chỉ tạo ra một kết quả nghiên cứu mà có thể trở thành “hạt giống” hình thành sản phẩm, doanh nghiệp, chuỗi cung ứng và ngành công nghiệp mới.
Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ quốc tế ngày càng quyết liệt, năng lực tự chủ không được tạo nên chỉ bằng việc mua sắm công nghệ tiên tiến. Năng lực ấy phải được tích lũy từ khả năng nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, làm chủ công nghệ lõi, tổ chức sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường.
Việc mở rộng quyền đề xuất nhiệm vụ cho doanh nghiệp, viện trường và các chủ thể khoa học vì thế có thể tạo thêm một mắt xích quan trọng trong quá trình đó. Thách thức tiếp theo là biến sự mở rộng về “quyền đề xuất” thành sự mở rộng về “năng lực thực hiện”, để mỗi nhiệm vụ được lựa chọn thực sự góp phần giải quyết một bài toán lớn, tạo ra công nghệ có giá trị và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.
ThS Mai Thị Châm
_________________________________
Tài liệu tham khảo
- Báo Điện tử Chính phủ (2026), Doanh nghiệp, viện trường được đề xuất nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, 17/9/2026.
- Báo Điện tử Chính phủ (2026), Đổi mới cách triển khai nhiệm vụ công nghệ chiến lược, lấy kết quả làm thước đo, 10/8/2026.
- Báo Điện tử Chính phủ (2026), Công nghệ chiến lược được trao cơ chế mới để tăng tốc phát triển, 3/8/2026.
- Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 6/5/2026 về giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.
- Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 1091/QĐ-TTg ngày 17/6/2026 về Đề án hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước giai đoạn 2026-2030.
- Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 840/QĐ-TTg ngày 13/5/2026 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2045.
- Bộ Chính trị/Chính phủ (2026), các định hướng và nhiệm vụ triển khai phát triển công nghệ chiến lược, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.



