Khơi dậy tiềm năng của nguồn lực trẻ trong giai đoạn phát triển mới
Thanh niên luôn là lực lượng có khả năng tiếp cận nhanh với tri thức mới, công nghệ mới và những phương thức tổ chức sản xuất, kinh doanh hiện đại. Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng số hóa, xanh hóa và hội nhập sâu rộng, phát huy nguồn lực trẻ không chỉ là nhiệm vụ của công tác thanh niên mà còn là yêu cầu chiến lược đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Ngày 19/10/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 535/TB-VPCP về kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại Chương trình đối thoại với thanh niên năm 2026. Thông báo nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục phát huy vai trò, vị trí của thanh niên; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp tạo điều kiện để thanh niên khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của đất nước.
Định hướng này thể hiện cách tiếp cận coi thanh niên vừa là đối tượng cần được quan tâm, hỗ trợ, vừa là chủ thể trực tiếp tham gia kiến tạo những giá trị phát triển mới. Khi được trang bị đầy đủ tri thức, kỹ năng, bản lĩnh và có cơ hội tiếp cận các nguồn lực cần thiết, người trẻ có thể trở thành lực lượng tiên phong trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, hình thành doanh nghiệp mới, phát triển các mô hình kinh doanh sáng tạo và giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn.
Thực tế cho thấy, thanh niên Việt Nam đã có nhiều đóng góp trong học tập, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, chuyển đổi số và hoạt động khởi nghiệp. Các kỹ sư, nhà khoa học, doanh nhân trẻ đang tham gia vào những lĩnh vực có hàm lượng tri thức cao như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, công nghệ tài chính và blockchain. Nhiều dự án công nghệ do người trẻ khởi xướng đã cho thấy khả năng biến ý tưởng thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh có giá trị.
Trong lĩnh vực chuyển đổi số, lực lượng thanh niên còn tích cực hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, phổ cập kỹ năng số và tham gia vận hành các tổ công nghệ số cộng đồng. Tại cơ sở, sự năng động của người trẻ góp phần đưa công nghệ đến gần hơn với đời sống, hỗ trợ chính quyền nâng cao hiệu quả phục vụ và giúp người dân thích ứng với phương thức tương tác mới trong môi trường số.
Những kết quả này cho thấy tiềm năng sáng tạo của thanh niên không chỉ nằm trong các phòng nghiên cứu, trường đại học hay doanh nghiệp công nghệ. Nguồn lực ấy hiện diện ở cả khu vực nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong các cơ sở sản xuất nhỏ, hợp tác xã, hộ kinh doanh và những sáng kiến giải quyết vấn đề cộng đồng.
Tuy nhiên, tiềm năng chỉ có thể chuyển hóa thành động lực phát triển khi được đặt trong một môi trường phù hợp. Ý tưởng tốt cần có cơ hội thử nghiệm; sản phẩm có triển vọng cần được tiếp cận thị trường; nhà khoa học trẻ cần điều kiện nghiên cứu; doanh nghiệp mới cần nguồn vốn và sự đồng hành về pháp lý, quản trị. Nếu thiếu những mắt xích này, nhiều sáng kiến có thể dừng lại ở quy mô nhỏ, khó vượt qua giai đoạn đầu để phát triển bền vững.
Bởi vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là khuyến khích thanh niên khởi nghiệp về tinh thần, mà phải tạo dựng một hệ thống chính sách có khả năng hỗ trợ họ bằng những điều kiện cụ thể, minh bạch và có thể tiếp cận trên thực tế.
Từ khuyến khích phong trào đến kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp thực chất
Một trong những nội dung đáng chú ý trong chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục triển khai hiệu quả các chủ trương về công tác thanh niên; lồng ghép các chỉ tiêu phát triển thanh niên vào quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và từng giai đoạn.
Đây là định hướng quan trọng nhằm đưa chính sách thanh niên từ phạm vi hoạt động chuyên biệt trở thành một bộ phận gắn kết với quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách phát triển. Thanh niên không chỉ tham gia các phong trào tình nguyện, thi đua hay hoạt động cộng đồng, mà cần có cơ hội đóng góp trực tiếp vào những quyết sách liên quan đến kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục, việc làm và quản trị địa phương.
Việc lấy ý kiến tổ chức Đoàn cùng cấp trong quá trình xây dựng, thực hiện các kế hoạch phát triển có thể giúp cơ quan quản lý nhận diện tốt hơn nhu cầu của người trẻ, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến việc làm, đào tạo nghề, môi trường kinh doanh và khả năng tiếp cận các chương trình hỗ trợ. Quan trọng hơn, quá trình tham vấn cần đi cùng cơ chế tiếp thu, phản hồi và giải trình rõ ràng, để tiếng nói của thanh niên thực sự được chuyển hóa thành những điều chỉnh chính sách phù hợp.
Một hệ sinh thái khởi nghiệp hiệu quả cần sự phối hợp của nhiều chủ thể: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và môi trường thuận lợi; cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu cung cấp tri thức và nguồn nhân lực; doanh nghiệp tạo không gian ứng dụng, thương mại hóa công nghệ; các tổ chức tài chính, nhà đầu tư cung cấp vốn; còn tổ chức Đoàn, Hội và mạng lưới chuyên gia đóng vai trò kết nối, tư vấn, đồng hành.
Trong hệ sinh thái ấy, cần chuyển mạnh từ hỗ trợ theo phong trào sang hỗ trợ dựa trên nhu cầu và kết quả. Một chương trình dành cho thanh niên khởi nghiệp không nên chỉ được đánh giá bằng số lượng cuộc thi, hội thảo hay ý tưởng được giới thiệu, mà cần quan tâm đến số dự án được hoàn thiện, sản phẩm được đưa ra thị trường, doanh nghiệp có khả năng duy trì hoạt động, việc làm được tạo ra và những vấn đề xã hội được giải quyết.
Cùng với đó, việc bố trí cán bộ trẻ có năng lực đảm nhận những nhiệm vụ phù hợp trong hệ thống chính trị cũng góp phần mở rộng cơ hội cống hiến, rèn luyện và trưởng thành cho thế hệ trẻ. Khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo không chỉ diễn ra trong khu vực doanh nghiệp; tinh thần đổi mới còn cần được thúc đẩy trong hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và tổ chức thực hiện chính sách.
Khơi thông nguồn vốn, giảm rào cản gia nhập thị trường
Thiếu vốn là một trong những trở ngại phổ biến đối với người trẻ khi bắt đầu hoạt động kinh doanh. Không ít ý tưởng có tiềm năng nhưng chưa thể triển khai do người khởi nghiệp thiếu tài sản bảo đảm, kinh nghiệm quản trị tài chính hoặc lịch sử tín dụng. Với các dự án công nghệ, khoảng cách giữa giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa còn có thể kéo dài, khiến nhu cầu vốn lớn hơn trong khi khả năng tạo doanh thu ban đầu còn hạn chế.
Nhận diện vấn đề này, Thông báo số 535/TB-VPCP yêu cầu Bộ Tài chính nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm khơi thông và đa dạng hóa nguồn vốn cho thanh niên khởi nghiệp, doanh nghiệp trẻ và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Đồng thời, cần huy động nguồn lực xã hội, lồng ghép và sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhà nước dành cho những chương trình, đề án hỗ trợ khởi nghiệp và tạo việc làm.
Về phương diện thực thi, đa dạng hóa nguồn vốn cần được hiểu là mở rộng khả năng lựa chọn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của dự án. Với những ý tưởng mới, nguồn tài trợ nghiên cứu, chương trình ươm tạo, hỗ trợ thử nghiệm và các cuộc thi có cơ chế tài trợ minh bạch có thể giúp người trẻ hoàn thiện sản phẩm. Khi dự án đã chứng minh được tính khả thi, các hình thức đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư, tín dụng phù hợp và hợp tác với doanh nghiệp có thể trở thành nguồn lực quan trọng để mở rộng quy mô.
Điều cần chú trọng là thiết kế cơ chế tiếp cận vốn tương xứng với đặc điểm của doanh nghiệp trẻ, nhưng vẫn bảo đảm kỷ luật tài chính, minh bạch và quản trị rủi ro. Hỗ trợ khởi nghiệp không đồng nghĩa với cấp vốn thiếu điều kiện hoặc hạ thấp các tiêu chuẩn quản lý. Mục tiêu là giúp dự án có triển vọng tiếp cận đúng nguồn lực, giảm những chi phí không cần thiết và nâng cao khả năng tồn tại bằng năng lực thực chất.
Cùng với nguồn vốn, cải cách thủ tục hành chính và giảm chi phí thành lập, vận hành doanh nghiệp có ý nghĩa trực tiếp đối với người khởi nghiệp. Một môi trường kinh doanh thuận lợi phải giúp người trẻ hiểu rõ quy định, thực hiện thủ tục thuận tiện, tiếp cận thông tin chính thống và giảm thời gian xử lý những công việc hành chính không tạo ra giá trị gia tăng.
Việc tiếp thu ý kiến của thanh niên đối với quá trình hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có doanh nghiệp trẻ và doanh nghiệp do thanh niên làm chủ, cũng là cơ hội để chính sách sát hơn với thực tiễn. Đặc biệt, các doanh nghiệp quy mô nhỏ, doanh nghiệp một người cần được quan tâm đúng mức bởi đây có thể là bước khởi đầu để hình thành những mô hình kinh doanh mới, tạo sinh kế và từng bước phát triển thành doanh nghiệp có quy mô lớn hơn.
Hiệu quả chính sách vì thế không chỉ được đo bằng tổng nguồn vốn huy động, mà còn bằng mức độ tiếp cận của người thụ hưởng, chi phí thực tế để tiếp cận nguồn lực và khả năng chuyển hóa vốn thành sản phẩm, doanh thu, việc làm và giá trị xã hội.
Liên kết Nhà nước – viện, trường – doanh nghiệp: Đưa tri thức vào thực tiễn
Trong nền kinh tế dựa trên tri thức, lợi thế cạnh tranh ngày càng phụ thuộc vào khả năng làm chủ công nghệ, tổ chức nghiên cứu và thương mại hóa kết quả sáng tạo. Đối với thanh niên, đặc biệt là đội ngũ sinh viên, kỹ sư, nhà nghiên cứu trẻ, sự liên kết giữa cơ quan quản lý, cơ sở khoa học và doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định trong việc rút ngắn khoảng cách từ ý tưởng đến ứng dụng.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ thúc đẩy các nhiệm vụ nghiên cứu gắn với nhu cầu của người dân, doanh nghiệp và xã hội; tạo điều kiện để nhà khoa học, kỹ sư trẻ tham gia, đề xuất và chủ trì những nhiệm vụ phù hợp. Việc phát huy hiệu quả các quỹ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng được đặt ra nhằm hỗ trợ các nhà khoa học trẻ, nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Định hướng này nhấn mạnh một yêu cầu quan trọng: hoạt động nghiên cứu cần gắn với những bài toán cụ thể của nền kinh tế, thay vì chỉ dừng lại ở kết quả học thuật. Khi doanh nghiệp tham gia xác định nhu cầu công nghệ, cơ sở nghiên cứu có điều kiện định hướng sản phẩm phù hợp hơn; khi nhà khoa học được tiếp cận dữ liệu, dây chuyền và môi trường thử nghiệm thực tế, kết quả nghiên cứu có cơ hội được hoàn thiện nhanh hơn; còn khi Nhà nước xây dựng cơ chế đặt hàng và hỗ trợ phù hợp, các bên có thêm động lực chia sẻ nguồn lực và rủi ro.
Đối với các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, phát triển nguồn nhân lực trẻ chất lượng cao cần được tiến hành đồng thời với đầu tư hạ tầng nghiên cứu, nâng cao chất lượng đào tạo và mở rộng cơ hội tham gia các dự án thực tế. Không thể kỳ vọng hình thành đội ngũ chuyên gia có năng lực cạnh tranh quốc tế nếu người trẻ thiếu điều kiện thực hành, thiếu môi trường nghiên cứu liên ngành và thiếu cơ hội tiếp xúc với những công nghệ tiên tiến.
Bên cạnh đó, việc khai thác hiệu quả các trung tâm thí nghiệm và hạ tầng nghiên cứu dùng chung sẽ giúp giảm chi phí ban đầu cho nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp khởi nghiệp. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng với những dự án chưa đủ khả năng đầu tư thiết bị riêng nhưng cần thử nghiệm, đánh giá và hoàn thiện công nghệ trước khi đưa sản phẩm ra thị trường.
Liên kết ba nhà chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi xác định rõ trách nhiệm của từng bên, cơ chế chia sẻ lợi ích, quyền sở hữu trí tuệ và phương thức đánh giá kết quả. Một công trình nghiên cứu có giá trị không chỉ nằm ở số lượng công bố, mà còn ở khả năng giải quyết vấn đề thực tế, nâng cao năng suất, giảm chi phí, tạo ra sản phẩm mới và mở rộng năng lực công nghệ trong nước.
Phát triển kỹ năng, làm chủ công nghệ và thích ứng với thị trường lao động
Sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ đang làm biến đổi cơ cấu việc làm và yêu cầu năng lực nghề nghiệp. Nhiều công việc truyền thống được tự động hóa, trong khi những vị trí mới xuất hiện đòi hỏi kỹ năng số, tư duy phân tích, khả năng làm việc liên ngành và năng lực thích ứng liên tục.
Vì vậy, đầu tư cho khởi nghiệp thanh niên phải bắt đầu từ nền tảng giáo dục và phát triển năng lực con người. Theo định hướng của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chú trọng phát triển tư duy, năng lực đổi mới sáng tạo, thực hành, ngoại ngữ, kỹ năng số và khả năng sử dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, có trách nhiệm; đồng thời tăng cường hướng nghiệp, phân luồng và gắn kết cơ sở giáo dục với doanh nghiệp, thị trường lao động.
Đây là yêu cầu vượt ra ngoài việc bổ sung một số môn học hay kỹ năng công nghệ. Giáo dục cần tạo điều kiện để người học biết phát hiện vấn đề, xây dựng giả thuyết, thử nghiệm giải pháp, làm việc nhóm, đánh giá rủi ro và chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Những năng lực này vừa cần thiết cho người khởi nghiệp, vừa có ý nghĩa đối với người lao động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
Đối với trí tuệ nhân tạo, yêu cầu đặt ra không chỉ là biết sử dụng công cụ mà còn phải hiểu giới hạn, kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. Nếu phụ thuộc vào công nghệ mà thiếu tư duy phản biện, người trẻ có thể đối mặt với nguy cơ suy giảm năng lực tự học, đánh giá và sáng tạo độc lập. Ngược lại, khi được sử dụng đúng cách, công nghệ có thể giúp giảm chi phí thử nghiệm, tăng năng suất và mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức.
Cùng với giáo dục, việc nâng cao chất lượng dự báo nhu cầu nhân lực và kết nối cung - cầu lao động cần được đẩy mạnh. Hệ thống tư vấn, giới thiệu việc làm và kết nối tuyển dụng trên nền tảng số có thể giúp thanh niên tiếp cận thông tin nhanh hơn, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm nhân lực phù hợp. Dữ liệu thị trường lao động cần được chuyển hóa thành thông tin hữu ích cho cơ sở đào tạo, người học và cơ quan hoạch định chính sách.
Đáng chú ý, khởi nghiệp không nên được xem là con đường duy nhất để thể hiện năng lực của thanh niên. Việc làm trong doanh nghiệp, nghiên cứu khoa học, phát triển kỹ năng nghề nghiệp hay tham gia các hoạt động quản lý đều có thể tạo ra giá trị. Một chính sách phát triển thanh niên hiệu quả phải mở rộng lựa chọn, giúp mỗi người tìm được con đường phù hợp với năng lực và điều kiện của mình.
Mở rộng cơ hội khởi nghiệp từ nông thôn đến thị trường quốc tế
Một hệ sinh thái khởi nghiệp chỉ thực sự toàn diện khi cơ hội phát triển không tập trung ở một số đô thị lớn hoặc một nhóm thanh niên có điều kiện thuận lợi. Người trẻ tại nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn còn khó khăn cũng có khả năng tạo ra những mô hình kinh tế hiệu quả nếu được tiếp cận tri thức, vốn, công nghệ và thị trường.
Chính phủ đặt ra yêu cầu rà soát, tháo gỡ khó khăn trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn; tạo điều kiện để thanh niên tham gia sản xuất, kinh doanh và thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia. Đây là định hướng có ý nghĩa thiết thực đối với việc phát triển sinh kế bền vững, khai thác lợi thế địa phương và thu hẹp khoảng cách cơ hội giữa các vùng.
Trong nông nghiệp, người trẻ có thể ứng dụng công nghệ số vào quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và kết nối tiêu thụ. Trong lĩnh vực du lịch, văn hóa và dịch vụ, các mô hình dựa trên tài nguyên bản địa, di sản, sản phẩm đặc trưng và kinh tế trải nghiệm có thể tạo thêm giá trị cho cộng đồng. Đối với sản phẩm OCOP và nông sản địa phương, thương mại điện tử mở ra khả năng tiếp cận khách hàng ngoài phạm vi địa lý truyền thống.
Tuy nhiên, công nghệ và nền tảng trực tuyến không tự động bảo đảm đầu ra. Muốn phát triển bền vững, các mô hình khởi nghiệp nông thôn vẫn cần đáp ứng yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm, quản trị chuỗi cung ứng, xây dựng thương hiệu và năng lực tổ chức sản xuất. Vì vậy, hỗ trợ thanh niên cần kết hợp đào tạo với tư vấn chuyên môn, liên kết hợp tác xã và doanh nghiệp, xúc tiến thương mại và xây dựng kênh phân phối ổn định.
Ở chiều hội nhập, Bộ Công Thương được giao tăng cường đào tạo, tư vấn cho doanh nghiệp do thanh niên làm chủ về chiến lược tiếp cận thị trường quốc tế, xây dựng thương hiệu, bảo hộ sở hữu trí tuệ và cập nhật tiêu chuẩn, quy định của thị trường. Hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung - cầu và phát triển thương mại điện tử cũng cần quan tâm đến sản phẩm khởi nghiệp, sản phẩm đổi mới sáng tạo và hàng hóa có lợi thế địa phương.
Để bước ra thị trường quốc tế, doanh nghiệp trẻ phải chuyển từ tư duy chỉ bán được sản phẩm sang xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn. Điều đó đòi hỏi khả năng kiểm soát chất lượng, bảo đảm nguồn cung, tuân thủ quy định, bảo vệ thương hiệu và nắm bắt xu hướng tiêu dùng. Sự hỗ trợ về thông tin thị trường và kết nối với hệ thống thương vụ có thể giúp giảm bất cân xứng thông tin, nhưng thành công cuối cùng vẫn phụ thuộc vào năng lực nội tại của doanh nghiệp.
Cùng với cơ hội kinh doanh, điều kiện ổn định cuộc sống cũng có ảnh hưởng đến khả năng lập nghiệp của thanh niên. Việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế tín dụng mua, thuê mua nhà ở xã hội đối với người trẻ dưới 35 tuổi và nghiên cứu chính sách thuê nhà dài hạn có thể góp phần giảm áp lực an cư, giúp người trẻ chủ động hơn trong học tập, làm việc và phát triển sự nghiệp.
Chuyển hóa chính sách thành kết quả đo lường được
Những định hướng của Chính phủ cho thấy phát triển thanh niên cần được triển khai đồng bộ từ thể chế, vốn, khoa học - công nghệ, giáo dục đến thị trường lao động và môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chủ trương và kết quả thực tế chỉ có thể được thu hẹp khi mỗi nhiệm vụ được cụ thể hóa bằng trách nhiệm, nguồn lực, tiến độ và tiêu chí đánh giá rõ ràng.
Đối với các bộ, ngành và địa phương, trước hết cần xác định những điểm nghẽn cụ thể đang cản trở thanh niên khởi nghiệp trong từng lĩnh vực, từng địa bàn. Trên cơ sở đó, xây dựng chương trình hỗ trợ có trọng tâm, tránh dàn trải nguồn lực hoặc trùng lặp giữa các cơ quan. Những mô hình đã chứng minh hiệu quả cần được đánh giá, hoàn thiện và nhân rộng trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế.
Cần chú trọng cơ chế đặt hàng thanh niên, trí thức trẻ và doanh nghiệp trẻ giải quyết những vấn đề phát triển của địa phương. Các bài toán về cải cách thủ tục hành chính, quản lý môi trường, phát triển du lịch, nâng cao chất lượng nông sản, chuyển đổi số hay sử dụng năng lượng hiệu quả có thể trở thành không gian thực tiễn để người trẻ phát huy năng lực. Cách làm này đồng thời giúp cơ quan quản lý tiếp cận những sáng kiến mới và tạo thêm cơ hội cho doanh nghiệp trẻ phát triển sản phẩm.
Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam cần tiếp tục phát huy vai trò đại diện, kết nối thanh niên với nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ sở đào tạo; đồng thời tổng hợp kiến nghị từ thực tiễn để tham gia hoàn thiện chính sách. Hoạt động hỗ trợ cần được tổ chức linh hoạt, phù hợp với nhu cầu của từng nhóm thanh niên, từ sinh viên, nhà nghiên cứu, doanh nhân trẻ đến thanh niên nông thôn và người mới tham gia thị trường lao động.
Về phía thanh niên, cơ hội chính sách cần đi cùng tinh thần chủ động học tập, rèn luyện, tuân thủ pháp luật và nâng cao trách nhiệm xã hội. Khởi nghiệp không chỉ là tìm kiếm lợi nhuận mà còn là quá trình tạo ra giá trị cho khách hàng, người lao động và cộng đồng. Một doanh nghiệp trẻ phát triển bền vững phải dựa trên sản phẩm có chất lượng, mô hình kinh doanh khả thi, quản trị minh bạch và khả năng thích ứng trước biến động của thị trường.
Đặc biệt, trong môi trường số, người trẻ cần xây dựng bản lĩnh trước thông tin sai lệch, tránh chạy theo những trào lưu thiếu cơ sở và không đánh đồng sự nổi tiếng trên mạng với năng lực kinh doanh thực chất. Tinh thần dám nghĩ, dám làm phải đi cùng khả năng tính toán, học hỏi từ thất bại và kiên trì cải tiến sản phẩm.
Về lâu dài, có thể đánh giá hiệu quả chính sách thông qua những chỉ tiêu gắn với kết quả thực tế như khả năng tiếp cận chương trình hỗ trợ, tỷ lệ dự án chuyển sang giai đoạn thương mại hóa, số việc làm bền vững được tạo ra, mức độ tham gia của thanh niên ở vùng khó khăn và hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu. Những tiêu chí này cần được thiết kế phù hợp với từng chương trình, tránh áp dụng máy móc một bộ chỉ số cho mọi loại hình khởi nghiệp.
Tạo điều kiện cho thanh niên khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, xét đến cùng, là đầu tư cho năng lực phát triển dài hạn của quốc gia. Khi người trẻ được trao cơ hội, được tiếp cận nguồn lực công bằng và được khuyến khích giải quyết những vấn đề thực tiễn, khát vọng cá nhân có thể trở thành động lực tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới công nghệ và hình thành các giá trị kinh tế - xã hội mới.
Một hệ sinh thái khởi nghiệp mạnh không được hình thành chỉ bằng những khẩu hiệu cổ vũ tinh thần, mà bằng thể chế thông thoáng, nguồn lực phù hợp, giáo dục thực chất, thị trường rộng mở và cơ chế đồng hành có trách nhiệm. Từ những định hướng được đặt ra tại Chương trình đối thoại với thanh niên năm 2026, yêu cầu quan trọng trong giai đoạn tiếp theo là tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ và đo lường được kết quả.
Khi chính sách thực sự mở đường, khoa học và doanh nghiệp cùng đồng hành, còn thanh niên chủ động phát huy trí tuệ và bản lĩnh, khởi nghiệp sẽ không chỉ là con đường lập thân, lập nghiệp của từng cá nhân mà còn trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước nhanh, bền vững.




