07/09/2026 lúc 16:25 (GMT+7)
Breaking News

Tạo nền tảng cho công nghiệp chế tạo phục vụ ngành điện lực

Nghị định số 344/2026/NĐ-CP thiết lập chuỗi chính sách từ ưu đãi đầu tư, đặt hàng, thử nghiệm đến hỗ trợ công nghệ, nhân lực và tín dụng cho công nghiệp chế tạo phục vụ ngành điện lực. Ý nghĩa của quy định mới không chỉ nằm ở mức hỗ trợ, mà ở khả năng thu hẹp khoảng cách từ kết quả nghiên cứu đến sản phẩm được kiểm chứng và đưa vào vận hành. Để chính sách phát huy hiệu quả, phát triển sản xuất trong nước cần gắn với tiêu chuẩn kỹ thuật, cạnh tranh minh bạch và yêu cầu bảo đảm an toàn, liên tục của hệ thống điện.

I. ĐẶT CÔNG NGHIỆP CHẾ TẠO TRONG BÀI TOÁN BẢO ĐẢM AN NINH NĂNG LƯỢNG

Ngày 4/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 344/2026/NĐ-CP về ứng dụng khoa học, công nghệ và phát triển công nghiệp chế tạo trong lĩnh vực điện lực. Nghị định cụ thể hóa Điều 8 Luật Điện lực, hình thành khuôn khổ ưu đãi, đặt hàng, thử nghiệm, hỗ trợ nghiên cứu, nhân lực và tín dụng đối với hoạt động chế tạo thiết bị điện. Do văn bản có hiệu lực từ ngày 20/10/2026, vấn đề hiện nay là chuẩn bị điều kiện thực thi, chưa phải khẳng định những tác động chưa được kiểm chứng.

Yêu cầu đó xuất phát từ quá trình phát triển ngày càng phức tạp của hệ thống điện. Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 đặt ra nhiệm vụ mở rộng đồng thời nguồn điện, lưới truyền tải, năng lượng tái tạo, lưu trữ và hạ tầng liên quan. Khi quy mô hệ thống tăng và cơ cấu nguồn đa dạng hơn, nhu cầu về thiết bị điều khiển, bảo vệ, đo lường và tích hợp nguồn điện cũng thay đổi. Bảo đảm cung cấp điện vì vậy còn gắn với khả năng thay thế, sửa chữa và nâng cấp thiết bị trong suốt vòng đời vận hành.

Phát triển năng lực chế tạo thiết bị điện trong nước góp phần nâng cao tính chủ động và bảo đảm vận hành an toàn, liên tục của hệ thống điện.

Nhập khẩu thiết bị và công nghệ giúp tiếp cận nhanh thành tựu mới, tận dụng chuyên môn hóa và giảm chi phí đầu tư. Tuy nhiên, chuỗi cung ứng xuyên biên giới cũng có thể phát sinh rủi ro khi nguồn cung gián đoạn, thời gian giao hàng kéo dài hoặc việc bảo trì phụ thuộc vào một số ít nhà sản xuất. Báo cáo Công nghệ năng lượng năm 2026 cho thấy nhiều chuỗi cung ứng công nghệ năng lượng có mức độ tập trung đáng kể. Vì vậy, đa dạng hóa nguồn cung và phát triển năng lực chế tạo phù hợp trong nước cần được xem xét cùng với yêu cầu về hiệu quả, khả năng chi trả và an ninh năng lượng.

Từ góc độ kinh tế học, lĩnh vực này chứa đựng những khoảng trống mà thị trường khó tự khắc phục đầy đủ. Hoạt động nghiên cứu cần vốn lớn; sản phẩm phải được kiểm định nghiêm ngặt; còn thiết bị lần đầu sản xuất thường khó có đơn hàng vì chưa có lịch sử vận hành. Doanh nghiệp ngần ngại đầu tư khi chưa nhìn thấy thị trường, trong khi bên sử dụng thận trọng với sản phẩm chưa được kiểm chứng. Tri thức và nhân lực hình thành từ một dự án còn có thể lan tỏa sang nhiều chủ thể khác, nhưng nhà đầu tư ban đầu khó thu hồi toàn bộ lợi ích đó.

Đây là cơ sở để Nhà nước chia sẻ một phần rủi ro, tạo thị trường ban đầu và hỗ trợ hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm. Dù vậy, chính sách không đồng nghĩa với lựa chọn sản xuất trong nước bằng mọi giá. Yêu cầu phù hợp hơn là xác định những hạng mục và công đoạn có ý nghĩa đối với việc “duy trì cung cấp điện liên tục, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia”, đồng thời có triển vọng phát triển trên nền tảng năng lực của doanh nghiệp trong nước.

Nội địa hóa do đó không dừng ở tỷ lệ linh kiện hoặc nơi lắp ráp cuối cùng, mà phải thể hiện ở khả năng thiết kế, kiểm soát chất lượng, sửa chữa và cải tiến sản phẩm. Mục tiêu là nâng cao khả năng chủ động tại những công đoạn cần thiết, không phải khép kín chuỗi cung ứng hay thu hẹp cạnh tranh.

II. KHƠI THÔNG CON ĐƯỜNG TỪ NGHIÊN CỨU ĐẾN SẢN PHẨM ĐƯỢC THỊ TRƯỜNG CHẤP NHẬN

Một sản phẩm chỉ tạo ra giá trị khi đi được từ nghiên cứu đến vận hành và tiếp tục được thị trường lựa chọn. Với thiết bị điện, quá trình này thường kéo dài bởi yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, độ ổn định và khả năng tương thích hệ thống. Nghị định số 344/2026/NĐ-CP tiếp cận vấn đề bằng các công cụ nối tiếp, tương ứng với từng điểm nghẽn của quá trình hình thành sản phẩm.

Trước hết là xác định phạm vi ưu tiên. Nghị định phân biệt danh mục hạng mục, thiết bị và dịch vụ quan trọng cần được sản xuất, cung cấp trong nước ở một số công đoạn với danh mục được khuyến khích sản xuất, cung ứng trong nước. Đây là cơ sở tập trung nguồn lực vào những năng lực có ý nghĩa đối với vận hành hệ thống.

Danh mục cần dựa trên mức độ ảnh hưởng đến khả năng cung cấp điện, rủi ro gián đoạn nguồn cung và khả năng tiếp nhận công nghệ trong nước; đồng thời được rà soát khi thị trường, công nghệ hoặc yêu cầu của hệ thống thay đổi.

Điểm nghẽn tiếp theo là đơn hàng đầu tiên. Sản phẩm mới muốn được sử dụng phải chứng minh kinh nghiệm, nhưng nếu chưa từng được sử dụng thì khó hình thành kinh nghiệm. Nghị định cho phép xem xét đặt hàng đối với sản phẩm lần đầu được sản xuất, cung cấp trong nước khi đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, an toàn, môi trường hoặc được hình thành từ kết quả nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Cơ chế này gần với mô hình mua sắm công thúc đẩy đổi mới, trong đó khu vực công tạo nhu cầu ban đầu cho giải pháp mới. Nghiên cứu về mua sắm công cho đổi mới cho thấy công cụ này có thể kích thích phát triển sản phẩm, nhưng phải đi cùng khuôn khổ pháp lý, giám sát và năng lực chuyên môn của bên đặt hàng.

Trong lĩnh vực điện lực, đơn hàng đầu tiên tạo cơ hội để doanh nghiệp hoàn thiện công nghệ, hình thành dữ liệu vận hành và chứng minh năng lực, nhưng không bảo đảm đầu ra vô điều kiện. Sản phẩm vẫn phải được thử nghiệm, kiểm định; giá và khối lượng đặt hàng phải dựa trên chi phí hợp lý cùng lợi nhuận hợp lý, được hạch toán riêng và kiểm toán độc lập.

Mức ưu đãi về giá không quá 10% so với giá thành sản phẩm nhập khẩu tương tự là giới hạn được xem xét, không phải khoản doanh nghiệp mặc nhiên được hưởng. So sánh cũng cần tính đến độ bền, bảo trì, phụ tùng và chi phí ngừng vận hành, thay vì chỉ dựa vào giá mua.

Việc miễn yêu cầu về kinh nghiệm tháo gỡ rào cản cho sản phẩm mới nhưng không làm giảm trách nhiệm chứng minh năng lực kỹ thuật. Quy định loại trừ hoặc miễn trách nhiệm trong một số trường hợp cũng chỉ áp dụng khi chủ thể đã tuân thủ quy trình, không vụ lợi, gian lận hoặc cố ý vi phạm; không thể được hiểu là miễn trừ chung đối với chất lượng sản phẩm và an toàn hệ thống.

Sau thị trường ban đầu là khoảng cách giữa sản phẩm mẫu và sản phẩm đủ điều kiện vận hành. Chi phí thử nghiệm, đo lường và kiểm định có thể lớn khi sản lượng ban đầu còn hạn chế. Việc hỗ trợ 50% kinh phí sử dụng hạ tầng thử nghiệm của Nhà nước hướng trực tiếp vào điểm nghẽn này.

Chính sách chia sẻ chi phí thử nghiệm, không nới lỏng tiêu chuẩn. Một khiếm khuyết kỹ thuật có thể ảnh hưởng đến an toàn và độ ổn định của hệ thống, nên cơ sở thử nghiệm phải có năng lực chuyên môn, tính độc lập và khả năng truy xuất kết quả. Về lâu dài, kết quả kiểm định trong nước cần hướng tới sự thừa nhận rộng hơn để hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng quốc tế.

Nghị định đồng thời hỗ trợ nghiên cứu, chuyển đổi số và phát triển nhân lực chất lượng cao. Năng lực chế tạo không hình thành chỉ từ máy móc: doanh nghiệp có thể mua dây chuyền nhưng chưa làm chủ công nghệ nếu thiếu đội ngũ thiết kế, kỹ sư và nhân lực kiểm định. Đào tạo vì vậy phải gắn với công nghệ và vị trí việc làm.

Định hướng thành lập các tổ hợp công nghiệp, dịch vụ năng lượng tạo cơ sở hình thành hệ sinh thái thay vì hỗ trợ từng doanh nghiệp. Mô hình cụm liên kết cho phép nhà sản xuất, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo, phòng thử nghiệm và đơn vị điện lực chia sẻ hạ tầng, nhân lực và tri thức. Tuy nhiên, các chủ thể còn phải được kết nối bằng chương trình nghiên cứu, nhu cầu đặt hàng và hoạt động thương mại hóa cụ thể.

Chế tạo thiết bị điện còn đòi hỏi vốn cho dây chuyền, vật liệu, kiểm soát chất lượng và mở rộng sản xuất, trong khi thời gian từ nghiên cứu đến doanh thu tương đối dài. Hỗ trợ tín dụng đầu tư và tiếp cận các quỹ về đầu tư, khoa học và công nghệ có thể giúp doanh nghiệp vượt qua khoảng trống tài chính này.

Dù vậy, hiệu quả không nằm ở số vốn được hỗ trợ, mà ở sản phẩm được hoàn thiện, chứng nhận đạt được, đơn hàng hình thành và tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước. Nếu tín dụng chỉ làm tăng tài sản nhưng không gắn với công nghệ và thị trường, năng lực sản xuất khó được duy trì.

Như vậy, nhu cầu của ngành điện định hướng nghiên cứu; thử nghiệm kiểm chứng sản phẩm; đặt hàng tạo thị trường ban đầu; dữ liệu vận hành phục vụ cải tiến. Khi chu trình này vận hành thông suốt, kết quả nghiên cứu mới có thể trở thành sản phẩm thương mại.

III. BẢO ĐẢM ƯU ĐÃI TẠO RA NĂNG LỰC CẠNH TRANH THỰC CHẤT

Hiệu quả hỗ trợ không chỉ phụ thuộc vào quy mô nguồn lực, mà trước hết ở khả năng lựa chọn đúng đối tượng và quản trị kết quả. Danh mục quá rộng có thể làm phân tán nguồn lực; điều kiện thiếu rõ ràng dễ gia tăng tính tùy nghi; còn tiêu chí quá phức tạp có thể ngăn doanh nghiệp có năng lực tiếp cận chính sách. Tổ chức thực hiện vì thế phải dung hòa yêu cầu đổi mới với cạnh tranh, minh bạch và an toàn hệ thống.

Mỗi hình thức hỗ trợ phải gắn với kết quả có thể kiểm chứng. Thay vì chỉ theo dõi số doanh nghiệp, vốn vay hoặc kinh phí giải ngân, cần đánh giá độ tin cậy của thiết bị, giá trị gia tăng trong nước, khả năng sửa chữa và cung ứng phụ tùng, công nghệ được hình thành, nhân lực làm chủ quy trình, doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng và đơn hàng có được sau hỗ trợ.

Đánh giá sản phẩm cũng cần dựa trên tổng chi phí vòng đời. Thiết bị có giá thấp chưa chắc hiệu quả nếu tiêu hao lớn, thường xuyên phải bảo trì hoặc mất nhiều thời gian sửa chữa. Tổng chi phí cần bao gồm giá mua, hiệu suất, độ bền, bảo trì, thời gian dừng thiết bị và xử lý sau sử dụng. Cách tính này giúp ưu đãi về giá không bị biến thành sự chấp nhận sản phẩm kém hiệu quả.

Minh bạch đặc biệt quan trọng đối với đặt hàng. Tiêu chí lựa chọn, phương pháp xác định giá, trách nhiệm thử nghiệm, điều kiện nghiệm thu, thanh toán và xử lý sản phẩm không đạt yêu cầu phải được xác định từ đầu. Công khai thông tin trong phạm vi pháp luật cho phép giúp kiểm tra hiệu quả chính sách và tạo cơ hội tiếp cận bình đẳng hơn.

Hỗ trợ cũng cần có điểm kết thúc. Khi sản phẩm đã có lịch sử vận hành, thị trường xuất hiện thêm nhà cung cấp hoặc công nghệ trở nên phổ biến, ưu đãi nên được điều chỉnh để khôi phục sức ép cạnh tranh. Nguồn lực công khi đó có thể chuyển sang công nghệ mới hoặc mắt xích mà thị trường chưa đủ khả năng đầu tư.

Vai trò của các bên phải được phân định rõ. Nhà nước xác định nhu cầu chiến lược, xây dựng tiêu chuẩn, hỗ trợ hạ tầng thử nghiệm và chia sẻ rủi ro ban đầu; doanh nghiệp chịu trách nhiệm về công nghệ, chất lượng, chi phí và thương mại hóa. Viện, trường cung cấp tri thức và nhân lực; đơn vị điện lực cung cấp yêu cầu kỹ thuật và dữ liệu vận hành; tổ chức tài chính đánh giá rủi ro dự án.

Phát triển công nghiệp chế tạo điện lực còn phải gắn với chuỗi giá trị khu vực và quốc tế. Tiêu chuẩn trong nước cần tương thích với thông lệ quốc tế; năng lực thử nghiệm phải đủ tin cậy; sản phẩm phải đáp ứng yêu cầu về hiệu suất, môi trường và số hóa. Thị trường trong nước tạo điểm xuất phát, nhưng năng lực cạnh tranh dài hạn chỉ được xác lập khi sản phẩm tìm được khách hàng ngoài phạm vi đơn hàng hỗ trợ.

Theo đó, quản lý chính sách cần chuyển từ câu hỏi “đã hỗ trợ bao nhiêu” sang “sau hỗ trợ hình thành được năng lực gì”. Thước đo cuối cùng không nằm ở số lượng doanh nghiệp được ưu đãi, mà ở số sản phẩm đạt chuẩn, vận hành an toàn, tạo thêm giá trị trong nước và có khả năng tiếp tục đứng vững trên thị trường.

IV. KẾT LUẬN

Nghị định số 344/2026/NĐ-CP bước đầu tạo lập khuôn khổ tương đối đồng bộ cho công nghiệp chế tạo phục vụ ngành điện lực. Đặt hàng hướng tới giải quyết khoảng trống về thị trường ban đầu; hỗ trợ thử nghiệm giúp sản phẩm được kiểm chứng; chính sách về công nghệ, nhân lực và tín dụng tạo điều kiện mở rộng sản xuất.

Hiệu quả của khuôn khổ phụ thuộc vào việc lựa chọn đúng sản phẩm, duy trì tiêu chuẩn kỹ thuật và đánh giá hỗ trợ bằng kết quả thực tế. Khi Nhà nước kiến tạo thị trường ban đầu, còn doanh nghiệp làm chủ công nghệ và chịu trách nhiệm về sức cạnh tranh, sản xuất trong nước mới có thể đóng góp thiết thực hơn cho ngành điện, năng lực công nghiệp quốc gia và an ninh năng lượng dài hạn./.

ThS. Lê Phan Phương Thúy