25/08/2026 lúc 05:42 (GMT+7)
Breaking News

Siết chế tài, nâng hiệu quả quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ trong kỷ nguyên số

Quyết định số 1624/QĐ-TTg ngày 21/8/2026 sửa đổi, bổ sung Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030 không chỉ đặt yêu cầu tăng cường chế tài đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, mà còn mở ra cách tiếp cận mới trong quản lý nhà nước: chuyển từ xử lý vi phạm theo phương thức truyền thống sang quản trị rủi ro, phát hiện sớm và ứng dụng công nghệ để bảo vệ tài sản trí tuệ. Đây là bước đi cần thiết trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo và các mô hình kinh doanh xuyên biên giới đang làm thay đổi nhanh chóng phương thức tạo lập, khai thác và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Siết chế tài, nâng hiệu quả quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ trong kỷ nguyên số. Ảnh minh họa - TL

Sở hữu trí tuệ ngày càng trở thành một cấu phần quan trọng của năng lực cạnh tranh quốc gia. Nếu trước đây giá trị của doanh nghiệp thường được nhìn nhận chủ yếu qua nhà xưởng, máy móc, vốn và thị trường, thì trong nền kinh tế tri thức, thương hiệu, sáng chế, kiểu dáng, phần mềm, dữ liệu, nội dung sáng tạo và các tài sản vô hình khác ngày càng quyết định vị thế của doanh nghiệp.

Chính vì vậy, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không còn chỉ là câu chuyện pháp lý giữa chủ thể quyền và đối tượng vi phạm. Đó đã trở thành vấn đề của quản trị thị trường, môi trường đầu tư, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Quyết định số 1624/QĐ-TTg do Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký ngày 21/8/2026 đã thể hiện rõ sự chuyển hướng này khi nhấn mạnh quan điểm tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội; mọi hành vi xâm phạm phải được xử lý nghiêm theo quy định pháp luật. Đồng thời, Chiến lược được bổ sung hàng loạt nhiệm vụ liên quan đến không gian mạng, nền tảng số, thương mại điện tử, AI, dữ liệu lớn, tài sản số, blockchain, công nghệ sinh học và công nghệ bán dẫn.

Từ “xử lý vi phạm” đến yêu cầu quản trị một thị trường tài sản trí tuệ

Điểm đáng chú ý trước hết là việc tăng cường chế tài được đặt trong tổng thể yêu cầu hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. Điều này cho thấy xử lý vi phạm chỉ là một khâu trong chuỗi quản trị, còn mục tiêu rộng hơn là hình thành môi trường trong đó tài sản trí tuệ được xác lập, bảo hộ, khai thác và giao dịch một cách minh bạch, hiệu quả.

Quyết định 1624/QĐ-TTg yêu cầu rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật có liên quan; bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các chủ thể; đồng thời ngăn chặn việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ. Chiến lược cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện các quy định về góp vốn, giao dịch bảo đảm, định giá, kế toán, kiểm toán quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế tài chính, tín dụng để thúc đẩy khai thác các tài sản trí tuệ được hình thành từ hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước.

Đây là một thay đổi có ý nghĩa về tư duy quản lý. Khi tài sản trí tuệ được nhìn nhận như một loại tài sản có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, Nhà nước không chỉ cần bảo vệ nó khỏi hành vi sao chép, giả mạo hay chiếm đoạt, mà còn phải tạo điều kiện để tài sản ấy được định giá, chuyển giao, góp vốn, thế chấp và thương mại hóa.

Thực tế cho thấy, một sáng chế không được bảo vệ sẽ khó khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu; một thương hiệu thường xuyên bị làm giả sẽ làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng; một sản phẩm sáng tạo bị sao chép tràn lan trên môi trường số sẽ làm giảm động lực đầu tư của nhà sáng tạo. Ở chiều ngược lại, một hệ thống bảo hộ hiệu quả sẽ giúp biến kết quả nghiên cứu và sáng tạo thành nguồn lực phát triển.

Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực từ ngày 1/4/2026, cũng đã đặt trọng tâm vào cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số hoạt động sở hữu trí tuệ, thúc đẩy khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ và xử lý những vấn đề mới phát sinh.

Trong bối cảnh đó, việc tăng chế tài cần được hiểu không đơn thuần là tăng mức xử phạt. Quan trọng hơn là bảo đảm chế tài đủ nhanh, đủ chính xác, đủ khả năng buộc chấm dứt hành vi vi phạm và đủ sức khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền.

Đặc biệt, Quyết định 1624/QĐ-TTg nhấn mạnh việc bảo đảm các biện pháp bảo vệ quyền phù hợp với tính chất dân sự của quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy xử lý bằng biện pháp dân sự, đồng thời nâng cao chất lượng xử lý hành chính. Cách tiếp cận này giúp phân định rõ hơn vai trò của các phương thức bảo vệ quyền, tránh tình trạng hành chính hóa quá mức những tranh chấp vốn cần được giải quyết thông qua cơ chế tư pháp.

Đối với quản lý nhà nước, đây là yêu cầu chuyển từ “quản lý vụ việc” sang “quản lý hệ sinh thái”. Cơ quan quản lý không chỉ chờ khi có đơn khiếu nại hoặc phát hiện hàng giả mới xử lý, mà cần nhận diện những lĩnh vực, thị trường, nền tảng và nhóm đối tượng có nguy cơ vi phạm cao để chủ động kiểm tra, cảnh báo và phòng ngừa.

Không gian số đặt ra bài toán mới cho năng lực thực thi

Nếu hàng giả, hàng nhái trên thị trường truyền thống có thể được kiểm tra bằng phương thức vật lý, thì môi trường số làm cho hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trở nên nhanh hơn, rộng hơn và khó xác định hơn.

Một hình ảnh có thể bị sao chép trong vài giây. Một video, bài viết, thiết kế hay phần mềm có thể được nhân bản và phát tán trên hàng chục nền tảng. Một sản phẩm giả mạo có thể được quảng bá, bán và thanh toán hoàn toàn trực tuyến trong khi người bán và người mua ở những quốc gia khác nhau.

Đây chính là lý do Quyết định 1624/QĐ-TTg dành trọng tâm đáng kể cho vấn đề xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng và nền tảng số. Quyết định yêu cầu tăng cường kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm hành vi vi phạm trong môi trường kỹ thuật số; đồng thời nâng cao trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số trong việc ngăn chặn, loại bỏ và không tiếp tay cho hành vi xâm phạm.

Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt đối với công tác quản lý. Trong nền kinh tế nền tảng, Nhà nước không thể chỉ dựa vào lực lượng thanh tra, kiểm tra để giám sát hàng triệu giao dịch trực tuyến. Một mô hình quản lý hiệu quả phải huy động cả hệ sinh thái, trong đó nền tảng số trở thành một “điểm kiểm soát” quan trọng.

Đáng chú ý, từ ngày 1/7/2026, Nghị định 248/2026/NĐ-CP đã đặt ra trách nhiệm đối với chủ quản nền tảng thương mại điện tử trong việc kiểm tra, rà soát, gỡ bỏ và xử lý thông tin liên quan đến hàng hóa, dịch vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; thời hạn được quy định là trong vòng 24 giờ.

Khi những yêu cầu này được đặt cạnh định hướng mới của Chiến lược sở hữu trí tuệ, có thể thấy một cấu trúc quản trị đang từng bước hình thành: cơ quan nhà nước xây dựng quy định và cơ chế giám sát; nền tảng số thực hiện trách nhiệm kiểm soát; chủ thể quyền cung cấp thông tin và phối hợp phát hiện vi phạm; người tiêu dùng tham gia phản ánh, cảnh báo và lựa chọn sản phẩm hợp pháp.

Tuy nhiên, trách nhiệm lớn hơn cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực thực thi. Nếu tiêu chí xác định vi phạm không rõ ràng, quy trình xử lý thiếu thống nhất hoặc công cụ xác minh chưa đủ mạnh, việc yêu cầu nền tảng gỡ bỏ nội dung có thể phát sinh tranh chấp ngược lại về quyền tự do kinh doanh, quyền tiếp cận thông tin hoặc nguy cơ lạm dụng cơ chế bảo vệ quyền.

Do đó, quản lý nhà nước trong giai đoạn mới cần đặc biệt chú trọng tính minh bạch của quy trình, khả năng xác minh chứng cứ số và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền.

Quyết định 1624/QĐ-TTg đã đặt yêu cầu rà soát, phân định rõ chức năng, từng bước tinh giản đầu mối xử lý xâm phạm quyền bằng biện pháp hành chính; đơn giản hóa, minh bạch hóa thủ tục; cắt giảm chi phí và rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp. Đồng thời, quyết định yêu cầu tăng cường phối hợp giữa các cơ quan hành chính với cơ quan tư pháp, nghiên cứu tăng cường vai trò của tòa án trong giải quyết các vụ việc về sở hữu trí tuệ.

Điều này cho thấy hiệu quả quản lý không chỉ được đo bằng số vụ phát hiện và xử phạt, mà còn bằng thời gian xử lý, chất lượng quyết định, khả năng bảo vệ quyền và mức độ giảm tái phạm.

Công nghệ và dữ liệu phải trở thành “hạ tầng” của quản lý sở hữu trí tuệ

Một trong những điểm có tính đột phá của định hướng mới là yêu cầu nghiên cứu ứng dụng công nghệ có chức năng giám sát, tự động phát hiện và cảnh báo sớm hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số.

Nếu triển khai hiệu quả, đây có thể là bước chuyển quan trọng từ mô hình “phản ứng sau vi phạm” sang “quản trị dựa trên dữ liệu”.

Một hệ thống giám sát hiện đại có thể giúp nhận diện những dấu hiệu bất thường về thương hiệu, hình ảnh sản phẩm, nội dung số hoặc các hành vi kinh doanh có nguy cơ xâm phạm quyền. Khi dữ liệu được liên thông, cơ quan quản lý có thể hình thành bản đồ rủi ro theo ngành hàng, địa bàn, nền tảng và phương thức vi phạm, từ đó phân bổ nguồn lực kiểm tra theo mức độ ưu tiên.

Quyết định 1624/QĐ-TTg đồng thời yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành về sở hữu trí tuệ được kết nối, chia sẻ liên thông, phục vụ giám sát, cảnh báo và xử lý vi phạm thống nhất trên phạm vi cả nước.

Đây là điều kiện nền tảng để nâng chất lượng quản lý. Khi thông tin về văn bằng bảo hộ, chủ thể quyền, đối tượng được bảo hộ, tình trạng pháp lý và các vụ việc vi phạm có thể được chuẩn hóa, kết nối và khai thác, quá trình xác minh sẽ nhanh hơn, giảm tình trạng mỗi cơ quan sử dụng một nguồn dữ liệu riêng.

Đáng lưu ý, số hóa dữ liệu không đồng nghĩa với việc đơn thuần đưa hồ sơ giấy lên môi trường điện tử. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng biến dữ liệu thành công cụ phân tích và ra quyết định.

Cùng với đó là bài toán nhân lực. Quyết định 1624/QĐ-TTg bổ sung nhiệm vụ nghiên cứu cơ chế tài chính và chính sách nhân lực đặc thù nhằm phát triển đội ngũ công chức, viên chức và chuyên gia sở hữu trí tuệ có trình độ cao. Đây là yêu cầu hoàn toàn phù hợp với tính chất ngày càng phức tạp của các vụ việc.

Một cán bộ thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong thời đại số không chỉ cần hiểu pháp luật mà còn phải có năng lực nhận diện công nghệ, dữ liệu, thương mại điện tử, tài sản số và các phương thức kinh doanh mới. Đối với những lĩnh vực như AI, blockchain, công nghệ sinh học hay bán dẫn, yêu cầu chuyên môn còn cao hơn nữa.

Vì vậy, nâng cao chế tài phải đi cùng nâng cao năng lực thực thi. Chế tài dù chặt chẽ nhưng nếu thiếu dữ liệu, thiếu nhân lực chuyên sâu và thiếu cơ chế phối hợp thì hiệu quả răn đe vẫn khó đạt như kỳ vọng.

Ở tầm quản lý, cần hình thành cơ chế phối hợp thường xuyên giữa cơ quan sở hữu trí tuệ, quản lý thị trường, hải quan, công an, tòa án, viện kiểm sát, cơ quan quản lý thông tin và các nền tảng số. Với những vụ việc có yếu tố xuyên biên giới, cơ chế trao đổi thông tin và cảnh báo sớm càng trở nên quan trọng.

Đặc biệt, việc bảo vệ sở hữu trí tuệ cần gắn với bảo vệ công nghệ nguồn, công nghệ lõi, dữ liệu chiến lược, bí mật kinh doanh và các sáng chế thuộc phạm vi bí mật Nhà nước. Quyết định 1624/QĐ-TTg đã đặt vấn đề này trong mối liên hệ với quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.

Từ góc độ thực tiễn quản lý, có thể thấy yêu cầu tăng cường chế tài hiện nay không nên được hiểu theo hướng “xử phạt nhiều hơn”, mà phải là xử lý đúng hơn, nhanh hơn và chủ động hơn.

Đúng hơn là xác định chính xác hành vi, chủ thể và mức độ xâm phạm; nhanh hơn là rút ngắn thời gian từ phát hiện đến ngăn chặn; chủ động hơn là sử dụng dữ liệu và công nghệ để cảnh báo trước khi vi phạm lan rộng.

Đây cũng là điều kiện để xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, trong đó doanh nghiệp đầu tư cho sáng tạo có thể yên tâm rằng thành quả của mình được bảo vệ; nhà đầu tư có cơ sở đánh giá giá trị tài sản vô hình; người tiêu dùng được tiếp cận hàng hóa, dịch vụ minh bạch; còn các nền tảng số phải thực hiện trách nhiệm tương xứng với vai trò ngày càng lớn của mình trong nền kinh tế.

Có thể nói, Quyết định 1624/QĐ-TTg đã bổ sung một tầng quan trọng cho Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030: từ xây dựng cơ chế bảo hộ sang nâng cao năng lực thực thi; từ xử lý vi phạm sang phòng ngừa và cảnh báo; từ quản lý phân tán sang dữ liệu liên thông; từ phương thức truyền thống sang quản trị trên nền tảng công nghệ.

Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển các ngành công nghệ chiến lược, đây không chỉ là yêu cầu bảo vệ quyền của từng doanh nghiệp hay nhà sáng tạo. Suy rộng hơn, đó là yêu cầu bảo vệ nguồn lực tri thức của nền kinh tế.

Một hệ thống sở hữu trí tuệ hiệu quả phải tạo được niềm tin rằng sáng tạo sẽ được bảo vệ, đầu tư cho tri thức sẽ tạo ra giá trị và hành vi chiếm đoạt giá trị đó sẽ phải trả giá tương xứng. Khi nguyên tắc ấy được chuyển hóa thành năng lực quản lý, dữ liệu, công nghệ và chế tài thực thi, sở hữu trí tuệ mới thực sự trở thành một động lực của tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.

ThS Phạm Nguyên Bảo

Tài liệu tham khảo

  1. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 1624/QĐ-TTg ngày 21/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 1068/QĐ-TTg ngày 22/8/2019 phê duyệt Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030. Đây là văn bản trọng tâm của bài viết, trong đó bổ sung các định hướng về tăng cường chế tài, xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền trên không gian mạng và nền tảng số.
  2. Thủ tướng Chính phủ (2019), Quyết định số 1068/QĐ-TTg ngày 22/8/2019 phê duyệt Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030.
  3. Quốc hội (2025), Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, ban hành ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ ngày 1/4/2026.
  4. Chính phủ (2026), Nghị định số 248/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều của Luật Thương mại điện tử, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
  5. Bộ Công Thương (2026), Văn bản hợp nhất số 41/VBHN-BCT ngày 4/6/2026 về quản lý website thương mại điện tử.
  6. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2045.
  7. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 1308/QĐ-TTg ngày 18/7/2026 phê duyệt Chiến lược dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045.
  8. Báo Điện tử Chính phủ (2026), “Tăng cường chế tài xử lý các hành vi xâm phạm quyền, vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ”, ngày 22/8/2026. Đây là nguồn báo chí chính để đối chiếu và cập nhật các nội dung của Quyết định 1624/QĐ-TTg.