06/11/2026 lúc 22:58 (GMT+7)
Breaking News

Minh bạch phí, lệ phí ngoại giao: Hoàn thiện chính sách phục vụ công dân và thúc đẩy hội nhập quốc tế

Việc ban hành Thông tư số 163/2026/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính về mức thu, miễn, chế độ thu, nộp phí, lệ phí trong lĩnh vực ngoại giao tại các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài không chỉ tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho hoạt động thu phí, lệ phí mà còn thể hiện yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng phục vụ công dân và thúc đẩy hội nhập quốc tế. Đáng chú ý, những quy định về miễn phí, lệ phí đối với các nhóm đối tượng đặc thù cho thấy sự kết hợp giữa kỷ cương tài chính, hiệu quả quản lý và chính sách nhân văn.

Minh bạch phí, lệ phí ngoại giao: Hoàn thiện chính sách phục vụ công dân và thúc đẩy hội nhập quốc tế. Ảnh minh họa - TL

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong hoạt động đối ngoại

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhu cầu thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến hộ chiếu, thị thực, quốc tịch, xác nhận giấy tờ và các dịch vụ lãnh sự của công dân Việt Nam ở nước ngoài cũng như người nước ngoài có quan hệ với Việt Nam không ngừng gia tăng. Hoạt động của các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài vì vậy không chỉ mang ý nghĩa chính trị, ngoại giao mà còn trực tiếp gắn với quyền, lợi ích hợp pháp và nhu cầu thiết thực của người dân, tổ chức.

Từ yêu cầu đó, việc xây dựng cơ chế thu, miễn, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực ngoại giao có ý nghĩa quan trọng. Đây không đơn thuần là vấn đề tài chính công mà còn liên quan đến chất lượng cung ứng dịch vụ công, tính minh bạch của thủ tục hành chính và niềm tin của người dân đối với cơ quan đại diện quốc gia ở nước ngoài.

Ngày 2/11/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 163/2026/TT-BTC quy định mức thu, miễn, chế độ thu, nộp phí, lệ phí trong lĩnh vực ngoại giao và các lĩnh vực khác áp dụng tại các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Đối tượng áp dụng bao gồm người nộp phí, lệ phí; tổ chức thu phí, lệ phí và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Thông tư quy định cụ thể các mức thu tại Biểu mức thu phí, lệ phí trong lĩnh vực ngoại giao thuộc Phụ lục I và Phụ lục II ban hành kèm theo. Việc xác lập biểu mức thu thống nhất tạo cơ sở để các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện, đồng thời giúp người dân có căn cứ tìm hiểu, chuẩn bị và chủ động thực hiện nghĩa vụ tài chính khi sử dụng dịch vụ lãnh sự.

Ở góc độ quản lý nhà nước, quy định rõ mức thu và đối tượng áp dụng góp phần hạn chế cách hiểu, cách thực hiện không thống nhất, tăng tính công khai và khả năng giám sát. Đối với lĩnh vực ngoại giao, nơi hoạt động hành chính diễn ra trên địa bàn nhiều quốc gia với điều kiện pháp lý, kinh tế và tiền tệ khác nhau, sự thống nhất về nguyên tắc thu, nộp càng có ý nghĩa thiết thực.

Cụ thể hóa các mức thu, tạo thuận lợi cho người dân

Một trong những nội dung đáng chú ý của Thông tư số 163/2026/TT-BTC là quy định cụ thể các mức thu đối với những thủ tục ngoại giao, lãnh sự phổ biến.

Theo đó, lệ phí cấp mới hộ chiếu phổ thông, hộ chiếu ngoại giao và hộ chiếu công vụ là 70 USD/quyển; hộ chiếu phổ thông cấp theo thủ tục rút gọn có mức thu 35 USD/quyển. Trường hợp gia hạn hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ, mức thu là 30 USD/quyển; cấp lại hộ chiếu do bị hỏng hoặc mất là 150 USD/quyển.

Trong lĩnh vực quốc tịch, mức lệ phí xin nhập quốc tịch là 250 USD/người; xin trở lại quốc tịch hoặc xin thôi quốc tịch là 200 USD/người.

Đối với thị thực, mức phí được xác định theo số lần nhập cảnh và thời hạn có giá trị. Thị thực có giá trị nhập cảnh một lần là 25 USD/chiếc; thị thực nhiều lần có thời hạn đến 3 tháng là 50 USD/chiếc; trên 3 tháng đến 6 tháng là 95 USD/chiếc; trên 6 tháng đến 1 năm là 135 USD/chiếc. Phí cấp Giấy miễn thị thực là 10 USD/chiếc.

Ngoài ra, Thông tư quy định phí xác nhận người có quốc tịch Việt Nam, người có gốc Việt Nam và một số nội dung xác nhận khác theo yêu cầu của công dân là 20 USD/bản; phí xác minh giấy tờ, tài liệu là 50 USD/hồ sơ/bản, không bao gồm cước phí; phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp là 20 USD/lần/người.

Việc quy định cụ thể từng nhóm dịch vụ giúp người dân dễ dàng nhận diện khoản phải nộp, chủ động dự trù kinh phí và hạn chế những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện thủ tục. Đặc biệt, đối với cộng đồng người Việt Nam sinh sống, học tập và làm việc ở nước ngoài, những thủ tục liên quan đến hộ chiếu, quốc tịch, giấy tờ nhân thân và xác nhận lãnh sự thường có ảnh hưởng trực tiếp đến công việc, học tập, cư trú và các giao dịch dân sự.

Tuy nhiên, để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, việc công khai biểu phí cần được triển khai đồng bộ tại các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Thông tin về mức thu, phương thức thanh toán, hồ sơ cần chuẩn bị và quy trình giải quyết nên được trình bày rõ ràng, dễ tiếp cận, phù hợp với điều kiện sử dụng dịch vụ của công dân tại từng địa bàn.

Chính sách miễn phí, lệ phí: Kết hợp kỷ cương và tính nhân văn

Bên cạnh việc xác định các mức thu, một điểm đáng quan tâm trong Thông tư số 163/2026/TT-BTC là hệ thống quy định về miễn phí, lệ phí đối với những trường hợp cụ thể. Đây là nội dung thể hiện rõ quan điểm quản lý không chỉ dựa trên nguyên tắc thu đúng, thu đủ mà còn chú trọng đến yếu tố đối ngoại, nhân đạo và bảo đảm quyền lợi của các nhóm đối tượng cần được hỗ trợ.

Theo đó, một số trường hợp người nước ngoài được miễn phí, lệ phí trong lĩnh vực ngoại giao gồm khách mời của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam và thân nhân đi cùng theo quy định; viên chức, nhân viên hành chính kỹ thuật của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài và cơ quan đại diện tổ chức quốc tế tại Việt Nam cùng thành viên gia đình theo nguyên tắc có đi có lại.

Đáng chú ý, người nước ngoài mang hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ, hộ chiếu phổ thông hoặc giấy tờ đi lại thay hộ chiếu do nước ngoài cấp có thể được miễn phí thị thực theo nguyên tắc có đi có lại. Chính sách này góp phần bảo đảm sự tương xứng trong quan hệ ngoại giao, đồng thời thể hiện tinh thần tôn trọng các cam kết và thông lệ quốc tế.

Các trường hợp người nước ngoài vào Việt Nam thực hiện công việc cứu trợ, giúp đỡ nhân đạo; tham gia hoạt động trao đổi giữa các bộ, ngành, địa phương theo nguyên tắc có đi có lại cũng thuộc diện được xem xét miễn theo quy định. Bên cạnh đó, người có công với cách mạng; công dân Việt Nam có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc gặp rủi ro trong những trường hợp cần thiết vì yêu cầu đối ngoại, nhân đạo cũng được đặt trong diện chính sách miễn phí, lệ phí.

Đối với lĩnh vực quốc tịch, Thông tư quy định miễn lệ phí xin nhập quốc tịch Việt Nam hoặc xin trở lại quốc tịch Việt Nam cho người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; người không quốc tịch xin nhập quốc tịch hoặc người mất quốc tịch xin trở lại quốc tịch nhưng có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, được cơ quan có thẩm quyền hoặc tổ chức, hội đoàn người Việt Nam ở nước sở tại xác nhận. Người gốc Việt Nam di cư từ Lào thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận đã hoàn thành thủ tục đăng ký theo điều ước quốc tế giữa Việt Nam và Lào cũng được áp dụng chính sách miễn theo quy định.

Một nội dung khác có ý nghĩa thiết thực là miễn lệ phí cấp hộ chiếu phổ thông theo thủ tục rút gọn đối với người phải về nước theo điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về việc nhận trở lại công dân.

Đặc biệt, chính sách miễn phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp được áp dụng đối với trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và một số nhóm cư trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Quy định này góp phần giảm gánh nặng chi phí cho những người có hoàn cảnh hoặc điều kiện tiếp cận dịch vụ còn hạn chế.

Có thể thấy, các trường hợp miễn phí, lệ phí không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ tài chính mà còn phản ánh cách tiếp cận chính sách lấy con người làm trung tâm. Trong quản lý nhà nước hiện đại, hiệu quả không chỉ được đánh giá bằng nguồn thu hay mức độ tuân thủ thủ tục mà còn thể hiện ở khả năng bảo đảm công bằng, hỗ trợ nhóm yếu thế và xử lý hài hòa các yêu cầu đối ngoại.

Từ minh bạch tài chính đến nâng cao chất lượng phục vụ đối ngoại

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cải cách hành chính đang được đẩy mạnh, việc ban hành quy định về phí, lệ phí ngoại giao cần được nhìn nhận trong mối quan hệ với yêu cầu hiện đại hóa hoạt động của các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

Thực tế cho thấy, công dân Việt Nam ở nước ngoài có nhu cầu ngày càng đa dạng đối với các dịch vụ lãnh sự. Không ít người sinh sống cách xa trụ sở cơ quan đại diện, phải di chuyển qua nhiều địa phương hoặc quốc gia để hoàn thiện giấy tờ. Vì vậy, bên cạnh việc quy định mức thu rõ ràng, chất lượng phục vụ, thời gian giải quyết và khả năng tiếp cận dịch vụ cũng là những yếu tố cần được quan tâm.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công khai biểu phí, tiếp nhận hồ sơ, hướng dẫn thủ tục, thanh toán và trả kết quả sẽ góp phần giảm chi phí xã hội, hạn chế việc đi lại nhiều lần, đồng thời tăng tính minh bạch trong hoạt động thu, nộp. Đặc biệt, khi thông tin được cập nhật thống nhất trên các nền tảng chính thức, người dân có thể chủ động tra cứu và tránh nguy cơ tiếp cận thông tin không chính xác.

Cùng với đó, công tác tổ chức thực hiện cần bảo đảm nguyên tắc thu đúng đối tượng, đúng mức, thực hiện đầy đủ các trường hợp miễn theo quy định; công khai quy trình, chứng từ và trách nhiệm của tổ chức thu. Việc hướng dẫn người dân cần được tiến hành rõ ràng, nhất quán, tránh phát sinh thủ tục không cần thiết hoặc tạo thêm gánh nặng hành chính.

Một vấn đề cũng cần được chú trọng là nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực hiện công tác lãnh sự. Trong môi trường quốc tế đa dạng về ngôn ngữ, văn hóa và hệ thống pháp luật, cán bộ không chỉ cần nắm vững quy định trong nước mà còn phải có kỹ năng giao tiếp, giải thích chính sách và hỗ trợ công dân trong những tình huống phát sinh. Sự chuyên nghiệp, tận tâm trong từng thủ tục cụ thể chính là một biểu hiện sinh động của chất lượng nền hành chính phục vụ.

Chính sách rõ ràng, nền tảng cho hội nhập chủ động và bền vững

Hội nhập quốc tế không chỉ được đo bằng quy mô hợp tác kinh tế, số lượng hiệp định được ký kết hay sự mở rộng quan hệ ngoại giao. Hội nhập còn được thể hiện qua những chính sách cụ thể tạo điều kiện cho con người di chuyển, giao lưu, học tập, làm việc và kết nối giữa Việt Nam với thế giới.

Ở góc độ đó, Thông tư số 163/2026/TT-BTC có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi điều chỉnh các khoản thu tài chính. Việc chuẩn hóa mức thu, quy định rõ các trường hợp miễn và xác lập cơ chế thực hiện thống nhất góp phần hoàn thiện nền tảng pháp lý cho hoạt động lãnh sự, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân liên quan.

Để chính sách phát huy hiệu quả, yêu cầu đặt ra là phải tổ chức thực hiện đồng bộ, công khai, dễ tiếp cận và lấy sự thuận tiện của người dân làm thước đo chất lượng. Các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần chủ động phổ biến quy định, hướng dẫn cụ thể từng thủ tục, đồng thời tiếp nhận phản ánh để kịp thời xử lý những vướng mắc trong thực tiễn.

Khi kỷ cương tài chính được bảo đảm, chính sách nhân văn được thực thi đầy đủ và chất lượng phục vụ không ngừng được nâng cao, hoạt động lãnh sự sẽ trở thành một trong những cầu nối thiết thực giữa Nhà nước với công dân, giữa Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Đó cũng là cách cụ thể hóa tinh thần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, minh bạch, hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, góp phần tạo dựng môi trường thuận lợi cho hội nhập quốc tế sâu rộng và bền vững.

Thanh Khê