Năm 2026, các công trình, dự án trọng điểm ngành giao thông vận tải được bố trí nguồn vốn trên 255.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, đến hết tháng 8, giá trị giải ngân mới đạt khoảng 95.000 tỷ đồng, tương đương 38%, thấp hơn đáng kể mức giải ngân chung của cả nước. Khoảng cách giữa nguồn lực được bố trí và khả năng chuyển hóa nguồn lực thành khối lượng đầu tư đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về đổi mới phương thức quản trị dự án, phân định trách nhiệm, xử lý điểm nghẽn và điều phối vốn. Kết luận tại Thông báo số 497/TB-VPCP ngày 24/9/2026 của Văn phòng Chính phủ cho thấy trọng tâm điều hành đã chuyển mạnh từ yêu cầu “đẩy nhanh” sang quản trị theo kết quả, gắn tiến độ với trách nhiệm và hiệu quả sử dụng vốn. Đây không chỉ là giải pháp cho những tháng cuối năm 2026 mà còn là phép thử đối với năng lực quản trị đầu tư công trong giai đoạn phát triển hạ tầng quy mô lớn.
Từ khóa: đầu tư công; giải ngân; giao thông trọng điểm; quản trị dự án; hạ tầng; trách nhiệm thực thi.
![]()
Ảnh minh họa - TL
Khoảng cách giữa nguồn lực và năng lực thực thi
Hạ tầng giao thông đang được xác định là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng và mở rộng không gian phát triển. Trong năm 2026, Chính phủ bố trí trên 255.000 tỷ đồng cho các công trình, dự án trọng điểm ngành giao thông vận tải. Quy mô nguồn lực này cho thấy mức độ ưu tiên rất lớn của Nhà nước đối với kết cấu hạ tầng, đồng thời đặt ra yêu cầu tương ứng về năng lực tổ chức thực hiện.
Theo thông tin được Văn phòng Chính phủ công bố tại Thông báo số 497/TB-VPCP ngày 24/9/2026, đến thời điểm báo cáo, các công trình, dự án trọng điểm ngành giao thông vận tải mới giải ngân khoảng trên 95.000 tỷ đồng, đạt khoảng 38% kế hoạch. Trong khi đó, tỷ lệ giải ngân bình quân chung của cả nước đã gần 50%. Một số dự án có quy mô vốn lớn nhưng tỷ lệ giải ngân dưới 30%; đáng chú ý, có 12 dự án có tỷ lệ giải ngân dưới 5%, với tổng vốn khoảng trên 93.000 tỷ đồng.
Nhìn từ góc độ quản lý, những con số trên không đơn thuần phản ánh vấn đề “giải ngân chậm”. Đằng sau tỷ lệ giải ngân là câu chuyện về năng lực chuẩn bị đầu tư, chất lượng hồ sơ, giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu, năng lực nhà thầu, tổ chức thi công, thủ tục thanh toán và khả năng phối hợp giữa các cơ quan.
Đặc biệt, cần phân biệt rõ giữa dự án chưa giải ngân do đang ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư với dự án đã đủ điều kiện triển khai nhưng chậm thực hiện. Theo báo cáo tại cuộc họp ngày 22/9, trong 12 dự án có tỷ lệ giải ngân dưới 5%, có 6 dự án đang chuẩn bị đầu tư và 6 dự án đang thực hiện đầu tư; trong đó có 3 dự án đã triển khai nhưng chưa giải ngân.
Sự phân hóa này rất quan trọng đối với công tác điều hành. Nếu tất cả dự án đều được nhìn nhận dưới một chỉ tiêu tỷ lệ giải ngân thì có thể dẫn tới cách xử lý bình quân, trong khi nguyên nhân và khả năng khắc phục của từng dự án hoàn toàn khác nhau.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là “giải ngân nhanh hơn”, mà phải quản trị từng dự án theo trạng thái thực tế, xác định đúng điểm nghẽn, đúng chủ thể chịu trách nhiệm và đúng thời hạn xử lý.
Đây chính là điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận mới được thể hiện tại Thông báo 497/TB-VPCP: vướng mắc ở cấp nào thì cấp đó phải giải quyết; không né tránh, không đùn đẩy; đồng thời kiên quyết điều chuyển vốn từ dự án giải ngân chậm sang dự án có khả năng giải ngân tốt hơn.
Giải ngân phải gắn với quản trị trách nhiệm
Trong quản lý đầu tư công, giải ngân thường được nhìn nhận như khâu cuối của một chuỗi quy trình. Tuy nhiên, trên thực tế, khả năng giải ngân lại phụ thuộc vào hàng loạt quyết định được thực hiện từ rất sớm.
Một dự án muốn giải ngân tốt phải có công tác chuẩn bị đầu tư đầy đủ; thiết kế, dự toán và phương án kỹ thuật phù hợp; công tác giải phóng mặt bằng được tổ chức hiệu quả; nguồn vật liệu được bảo đảm; hợp đồng được quản lý chặt chẽ; nhà thầu có năng lực; khối lượng thi công thực tế được nghiệm thu kịp thời và hồ sơ thanh toán được hoàn thiện đúng quy định.
Nói cách khác, giải ngân là kết quả tổng hợp của năng lực quản trị dự án. Nếu một dự án giải ngân thấp trong thời gian dài, câu hỏi quản lý cần đặt ra không nên dừng ở “vì sao chưa giải ngân?”, mà phải đi sâu hơn: vấn đề nằm ở khâu chuẩn bị đầu tư hay tổ chức thực hiện? Vướng mắc thuộc thẩm quyền của chủ đầu tư, địa phương, bộ quản lý ngành hay cần sự can thiệp của Chính phủ? Vấn đề có thể xử lý trong vài tuần hay cần điều chỉnh thiết kế, chủ trương đầu tư, cơ chế vốn?
Cách tiếp cận này giúp chuyển quản lý từ trạng thái phản ứng sang quản trị chủ động. Thông báo 497/TB-VPCP yêu cầu các cơ quan liên quan rà soát, đánh giá, xác định rõ nguyên nhân và phương án giải quyết đối với từng dự án; đồng thời yêu cầu tổ chức kiểm tra thực địa đối với các dự án chậm tiến độ có kế hoạch hoàn thành trong năm 2026 trước phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10.
Đây là một bước chuyển quan trọng về phương thức điều hành. Báo cáo trên giấy có thể phản ánh tỷ lệ giải ngân, nhưng kiểm tra tại hiện trường mới cho phép nhận diện chính xác những vấn đề như mặt bằng chưa bàn giao, mỏ vật liệu chưa đáp ứng, thiết bị chưa huy động đủ, tổ chức thi công chưa hợp lý hay năng lực nhà thầu không tương xứng với yêu cầu.
Trong quản trị dự án hiện đại, dữ liệu tiến độ chỉ có ý nghĩa khi gắn với dữ liệu về nguyên nhân và trách nhiệm. Một bảng tỷ lệ giải ngân đơn thuần chưa đủ để điều hành; cần hình thành “hồ sơ sức khỏe” của từng dự án, trong đó thể hiện tiến độ thiết kế, giải phóng mặt bằng, đấu thầu, vật liệu, thi công, nghiệm thu, thanh toán, giải ngân và các vấn đề cần quyết định ở từng cấp.
Khi đó, cơ quan quản lý có thể chuyển từ cách thức “đôn đốc chung” sang “điều hành theo điểm nghẽn”.
Điều chuyển vốn: công cụ phân bổ lại nguồn lực theo năng lực hấp thụ
Một trong những nội dung đáng chú ý của chỉ đạo mới là yêu cầu kiên quyết điều chuyển vốn từ những dự án chậm giải ngân, không đáp ứng tiến độ sang những dự án có khả năng giải ngân tốt hơn hoặc chuyển vào khoản chưa phân bổ. Kết quả giải ngân cũng được xác định là một tiêu chí quan trọng để bố trí kế hoạch vốn đầu tư công trong những năm tiếp theo.
Về bản chất, đây là nguyên tắc phân bổ nguồn lực theo năng lực thực hiện. Trong điều kiện nguồn lực ngân sách có giới hạn nhưng nhu cầu đầu tư hạ tầng rất lớn, vốn không nên chỉ được nhìn nhận dưới góc độ “đã giao cho dự án nào thì phải giữ nguyên cho dự án đó”. Điều quan trọng hơn là bảo đảm đồng vốn được chuyển hóa thành công trình, khối lượng xây dựng và năng lực hạ tầng trong thời gian phù hợp.
Tuy nhiên, điều chuyển vốn cần được thực hiện trên cơ sở phân loại nguyên nhân một cách khoa học. Không nên đồng nhất mọi trường hợp giải ngân thấp với năng lực quản lý yếu. Một dự án đang hoàn thiện thủ tục pháp lý hoặc gặp một nguyên nhân khách quan chưa thể giải ngân ngay không giống một dự án đã đủ điều kiện thi công nhưng chủ đầu tư, nhà thầu hoặc cơ quan liên quan chậm tổ chức thực hiện.
Do đó, cùng với chỉ tiêu giải ngân, cần đánh giá cả “độ sẵn sàng giải ngân” của dự án. Có thể hình dung một hệ thống quản trị theo ba nhóm: nhóm dự án có khả năng giải ngân cao cần được ưu tiên tháo gỡ để tăng tốc; nhóm dự án có vướng mắc cụ thể cần cơ quan có thẩm quyền trực tiếp xử lý; nhóm dự án chưa đủ điều kiện thực hiện cần được rà soát lại kế hoạch vốn và tiến độ.
Cách phân loại này sẽ giúp việc điều chuyển vốn không trở thành một biện pháp hành chính đơn thuần, mà trở thành công cụ nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực công.
Từ “chạy tiến độ” đến bảo đảm chất lượng và hiệu quả dài hạn
Một rủi ro thường xuất hiện khi áp lực giải ngân tăng cao là tâm lý chạy theo con số. Đối với các công trình giao thông quy mô lớn, đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý bởi chất lượng công trình quyết định hiệu quả sử dụng vốn trong nhiều thập kỷ.
Thông báo 497/TB-VPCP nhấn mạnh yêu cầu các bộ, ngành, địa phương phải thực hiện đúng, đủ quy trình, thủ tục, tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn; không vì tiến độ mà không bảo đảm chất lượng.
Yêu cầu này có ý nghĩa quản lý rất rõ ràng: tiến độ và giải ngân không thể trở thành mục tiêu độc lập với chất lượng đầu tư.
Một công trình hoàn thành sớm nhưng phải sửa chữa lớn, khai thác không an toàn hoặc không đồng bộ với hệ thống giao thông chung thì hiệu quả đầu tư sẽ bị suy giảm. Ngược lại, một dự án được tổ chức khoa học, kiểm soát chất lượng ngay từ đầu sẽ giảm chi phí bảo trì, giảm rủi ro vận hành và tạo ra giá trị kinh tế - xã hội lớn hơn trong suốt vòng đời công trình.
Do đó, bài toán quản trị giao thông trọng điểm trong giai đoạn hiện nay cần được nhìn nhận theo chuỗi: chuẩn bị đầu tư - lựa chọn nhà thầu - giải phóng mặt bằng - cung ứng vật liệu - thi công - nghiệm thu - giải ngân - vận hành khai thác.
Điểm yếu ở bất kỳ mắt xích nào cũng có thể kéo theo sự chậm trễ của toàn bộ dự án. Thực tế từ các chỉ đạo trong năm 2026 cho thấy Chính phủ đã nhiều lần yêu cầu tăng cường quản lý giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu, tiến độ thi công và công khai tình hình giải ngân. Tại Thông báo 343/TB-VPCP ngày 1/7/2026, Thủ tướng đã yêu cầu đẩy nhanh thực hiện, giải ngân các dự án và đặt mục tiêu tỷ lệ giải ngân của các dự án trọng điểm phải cao hơn mức trung bình của cả nước. Đồng thời, các địa phương được yêu cầu trực tiếp chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng, trong khi việc quản lý và điều phối nguồn vật liệu được đặt ra như một nhiệm vụ quan trọng.
Điều này cho thấy những điểm nghẽn hiện nay không phải hoàn toàn mới. Vấn đề cốt lõi là khả năng chuyển hóa các chỉ đạo thành kết quả thực tế ở từng dự án.
Nâng chất quản trị để tạo dư địa phát triển mới
Giao thông không chỉ là một lĩnh vực đầu tư xây dựng. Một tuyến cao tốc, một cảng hàng không hay một tuyến đường sắt mới có thể làm thay đổi cấu trúc không gian kinh tế, mở rộng thị trường lao động, giảm chi phí logistics và tạo điều kiện hình thành các cực tăng trưởng mới.
Vì vậy, hiệu quả của đầu tư giao thông phải được đánh giá vượt ra ngoài phạm vi tỷ lệ giải ngân.
Một dự án hoàn thành đúng tiến độ nhưng không kết nối đồng bộ với các tuyến đường khác sẽ chưa phát huy đầy đủ giá trị. Một tuyến cao tốc thiếu trạm dừng nghỉ, hệ thống giao thông thông minh hoặc các hạng mục phụ trợ cần thiết cũng chưa thể đạt hiệu quả khai thác tối ưu. Chính vì vậy, quản lý dự án giao thông cần ngày càng chuyển sang tư duy quản trị theo hệ thống và theo vòng đời công trình.
Trong những tháng cuối năm 2026, yêu cầu trước mắt là tăng tốc giải ngân, xử lý các dự án có tỷ lệ thấp và hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra. Nhưng về dài hạn, điều quan trọng hơn là rút ra bài học quản trị từ chính quá trình này.
Trước hết, cần nâng chất lượng chuẩn bị đầu tư. Dự án càng lớn thì chi phí của việc chuẩn bị không đầy đủ càng cao. Những vấn đề chưa được giải quyết ở giai đoạn đầu thường sẽ xuất hiện dưới dạng điều chỉnh thiết kế, phát sinh chi phí, chậm giải phóng mặt bằng hoặc chậm thi công ở giai đoạn sau.
Thứ hai, cần tiếp tục cá thể hóa trách nhiệm. Một dự án có nhiều chủ thể tham gia nhưng không thể để trách nhiệm bị hòa tan trong sự phối hợp chung. Mỗi điểm nghẽn cần có cơ quan chủ trì, người chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý và kết quả đầu ra cụ thể.
Thứ ba, cần tăng cường quản trị bằng dữ liệu. Việc cập nhật thường xuyên và công khai tiến độ, giải ngân sẽ tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhận diện sớm nguy cơ chậm tiến độ thay vì chờ đến cuối kỳ mới xử lý.
Thứ tư, cần coi năng lực thực thi là một tiêu chí quan trọng trong phân bổ nguồn lực. Việc ưu tiên vốn cho những dự án có khả năng triển khai thực chất không chỉ giúp nâng hiệu quả ngân sách mà còn tạo động lực để các chủ đầu tư, địa phương và nhà thầu cải thiện năng lực quản trị.
Cuối cùng, cần giữ nguyên tắc cân bằng giữa tiến độ - chi phí - chất lượng - an toàn - hiệu quả khai thác. Không một yếu tố nào có thể được tối đa hóa bằng cách hy sinh các yếu tố còn lại.
Kết luận
Áp lực giải ngân hơn 255.000 tỷ đồng vốn dành cho các công trình, dự án trọng điểm giao thông trong năm 2026 đang đặt hệ thống quản lý trước một phép thử lớn. Con số khoảng 38% giải ngân đến hết tháng 8, thấp hơn mức bình quân chung của cả nước, cho thấy dư địa cải thiện vẫn còn rất lớn.
Tuy nhiên, đẩy nhanh giải ngân không nên được hiểu đơn giản là thúc ép các dự án chi tiền nhanh hơn. Vấn đề cốt lõi là làm thế nào để nguồn vốn được chuyển hóa thành khối lượng đầu tư thực, công trình thực và năng lực hạ tầng thực, đúng tiến độ, đúng chất lượng và đúng mục tiêu phát triển.
Việc Thủ tướng yêu cầu xác định rõ nguyên nhân, kiểm tra thực địa, điều chuyển vốn khỏi dự án không có khả năng giải ngân, đồng thời gắn kết quả giải ngân với việc bố trí vốn các năm tiếp theo cho thấy quản lý đầu tư công đang được đặt trong một khung trách nhiệm rõ hơn.
Nếu được thực hiện đồng bộ, đây không chỉ là giải pháp “chạy nước rút” cho năm 2026 mà còn có thể trở thành bước chuyển quan trọng trong quản trị các dự án hạ tầng quy mô lớn: từ quản lý theo thủ tục sang quản trị theo kết quả; từ phân bổ vốn theo kế hoạch sang phân bổ theo năng lực hấp thụ; từ xử lý vướng mắc sau khi phát sinh sang nhận diện và phòng ngừa điểm nghẽn ngay từ đầu.
Đó cũng là nền tảng để những khoản đầu tư hạ tầng rất lớn trong giai đoạn tới thực sự trở thành động lực mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo dư địa tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.
ThS Phạm Ngọc Liên
__________________________________________
Tài liệu tham khảo
- Văn phòng Chính phủ (2026), Thông báo số 497/TB-VPCP ngày 24/9/2026 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp đánh giá tiến độ thực hiện, giải ngân các công trình, dự án trọng điểm lĩnh vực giao thông vận tải.
- Văn phòng Chính phủ (2026), Thông báo số 343/TB-VPCP ngày 1/7/2026 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026 Ban Chỉ đạo các công trình, dự án trọng điểm, chuyên đề giao thông vận tải.
- Bộ Xây dựng (2026), Thông tin về tình hình triển khai, thúc đẩy giải ngân các dự án trọng điểm ngành giao thông vận tải, ngày 22-23/9/2026.
- Báo Điện tử Chính phủ (2026), Thúc đẩy tiến độ, giải ngân các công trình trọng điểm ngành giao thông vận tải, ngày 24/9/2026.
- Văn phòng Chính phủ (2026), Thông báo số 487/TB-VPCP ngày 15/9/2026 về các dự án trọng điểm giao thông và năng lượng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.




