29/10/2026 lúc 10:47 (GMT+7)
Breaking News

Nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật từ Chương trình lập pháp năm 2027

Tóm tắt: Việc phân công 12 bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì xây dựng 22 dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2027 đặt ra yêu cầu kết hợp giữa tiến độ, chất lượng chính sách và hiệu quả thi hành pháp luật. Trọng tâm không chỉ là hoàn thành nhiệm vụ theo kế hoạch, mà còn là xây dựng quy định có căn cứ khoa học, phù hợp thực tiễn, bảo đảm tính thống nhất và phát huy nguồn lực xã hội.

Từ khóa: Chương trình lập pháp năm 2027; hoàn thiện thể chế; chất lượng chính sách; xây dựng pháp luật; thi hành pháp luật.

HOÀN THIỆN THỂ CHẾ TỪ YÊU CẦU THỰC TIỄN

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác xây dựng pháp luật giữ vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp và tạo lập khuôn khổ pháp lý cho quản lý nhà nước, các quan hệ xã hội. Chất lượng hệ thống pháp luật không chỉ ảnh hưởng đến hiệu lực quản lý, mà còn tác động đến môi trường đầu tư, kinh doanh, khả năng huy động nguồn lực và việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.

Nâng cao chất lượng xây dựng và thi hành pháp luật là yêu cầu quan trọng nhằm hoàn thiện thể chế, bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch và khả thi của hệ thống pháp luật

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp, nâng cao chất lượng chính sách, khắc phục quy định chồng chéo, thiếu khả thi và gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng với thi hành pháp luật. Theo đó, hoạt động lập pháp cần hướng đến giải quyết vấn đề thực tiễn, bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và khả năng dự báo của hệ thống pháp luật.

Nghị quyết số 20/2026/UBTVQH16 ngày 21/9/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xác lập Chương trình lập pháp năm 2027 với 23 dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết: 9 dự án luật dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp thứ ba vào tháng 5/2027; 12 dự án luật tại kỳ họp thứ tư vào tháng 10/2027; một dự án pháp lệnh và một dự án nghị quyết trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong năm 2027.

Để triển khai chương trình, Quyết định số 2061/QĐ-TTg về phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình giao 12 bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì xây dựng 22 dự án, gồm 8 dự án luật phục vụ kỳ họp thứ ba, 12 dự án luật phục vụ kỳ họp thứ tư, một dự án pháp lệnh và một dự án nghị quyết. Số 23 phản ánh toàn bộ chương trình, còn 22 là phạm vi dự án thuộc danh mục phân công; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân nằm trong chương trình nhưng không thuộc nhóm 22 dự án được liệt kê tại quyết định phân công.

Các dự án được phân công trải rộng từ quốc phòng, an ninh, đối ngoại đến doanh nghiệp, thuế, khoa học – công nghệ, lao động, nông nghiệp, tài nguyên, môi trường và hạ tầng. Phạm vi này cho thấy hoàn thiện thể chế cần được đặt trong tổng thể vận hành của hệ thống pháp luật, thay vì chỉ xem xét riêng từng ngành. Quy mô chương trình phản ánh khối lượng nhiệm vụ, nhưng chưa tự thân bảo đảm chất lượng: giá trị của hoạt động lập pháp phải được đánh giá bằng những vấn đề được giải quyết, mức độ phù hợp của chính sách và khả năng thực thi sau khi văn bản được ban hành.

ĐỔI MỚI TƯ DUY LẬP PHÁP, LẤY CHẤT LƯỢNG CHÍNH SÁCH LÀM TRỌNG TÂM

Một yêu cầu quan trọng là xác định đúng vấn đề cần điều chỉnh. Quy định chưa phát huy hiệu quả không phải lúc nào cũng do thiếu quy phạm pháp luật; nguyên nhân có thể nằm ở khâu tổ chức thực hiện, năng lực cơ quan thi hành, sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản hoặc thay đổi của điều kiện kinh tế – xã hội. Nếu không nhận diện đúng nguyên nhân, việc sửa đổi luật có thể làm tăng số lượng quy định nhưng chưa giải quyết được vướng mắc ban đầu.

Vì vậy, trước khi xây dựng hoặc sửa đổi luật, cần tổng kết thực tiễn, phân tích nguyên nhân bất cập và xác định rõ mục tiêu chính sách. Cơ quan chủ trì soạn thảo cần so sánh các phương án, làm rõ lợi ích, chi phí, rủi ro và điều kiện thực hiện. Đánh giá tác động chính sách phải xem xét ảnh hưởng đối với người dân, doanh nghiệp, ngân sách, môi trường và các chủ thể liên quan; đồng thời tính đến chi phí tuân thủ, thời gian thực hiện thủ tục, nhu cầu nhân lực và khả năng tiếp cận quy định. Việc lựa chọn giải pháp cần dựa trên bằng chứng, thay vì mặc nhiên coi bổ sung quy định là phương án tối ưu.

Đối với dự án Luật Doanh nghiệp (sửa đổi), cần cân nhắc mối quan hệ giữa yêu cầu quản lý, quyền tự chủ kinh doanh, minh bạch trong quản trị và chi phí tuân thủ. Quy định hợp lý phải vừa tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh hợp pháp, vừa duy trì cơ chế bảo đảm tính công khai, trách nhiệm và trật tự pháp lý. Tương tự, các dự án về cấp, thoát nước, vật liệu xây dựng, đê điều và phòng, chống thiên tai cần được xem xét trong mối liên hệ giữa quy hoạch, đầu tư hạ tầng, bảo vệ môi trường, phân công trách nhiệm và nguồn lực thực hiện. Hiệu quả chính sách phụ thuộc không chỉ vào nội dung điều chỉnh, mà còn vào khả năng phối hợp giữa cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và đơn vị cung cấp dịch vụ.

Lấy ý kiến đối tượng chịu tác động cũng cần trở thành khâu thực chất của quy trình xây dựng chính sách. Người dân, doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp, chuyên gia và chính quyền địa phương có thể cung cấp thông tin mà cơ quan soạn thảo khó nhận diện đầy đủ chỉ từ hồ sơ hành chính. Tham vấn cần được tiến hành đủ sớm, có phạm vi phù hợp và đi kèm cơ chế tổng hợp, tiếp thu, giải trình rõ ràng. Giá trị của tham vấn không nằm ở số lượng ý kiến, mà ở khả năng sử dụng ý kiến để hoàn thiện phương án; những ý kiến không được tiếp thu cần được giải trình trên cơ sở pháp lý và thực tiễn.

Cách tiếp cận này phù hợp với Nghị quyết số 66-NQ/TW về nâng cao chất lượng xây dựng và thi hành pháp luật, trong đó nhấn mạnh yêu cầu tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động và nâng cao chất lượng tiếp thu, giải trình. Đổi mới tư duy lập pháp vì thế phải bắt đầu từ cách nhận diện vấn đề, lựa chọn giải pháp đến tổ chức tham vấn và kiểm chứng tính khả thi của quy định.

SIẾT CHẶT KỶ LUẬT LẬP PHÁP, NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN CHỦ TRÌ

Chất lượng chính sách cần được bảo đảm bằng quy trình xây dựng pháp luật có kỷ luật, chuyên nghiệp và rõ trách nhiệm. Việc xác định cơ quan chủ trì, thời hạn trình và trách nhiệm người đứng đầu tạo cơ sở theo dõi tiến độ, phân định nhiệm vụ và xử lý khó khăn. Tuy nhiên, kỷ luật thời hạn chỉ có ý nghĩa khi đi cùng chất lượng hồ sơ và việc tuân thủ đầy đủ quy trình pháp luật.

Theo yêu cầu phân công, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ được giao chủ trì phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về chất lượng, tiến độ dự án; hồ sơ chính sách và hồ sơ dự án phải được chuẩn bị đầy đủ theo quy định. Các cơ quan phải trình Chính phủ trước ngày 15 của tháng được phân công, trừ trường hợp có chỉ đạo khác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc các Phó Thủ tướng Chính phủ.

Đối với 8 dự án luật dự kiến phục vụ kỳ họp thứ ba, thời hạn trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội là tháng 2 và tháng 3/2027; với 12 dự án luật phục vụ kỳ họp thứ tư, thời hạn là tháng 7 và tháng 8/2027. Bộ Y tế chủ trì xây dựng dự án pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm, trình vào tháng 9/2027. Bộ Tài chính chủ trì xây dựng dự án nghị quyết về mức chi tổ chức và hoạt động bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2028–2030, trình vào tháng 11–12/2027.

Các mốc này đòi hỏi kế hoạch chuẩn bị hồ sơ, đánh giá tác động, thẩm định và phối hợp liên ngành phải được xây dựng từ sớm. Nếu tổng kết thực tiễn muộn, phương án chính sách chưa thống nhất hoặc ý kiến giữa các cơ quan còn khác biệt, thời gian dành cho đánh giá và chỉnh lý sẽ bị thu hẹp. Vì vậy, quản trị tiến độ cần gắn với quản trị chất lượng. Cơ quan chủ trì cần xác định rõ nội dung lấy ý kiến, thời hạn phản hồi, trách nhiệm xử lý và cơ chế giải quyết khác biệt; cơ quan thẩm định, thẩm tra phải tham gia đúng thời điểm, tập trung vào căn cứ pháp lý, tính thống nhất, tác động chính sách và điều kiện thực hiện.

Phối hợp liên ngành càng quan trọng với các dự án có phạm vi điều chỉnh giao thoa. Những quy định về thuế, doanh nghiệp, khoa học – công nghệ và quản lý tài nguyên có thể đồng thời tác động đến môi trường kinh doanh, nguồn thu ngân sách, đổi mới sáng tạo và mục tiêu phát triển bền vững. Nếu chỉ xem xét từng chính sách trong phạm vi riêng của một ngành, nguy cơ thiếu đồng bộ sẽ khó được nhận diện đầy đủ.

Kiểm soát quyền lực và phòng ngừa lợi ích nhóm phải được đặt xuyên suốt quá trình xây dựng pháp luật. Những quy định ảnh hưởng đến quyền kinh doanh, phân bổ nguồn lực, nghĩa vụ tài chính hoặc điều kiện tiếp cận thị trường cần được xem xét trên cơ sở lợi ích công, bảo đảm minh bạch và có cơ chế giải trình. Nghị quyết số 20/2026/UBTVQH16 nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng công tác lập pháp, kiểm soát quyền lực và không để lồng ghép lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ. Yêu cầu này cần được cụ thể hóa trong chuẩn bị chính sách, tham vấn, giải trình và rà soát dự thảo.

GẮN XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỚI HIỆU QUẢ THI HÀNH

Một đạo luật chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi quy định được chuyển hóa thành hành động trong thực tiễn. Vì vậy, xây dựng pháp luật cần được nhìn nhận như một quá trình liên tục, từ thiết kế chính sách, ban hành quy định đến tổ chức thực hiện, theo dõi kết quả và điều chỉnh khi cần thiết.

Việc chuẩn bị đồng bộ các văn bản quy định chi tiết ngay trong quá trình xây dựng dự án luật có ý nghĩa quan trọng. Nếu nội dung cần hướng dẫn chưa được chuẩn bị kịp thời, quá trình triển khai có thể phát sinh khoảng trống pháp lý hoặc cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan. Cơ quan chủ trì cần rà soát đầy đủ nội dung được giao quy định chi tiết, xác định thẩm quyền ban hành và chủ động chuẩn bị dự thảo văn bản hướng dẫn, hướng tới bảo đảm hiệu lực cùng thời điểm với văn bản luật.

Điều kiện thực thi cũng phải được tính toán từ khâu thiết kế chính sách. Quy định mới về trách nhiệm quản lý, trình tự thủ tục hoặc nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân cần gắn với đánh giá về nhân lực, kinh phí, dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật và năng lực cơ quan thực hiện. Với lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động, hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào nghĩa vụ của người sử dụng lao động, mà còn gắn với hướng dẫn, kiểm tra và bảo vệ người lao động. Trong phòng, chống thiên tai, quy định pháp luật cần kết nối với năng lực dự báo, cảnh báo, tổ chức ứng phó và phối hợp giữa các cấp chính quyền.

Cùng với chuẩn bị điều kiện thực thi, cần tăng cường theo dõi, đánh giá sau khi chính sách được ban hành. Phản ánh của người dân, doanh nghiệp, kết quả kiểm tra và tổng kết thực tiễn giúp nhận diện quy định gây khó khăn, vấn đề chưa được dự liệu hoặc điều kiện thực hiện đã thay đổi. Đây là cơ sở để điều chỉnh chính sách kịp thời, hạn chế bất cập kéo dài. Trong điều kiện chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu pháp luật và công cụ công nghệ có thể hỗ trợ tra cứu, rà soát văn bản, nhưng không thay thế trách nhiệm chuyên môn, kiểm chứng thông tin và đánh giá tác động chính sách.

Gắn kết xây dựng với thi hành pháp luật vì thế đồng nghĩa với việc chuyển từ chú trọng hoàn thành văn bản sang quan tâm đến kết quả mà văn bản tạo ra trong đời sống xã hội.

Việc phân công 12 bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì xây dựng 22 dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2027 đặt ra khối lượng công việc đáng kể, đồng thời đòi hỏi tiếp tục đổi mới cách thức xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Để các nhiệm vụ lập pháp đáp ứng yêu cầu phát triển, cần xác định đúng vấn đề chính sách, thực hiện đúng tiến độ và thiết kế quy định có khả năng thi hành.

Trách nhiệm của cơ quan chủ trì phải gắn với chất lượng hồ sơ và hiệu quả chính sách; phối hợp liên ngành cần được thực hiện từ sớm; đánh giá tác động, tham vấn phải đi vào thực chất; điều kiện thi hành phải được chuẩn bị đồng bộ. Về lâu dài, hiệu quả chương trình lập pháp không nên chỉ được nhìn nhận qua số lượng dự án hoàn thành hoặc thời hạn trình văn bản, mà cần được đánh giá bằng khả năng tháo gỡ vướng mắc, nâng cao tính minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, cải thiện hiệu lực quản lý nhà nước và tạo lập môi trường phát triển ổn định. Khi chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi trở thành tiêu chí xuyên suốt, công tác xây dựng pháp luật mới thực sự phát huy vai trò nền tảng của thể chế đối với phát triển nhanh và bền vững đất nước./.

TS. Mai Anh Hòa