Quyết định số 1856/QĐ-TTg ngày 26/9/2026 về triển khai thực hiện kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ đặt ra một yêu cầu có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi của từng dự án riêng lẻ: chuyển mạnh từ tư duy đầu tư công trình sang tư duy quản trị tổng thể hệ thống hạ tầng. Với yêu cầu đồng bộ quy hoạch, đầu tư, đất đai, nguồn lực, công nghệ và vận hành; đồng thời kết nối hạ tầng vật chất với hạ tầng số, hạ tầng năng lượng, hạ tầng tự nhiên và hạ tầng xã hội, đây được xem là một bước cụ thể hóa quan trọng nhằm tạo nền tảng cho không gian phát triển mới đến năm 2045.
![]()
Từ “đầu tư hạ tầng” đến “quản trị hệ thống”: Đổi mới tư duy để kiến tạo không gian phát triển dài hạn. Ảnh minh họa - TL
Từ những công trình riêng lẻ đến một hệ thống hạ tầng liên thông
Trong quá trình phát triển, hạ tầng luôn là một trong những điều kiện nền tảng quyết định khả năng mở rộng không gian kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện chất lượng sống. Đường giao thông không chỉ phục vụ đi lại mà còn tạo hành lang kinh tế; cảng biển chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi được kết nối với đường bộ, đường sắt, logistics và các trung tâm sản xuất; một khu công nghiệp khó đạt hiệu suất cao nếu thiếu năng lượng ổn định, nguồn nhân lực, nhà ở và dịch vụ xã hội. Tương tự, hạ tầng số ngày nay không thể tách rời điện năng, trung tâm dữ liệu, năng lực tính toán và hệ thống quản trị dữ liệu.
Chính vì vậy, vấn đề đặt ra không còn đơn thuần là “xây thêm bao nhiêu kilomet đường”, “có thêm bao nhiêu công trình” hay “giải ngân được bao nhiêu vốn”, mà là các hệ thống hạ tầng có kết nối với nhau và tạo ra giá trị phát triển như thế nào.
Đây chính là điểm đáng chú ý trong Kế hoạch được ban hành kèm theo Quyết định số 1856/QĐ-TTg. Theo đó, yêu cầu mới được đặt trên năm định hướng lớn: bảo đảm đồng bộ, liên thông trong quy hoạch và đầu tư; lấy chất lượng phục vụ và hiệu quả thực tế làm mục tiêu; kết hợp hạ tầng vật chất, hạ tầng số và hạ tầng tự nhiên; coi phát triển kết cấu hạ tầng là một ngành kinh tế chiến lược; đồng thời phát huy vai trò định hướng, dẫn dắt của Nhà nước trong huy động nguồn lực.
Điểm quan trọng ở đây là sự chuyển dịch từ quản lý dự án sang quản trị vòng đời hạ tầng. Một công trình được hoàn thành đúng tiến độ chưa đồng nghĩa với một khoản đầu tư thành công nếu công trình đó thiếu kết nối, khai thác dưới công suất, chi phí vận hành lớn hoặc không thích ứng được với biến đổi của nhu cầu phát triển.
Kết luận số 72-KL/TW năm 2024 cũng cho thấy sau hơn một thập niên thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong phát triển giao thông, năng lượng, thủy lợi, đô thị, thông tin - truyền thông, giáo dục, y tế và các lĩnh vực hạ tầng khác. Hệ thống pháp luật về quy hoạch, đầu tư, đầu tư công, hợp tác công - tư từng bước được hoàn thiện, góp phần huy động thêm nguồn lực xã hội.
Tuy nhiên, chính sự phát triển nhanh của nền kinh tế và yêu cầu tăng trưởng trong giai đoạn mới đặt ra một bài toán khác: làm thế nào để các hệ thống hạ tầng không phát triển theo những “đường ray” riêng biệt mà hình thành một mạng lưới thống nhất?
Đó là bài toán quản trị. Kế hoạch mới yêu cầu các bộ, ngành và địa phương rà soát đầy đủ điều kiện trước khi quyết định đầu tư, không để dự án được phê duyệt khi chưa bảo đảm các điều kiện về quy hoạch, đất đai, mặt bằng, nguồn vốn, vật liệu, công nghệ, nhân lực và hạ tầng kết nối. Cách tiếp cận này có ý nghĩa trực tiếp đối với việc nâng cao hiệu quả đầu tư và hạn chế tình trạng công trình hoàn thành nhưng chưa thể khai thác đầy đủ do những “mắt xích” khác chưa hoàn thiện.
Nói cách khác, điểm xuất phát của một dự án hạ tầng không nên chỉ là nhu cầu xây dựng một công trình, mà phải là nhu cầu giải quyết một vấn đề phát triển trong tổng thể không gian kinh tế - xã hội.
Quy hoạch dài hạn phải đi trước một bước
Một trong những yêu cầu nổi bật của Kế hoạch là đổi mới công tác quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, liên thông và có tầm nhìn dài hạn. Trong đó, việc phát triển hạ tầng phải gắn với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành quốc gia và quy hoạch tỉnh; đồng thời liên kết với các chương trình về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tăng trưởng xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, quốc phòng và an ninh.
Điều này cho thấy quy hoạch hạ tầng đang được đặt trong một không gian rộng hơn rất nhiều so với quy hoạch xây dựng theo nghĩa truyền thống.
Đáng chú ý, yêu cầu dự trữ và bảo vệ quỹ đất, không gian phát triển với tầm nhìn ít nhất 50 năm cho thấy tư duy hạ tầng không thể bị giới hạn bởi chu kỳ đầu tư hay nhiệm kỳ quản lý. Hạ tầng lớn có vòng đời dài, trong khi tốc độ đô thị hóa, thay đổi cơ cấu dân số, công nghệ và phương thức sản xuất có thể diễn ra nhanh hơn nhiều. Nếu thiếu dự báo, những tuyến đường, khu đô thị, trung tâm logistics, mạng lưới năng lượng hay hạ tầng số được xây dựng hôm nay có thể trở thành điểm nghẽn trong tương lai.
Trong bối cảnh đó, điều cần thiết là nâng cao chất lượng dự báo và năng lực quản trị không gian. Quy hoạch không chỉ trả lời câu hỏi “xây gì ở đâu”, mà cần trả lời đồng thời: xây để phục vụ ai, kết nối với hệ thống nào, tạo ra giá trị kinh tế gì và có khả năng mở rộng ra sao trong tương lai.
Việc Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh quy hoạch của sáu vùng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 trong tháng 4/2026 cũng cho thấy yêu cầu liên kết vùng đang ngày càng được đặt ở vị trí quan trọng trong tổ chức không gian phát triển.
Đối với quản lý nhà nước, điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng. Một dự án giao thông đi qua nhiều địa phương, một hành lang logistics kết nối cảng biển với khu công nghiệp, hay một hệ thống năng lượng phục vụ nhiều trung tâm sản xuất không thể được quản lý hiệu quả nếu mỗi chủ thể chỉ tối ưu lợi ích trong phạm vi địa giới hành chính của mình.
Bởi vậy, yêu cầu thiết lập một đầu mối chịu trách nhiệm đối với các dự án liên ngành, liên vùng, đồng thời gắn phân cấp, phân quyền với nguồn lực, năng lực thực thi, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình, là một nội dung có ý nghĩa quản trị rõ nét.
Phân cấp không chỉ là chuyển thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp dưới. Phân cấp hiệu quả phải đi cùng khả năng ra quyết định, nguồn lực tài chính, đội ngũ chuyên môn và cơ chế kiểm soát. Nếu trao quyền nhưng không trao đủ nguồn lực hoặc trách nhiệm mà không gắn với cơ chế đánh giá kết quả, nguy cơ phát sinh những điểm nghẽn mới vẫn tồn tại.
Hạ tầng chiến lược phải trở thành động lực của mô hình tăng trưởng mới
Một nội dung có tầm nhìn dài hạn trong Kế hoạch là định hướng phát triển các hạ tầng chiến lược đến năm 2045.
Trước hết là hình thành các hành lang giao thông và logistics thế hệ mới trên trục Bắc - Nam và các hành lang Đông - Tây. Mục tiêu không chỉ là hoàn thiện từng tuyến đường mà hướng tới kết nối đường bộ cao tốc, đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị, đường thủy, cảng biển, cảng hàng không, trung tâm logistics, khu công nghiệp, đô thị, khu kinh tế và cửa khẩu quốc tế.
Nếu được tổ chức đồng bộ, mạng lưới này có thể góp phần giảm chi phí logistics, rút ngắn thời gian lưu chuyển hàng hóa và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường cho doanh nghiệp. Quan trọng hơn, hạ tầng giao thông khi gắn với phát triển công nghiệp và logistics có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa, hình thành các cực tăng trưởng và thúc đẩy liên kết vùng.
Tư duy tương tự được áp dụng đối với năng lượng. Kế hoạch đặt vấn đề phát triển đồng bộ nguồn điện, lưới truyền tải, lưu trữ năng lượng và các hạ tầng năng lượng chiến lược; tăng khả năng tích hợp nguồn năng lượng mới, năng lượng sạch và nâng cao tính tự chủ của hệ thống.
Đây là một yêu cầu đặc biệt quan trọng khi nền kinh tế bước sâu hơn vào quá trình số hóa và chuyển đổi xanh. Các trung tâm dữ liệu, hệ thống điện toán hiệu năng cao, trí tuệ nhân tạo và các ngành công nghiệp công nghệ cao đều cần nguồn điện lớn, ổn định và có khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao về chất lượng và tính bền vững.
Hạ tầng số vì vậy không còn là một lĩnh vực phụ trợ cho hạ tầng vật chất. Kế hoạch xác định việc mở rộng mạng truyền dẫn, trung tâm dữ liệu, điện toán hiệu năng cao và hạ tầng phục vụ trí tuệ nhân tạo, đồng thời bảo đảm chủ quyền dữ liệu và năng lực tính toán quốc gia.
Đáng chú ý hơn là định hướng xây dựng mô hình số thống nhất, tiến tới hình thành “bản sao số” của các hệ thống giao thông, năng lượng, viễn thông, thủy lợi, đô thị, công nghiệp, dân cư, đất đai và môi trường. Các dự án lớn từng bước được mô phỏng trước đầu tư và giám sát theo thời gian thực trong quá trình vận hành.
Nếu triển khai hiệu quả, đây có thể là sự thay đổi quan trọng trong phương thức quản lý hạ tầng: từ quản lý dựa nhiều vào hồ sơ và kiểm tra theo thời điểm sang quản trị dựa trên dữ liệu, mô phỏng và giám sát liên tục.
Một dự án lớn trong tương lai không chỉ cần được thẩm định về vốn và kỹ thuật mà còn có thể được đánh giá trên mô hình số trước khi triển khai, qua đó nhận diện các xung đột về giao thông, đất đai, môi trường, năng lượng hoặc khả năng kết nối. Sau khi đưa vào vận hành, dữ liệu thời gian thực có thể hỗ trợ cơ quan quản lý theo dõi hiệu suất và chủ động bảo trì.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu mới về chất lượng dữ liệu, khả năng liên thông giữa các cơ sở dữ liệu và năng lực của đội ngũ quản lý. Hệ thống thông tin về hoạt động xây dựng được xây dựng tập trung, thống nhất ở phạm vi quốc gia cũng là một bước trong quá trình tăng cường nền tảng dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Một vấn đề khác không thể tách khỏi hạ tầng là khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu. Kế hoạch ưu tiên nâng cao khả năng chống chịu của hạ tầng tại Đồng bằng sông Cửu Long, các đô thị ven biển, trung tâm công nghiệp, cụm cảng lớn và khu vực có rủi ro cao; đồng thời tăng cường quản lý, sử dụng bền vững nguồn nước.
Điều đó cho thấy tiêu chí “hiện đại” của hạ tầng trong giai đoạn mới không chỉ nằm ở quy mô hay công nghệ, mà còn ở khả năng chống chịu, thích ứng và duy trì hoạt động trong điều kiện bất định.
Nâng hiệu quả đầu tư bằng quản trị toàn bộ vòng đời
Một trong những vấn đề cốt lõi của quản lý hạ tầng là chuyển từ tư duy “hoàn thành công trình” sang “tạo ra giá trị trong suốt vòng đời công trình”.
Kế hoạch mới yêu cầu đổi mới căn bản quản lý đầu tư và quản trị tài sản kết cấu hạ tầng. Đây là hướng tiếp cận có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh nguồn lực đầu tư luôn hữu hạn trong khi nhu cầu phát triển rất lớn.
Một dự án có thể hoàn thành đúng tiến độ nhưng nếu chi phí vận hành và bảo trì quá cao, hiệu suất khai thác thấp hoặc không có nguồn lực duy tu thì hiệu quả xã hội của khoản đầu tư sẽ suy giảm. Do đó, đánh giá đầu tư cần tính đến cả chi phí trong suốt vòng đời, khả năng khai thác, bảo trì, nâng cấp và chuyển đổi công năng.
Cùng với đó, việc huy động nguồn lực xã hội cần được đặt trong một cơ chế phân bổ minh bạch và có khả năng chia sẻ rủi ro hợp lý giữa Nhà nước và khu vực tư nhân. Nhà nước cần tập trung vào những lĩnh vực có ý nghĩa nền tảng, tạo lập thể chế, tiêu chuẩn, quy hoạch và các điều kiện thị trường; doanh nghiệp có thể tham gia sâu hơn vào đầu tư, công nghệ, vận hành và cung cấp dịch vụ.
Kế hoạch đồng thời nhấn mạnh yêu cầu không tạo thêm cơ chế, bộ máy trung gian không cần thiết; ưu tiên tích hợp các chương trình và nguồn lực hiện có; mọi nhiệm vụ bổ sung phải xác định rõ nguồn lực và hiệu quả đầu ra.
Đây là nguyên tắc quan trọng để tránh tình trạng cùng một mục tiêu nhưng có nhiều chương trình, dự án và đầu mối cùng tham gia, dẫn tới phân tán nguồn lực.
Ở tầm rộng hơn, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ phải trở thành một bộ phận của mô hình tăng trưởng. Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030 xác định phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thúc đẩy đô thị hóa và liên kết vùng là một trong những nhóm nhiệm vụ chủ yếu.
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cũng xác định phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới là một nhiệm vụ chủ yếu, gắn với yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền kiến tạo phát triển và nâng cao năng lực quản trị xã hội.
Như vậy, hạ tầng đang được đặt vào mối quan hệ trực tiếp với cải cách thể chế, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, đô thị hóa, tăng trưởng xanh và liên kết vùng.
Từ góc độ thực tiễn quản lý, thước đo cuối cùng vì thế không chỉ là số lượng dự án hoàn thành. Quan trọng hơn là mức độ giảm chi phí xã hội, khả năng kết nối các không gian kinh tế, chất lượng dịch vụ công, năng lực chống chịu của hệ thống và mức độ đóng góp của hạ tầng vào năng suất của nền kinh tế.
Quyết định số 1856/QĐ-TTg vì thế có thể được nhìn nhận như một bước chuyển từ tư duy phát triển hạ tầng theo dự án sang tư duy quản trị hạ tầng theo hệ thống. Thành công của quá trình này sẽ phụ thuộc đáng kể vào chất lượng thực thi: quy hoạch phải đi trước; trách nhiệm phải rõ; nguồn lực phải gắn với nhiệm vụ; dữ liệu phải liên thông; đầu tư phải tính đến toàn bộ vòng đời; còn hiệu quả phải được đánh giá bằng giá trị thực tế mà hạ tầng tạo ra cho nền kinh tế và xã hội.
Trong tầm nhìn đến năm 2045, những tuyến đường, cây cầu, cảng biển, sân bay hay trung tâm dữ liệu không chỉ là những công trình vật chất. Chúng là những cấu phần của một “hệ điều hành” phát triển quốc gia. Khi các cấu phần đó được kết nối bằng quy hoạch dài hạn, dữ liệu, công nghệ, nguồn lực và một cơ chế quản trị rõ trách nhiệm, hạ tầng mới thực sự trở thành nền tảng tạo dựng không gian phát triển mới và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
ThS Phạm Ngọc Phúc
_____________________________________
Tài liệu tham khảo
- Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1856/QĐ-TTg ngày 26/9/2026 về Kế hoạch triển khai thực hiện kết luận về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ.
- Bộ Chính trị, Kết luận số 72-KL/TW ngày 23/2/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ.
- Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 693/QĐ-TTg ngày 17/7/2024 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 72-KL/TW.
- Quốc hội, Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030.
- Chính phủ, Nghị quyết số 41/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.




