
I. LIÊN KẾT KINH TẾ HỘ, HÌNH THÀNH SỨC MẠNH KINH TẾ TẬP THỂ
Kinh tế tập thể giữ một vị trí đặc thù trong nền kinh tế khi được hình thành trên cơ sở hợp tác tự nguyện giữa các thành viên có nhu cầu chung về sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Trong cấu trúc đó, hợp tác xã (HTX) không thay thế kinh tế hộ mà tạo ra những điều kiện để các hộ khắc phục một phần hạn chế về quy mô, vốn, công nghệ, thông tin thị trường và khả năng tổ chức tiêu thụ.
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới đã xác định phát triển kinh tế tập thể phải lấy lợi ích của thành viên làm trung tâm, gắn hoạt động sản xuất, kinh doanh với chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Mục tiêu đến năm 2030 đặt ra yêu cầu trên 60% tổ chức kinh tế tập thể đạt loại tốt, khá, trong đó ít nhất 50% tham gia liên kết theo chuỗi giá trị.
Định hướng này tiếp tục được cụ thể hóa tại Chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026–2030, ban hành theo Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026. Chương trình ưu tiên các mô hình HTX gắn với chuỗi giá trị và sản phẩm chủ lực của địa phương, vùng nguyên liệu tập trung, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận chất lượng; đồng thời tăng cường liên kết giữa HTX với doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, viện và trường.
Trên cơ sở đó, Lâm Đồng đã ban hành Chương trình tổng thể phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026–2030 theo Quyết định số 4074/QĐ-UBND ngày 12/8/2026. Việc đặt phát triển HTX trong quan hệ với nông nghiệp hiện đại, công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ, du lịch, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số cho thấy yêu cầu đối với kinh tế tập thể ngày càng đi sâu vào chất lượng hoạt động.
Điểm cốt lõi của HTX nằm ở khả năng tạo ra những lợi ích mà từng thành viên khó hình thành nếu hoạt động riêng lẻ. Một hộ có thể sở hữu đất đai, lao động, kinh nghiệm và sản phẩm, nhưng thường khó đạt quy mô đủ lớn để mua đầu vào với chi phí tốt, chuẩn hóa quy trình, đầu tư công nghệ, xây dựng thương hiệu hoặc đàm phán với doanh nghiệp thu mua. Cơ chế hợp tác giúp tập hợp những nguồn lực nhỏ thành quy mô kinh tế lớn hơn, qua đó tạo điều kiện chia sẻ chi phí, thống nhất tiêu chuẩn và mở rộng thị trường.
Vì vậy, hiệu quả HTX cần được nhìn từ giá trị tạo ra cho thành viên. Vấn đề quan trọng không nằm ở số lượng công việc HTX thực hiện thay hộ sản xuất, mà ở khả năng giúp các thành viên giảm chi phí, ổn định đầu ra, nâng chất lượng sản phẩm, tạo việc làm và cải thiện thu nhập.
HTX Vận tải Lạc Dương là một trường hợp cho thấy khả năng tổ chức nguồn lực của mô hình kinh tế tập thể không giới hạn trong nông nghiệp. HTX hiện có 65 thành viên cùng khoảng 20 lao động hợp đồng, hoạt động trong vận tải hành khách, vận tải hàng hóa, cơ khí, cung ứng dịch vụ và du lịch; hơn 70% thành viên và người lao động là đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương. Việc tổ chức phương tiện, lao động và dịch vụ trong một mô hình chung tạo điều kiện để những nguồn lực sinh kế riêng lẻ tham gia vào hoạt động kinh doanh có quy mô và tính ổn định cao hơn.
Trường hợp này cho thấy liên kết chính là nền tảng của kinh tế tập thể. Tuy nhiên, tập hợp thành viên mới là bước đầu. Giá trị dài hạn phụ thuộc vào khả năng HTX biến liên kết nội bộ thành quan hệ kinh tế với thị trường, doanh nghiệp và các chủ thể bên ngoài.
II. TỔ CHỨC CHUỖI GIÁ TRỊ NÂNG VAI TRÒ CỦA HỢP TÁC XÃ
Trong lĩnh vực nông nghiệp, bước phát triển quan trọng của HTX nằm ở khả năng tổ chức những nguồn lực phân tán thành vùng sản xuất có quy mô, tiêu chuẩn và đầu ra tương đối ổn định.
Vùng nguyên liệu là một nền tảng quan trọng của quá trình này. Khi các hộ sản xuất riêng lẻ, sản lượng, chất lượng và thời điểm cung ứng có thể thiếu đồng đều. HTX tạo điều kiện thống nhất quy trình sản xuất, lịch thời vụ, tiêu chuẩn chất lượng và phương thức thu hoạch. Qua đó, vùng nguyên liệu không còn đơn thuần là tổng diện tích của nhiều hộ, mà trở thành một không gian sản xuất được tổ chức theo những yêu cầu chung.
HTX Thanh long sạch Hòa Lệ tại xã Hàm Thuận, tỉnh Lâm Đồng là một ví dụ đáng chú ý. Từ mô hình tổ hợp tác hình thành năm 2015, HTX được thành lập năm 2017 nhằm tăng khả năng liên kết các hộ trồng thanh long, tạo nguồn cung đủ lớn và nâng chất lượng sản phẩm. Mô hình đã phát triển vùng sản xuất theo các tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp, liên kết tiêu thụ với các HTX, hộ nông dân và doanh nghiệp, đồng thời tạo việc làm thường xuyên cho hàng chục đến khoảng 100 lao động địa phương.
Điểm đáng quan tâm của mô hình không nằm riêng ở diện tích canh tác. Giá trị quan trọng hơn là khả năng đặt vùng nguyên liệu vào một cấu trúc sản xuất có tổ chức. Khi HTX có dữ liệu về diện tích, sản lượng, quy trình và chất lượng, khả năng ký kết với doanh nghiệp và tổ chức đầu ra trở nên thuận lợi hơn. Doanh nghiệp cũng có thêm cơ sở để đặt yêu cầu về sản lượng, tiêu chuẩn và thời gian cung ứng.
Theo tư duy chuỗi giá trị, giá trị của nông sản được hình thành qua nhiều khâu liên tiếp gồm đầu vào, sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản, logistics, thương mại và phân phối. HTX không nhất thiết phải trực tiếp sở hữu và thực hiện tất cả các khâu. Vai trò quan trọng hơn là tạo được quan hệ liên kết để các mắt xích vận hành tương đối đồng bộ.
Ở đây, HTX có thể đảm nhiệm vị trí trung gian tổ chức: tập hợp nhu cầu vật tư của thành viên, thống nhất quy trình sản xuất, quản lý chất lượng, kết nối doanh nghiệp chế biến, tổ chức tiêu thụ và cung cấp thông tin thị trường trở lại cho người sản xuất.
Khi quan hệ với doanh nghiệp được hình thành từ đầu chu kỳ sản xuất, tín hiệu của thị trường có khả năng đi ngược về vùng nguyên liệu. Yêu cầu về kích cỡ, chất lượng, tiêu chuẩn an toàn, truy xuất nguồn gốc, thời gian giao hàng và sản lượng sẽ tác động trực tiếp đến cách hộ thành viên tổ chức sản xuất. Đây là bước chuyển quan trọng từ sản xuất chủ yếu dựa trên khả năng của người cung ứng sang sản xuất ngày càng gắn với yêu cầu của thị trường.
Liên kết chuỗi vì vậy tạo ra giá trị trên cả hai chiều. Người sản xuất có thêm cơ sở định hướng đầu ra; doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu được tổ chức và kiểm soát tốt hơn. HTX đứng giữa hai khu vực, giúp giảm khoảng cách về quy mô và thông tin giữa hộ sản xuất với thị trường.
Vai trò này càng có ý nghĩa trong bối cảnh tiêu chuẩn đối với nông sản ngày càng cao. Một hộ riêng lẻ có thể gặp khó khi tự thực hiện chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát quy trình hay tiếp cận thị trường xuất khẩu. Khi những công việc đó được tổ chức ở cấp HTX, chi phí có thể được chia sẻ và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn cũng được nâng lên.
Đây là cơ sở để kinh tế tập thể chuyển dần từ hình thức hợp tác hỗ trợ sản xuất sang khả năng tổ chức chuỗi giá trị.
III. CHẾ BIẾN, THỊ TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ MỞ RỘNG GIÁ TRỊ SẢN PHẨM
Tổ chức tốt vùng nguyên liệu tạo ra nền tảng, nhưng giá trị của nông sản còn phụ thuộc đáng kể vào những khâu sau thu hoạch. Với nhiều sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là rau, quả tươi, khả năng bảo quản có giới hạn và sản lượng thường tập trung theo mùa vụ. Nếu sản phẩm chủ yếu được bán ở dạng nguyên liệu thô, người sản xuất dễ chịu tác động trực tiếp của biến động cung – cầu trong từng thời điểm.
Sơ chế, bảo quản và chế biến vì vậy là những khâu quan trọng để mở rộng không gian tạo giá trị. Kho lạnh có thể kéo dài thời gian lưu trữ; sơ chế giúp sản phẩm đáp ứng tốt hơn yêu cầu phân phối; chế biến tạo thêm những dòng sản phẩm có thời hạn sử dụng dài và khả năng tiếp cận các phân khúc thị trường khác nhau.
HTX Thanh long sạch Hòa Lệ cho thấy một hướng phát triển từ nền tảng này. Bên cạnh thanh long tươi, HTX đã phát triển nhiều sản phẩm chế biến như thanh long sấy, trà hoa thanh long, nước cốt, mứt và một số sản phẩm lên men. Nhiều sản phẩm được xây dựng gắn với Chương trình OCOP. Cùng một vùng nguyên liệu vì thế có thể tạo ra nhiều dạng sản phẩm và nhiều tầng giá trị thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường quả tươi.
Giá trị của chế biến còn nằm ở khả năng chủ động hơn trước biến động mùa vụ. Khi một phần nguyên liệu có thể chuyển sang chế biến, áp lực tiêu thụ tập trung trong thời gian ngắn được giảm bớt; đồng thời HTX có thêm điều kiện xây dựng thương hiệu, phát triển bao bì và tiếp cận các kênh phân phối mới.
Không gian tạo giá trị còn có thể mở rộng sang dịch vụ. Việc kết hợp vùng thanh long với hoạt động tham quan, trải nghiệm sản xuất và ẩm thực cho thấy nông nghiệp có khả năng tạo thêm giá trị từ cảnh quan, quy trình canh tác và bản sắc địa phương. Khi sản xuất được kết nối với trải nghiệm và dịch vụ, giá trị của vùng nguyên liệu được mở rộng từ giá trị nông sản sang giá trị văn hóa và du lịch.
Trong quá trình này, chuyển đổi số là một công cụ hỗ trợ ngày càng quan trọng. Nhật ký sản xuất điện tử, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, phần mềm quản lý, chữ ký số, thương mại điện tử và các nền tảng kết nối cung – cầu có thể giúp HTX quản lý thông tin chính xác hơn, tăng khả năng minh bạch sản phẩm và rút ngắn khoảng cách với thị trường.
Tuy nhiên, giá trị của chuyển đổi số không nằm ở số lượng phần mềm hay tài khoản được tạo ra. Công nghệ phát huy hiệu quả khi giải quyết được một nhu cầu cụ thể trong quá trình sản xuất và kinh doanh: giảm thời gian quản lý, theo dõi tốt hơn vùng nguyên liệu, truy xuất nhanh hơn, tiếp cận khách hàng thuận lợi hơn hoặc tạo cơ sở để ra quyết định chính xác hơn.
Theo đó, quá trình nâng cấp HTX cần gắn ba yếu tố: tổ chức sản xuất – nâng giá trị sản phẩm – mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Chế biến giúp sản phẩm đi sâu hơn vào chuỗi giá trị; công nghệ nâng hiệu quả tổ chức; thị trường quyết định khả năng giá trị ấy được hiện thực hóa.
IV. NÂNG NĂNG LỰC QUẢN TRỊ ĐỂ DUY TRÌ LIÊN KẾT BỀN VỮNG
Chuỗi giá trị chỉ vận hành ổn định khi HTX có khả năng duy trì các mối quan hệ trong thời gian dài. Quy mô hoạt động càng mở rộng, yêu cầu đối với quản trị càng cao.
HTX tham gia sâu vào chuỗi phải đồng thời quản lý thành viên, vùng nguyên liệu, sản lượng, chất lượng, dữ liệu, hợp đồng, dòng tiền và quan hệ với đối tác. Đây là những nhiệm vụ khác khá xa với mô hình HTX chủ yếu cung ứng một vài dịch vụ sản xuất truyền thống.
Vì vậy, nâng cao chất lượng cán bộ quản lý là một yêu cầu có tính nền tảng. Người điều hành HTX cần kiến thức về sản xuất, đồng thời phải hiểu thị trường, tài chính, hợp đồng, thương mại, công nghệ và quản trị rủi ro. Trong nhiều trường hợp, chính chất lượng quản trị quyết định HTX có thể duy trì quan hệ với doanh nghiệp sau một vài vụ sản xuất hay phát triển được thành liên kết dài hạn.
Chương trình phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026–2030 đã đặt yêu cầu nâng tỷ lệ cán bộ quản lý HTX được đào tạo, đồng thời ưu tiên xây dựng các mô hình gắn với chuỗi giá trị, vùng nguyên liệu, công nghệ cao và sản phẩm chủ lực của địa phương. Điều này cho thấy hỗ trợ HTX đang ngày càng gắn với khả năng tự tổ chức và nâng cao sức cạnh tranh.
Nguồn vốn cũng cần được đặt trong logic đó. Vốn dành cho vùng nguyên liệu, máy móc, chuyển đổi xanh, kho lạnh, sơ chế hoặc chế biến có thể giúp HTX mở rộng năng lực hoạt động và tham gia sâu hơn vào chuỗi. Nhưng hiệu quả của vốn phụ thuộc vào việc khoản đầu tư có giải quyết đúng điểm nghẽn của mô hình kinh doanh hay không.
Một HTX thiếu đầu ra ổn định chưa chắc cần ưu tiên đầu tư ngay một nhà máy lớn; trước hết có thể cần hoàn thiện vùng nguyên liệu và liên kết thị trường. Ngược lại, khi nguồn nguyên liệu và hợp đồng tiêu thụ tương đối ổn định nhưng thiếu khả năng bảo quản, kho lạnh hoặc sơ chế có thể trở thành mắt xích cần thiết để gia tăng giá trị. Việc lựa chọn đầu tư vì vậy phải xuất phát từ cấu trúc cụ thể của từng chuỗi.
Các chính sách về tín dụng, khoa học – công nghệ, đào tạo, xúc tiến thương mại và đầu tư hạ tầng cần hướng tới củng cố năng lực bên trong của HTX. Mục tiêu là tạo điều kiện để HTX từng bước quản trị tốt hơn, chủ động tìm kiếm thị trường, duy trì liên kết và tái đầu tư cho quá trình phát triển.
Đây cũng là điểm phân biệt giữa hỗ trợ nguồn lực và tạo năng lực phát triển. Một khoản hỗ trợ có giá trị lâu dài khi sau quá trình triển khai, HTX có thêm khả năng tự tổ chức và vận hành hiệu quả hơn.
Đối với Lâm Đồng, yêu cầu này càng có ý nghĩa khi không gian kinh tế của tỉnh có sự đa dạng lớn về nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, vận tải và các ngành nghề khác. Các HTX không nhất thiết phát triển theo một mô hình giống nhau. HTX nông nghiệp cần chuỗi vùng nguyên liệu – chế biến – thị trường; HTX vận tải cần năng lực tổ chức phương tiện, dịch vụ và lao động; những HTX gắn với du lịch có thể tạo giá trị từ tài nguyên bản địa, văn hóa và trải nghiệm.
Sự đa dạng về mô hình là một đặc điểm của kinh tế tập thể. Điểm chung cần được củng cố là năng lực hợp tác, quản trị và tạo lợi ích cho thành viên.
V. CỦNG CỐ NỘI LỰC CỦA KINH TẾ TẬP THỂ
Phát triển kinh tế tập thể trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao đồng thời chất lượng liên kết và khả năng tạo giá trị. HTX có ý nghĩa khi tập hợp được những nguồn lực phân tán của kinh tế hộ, nhưng chiều sâu của mô hình được quyết định bởi khả năng biến sự tập hợp ấy thành hiệu quả sản xuất, thị trường và thu nhập cho thành viên.
Trong cấu trúc đó, vùng nguyên liệu tạo quy mô và tính ổn định; liên kết doanh nghiệp đưa tín hiệu thị trường vào quá trình sản xuất; chế biến và bảo quản mở rộng giá trị sau thu hoạch; công nghệ hỗ trợ quản trị và minh bạch thông tin; còn chất lượng điều hành quyết định khả năng các mắt xích được duy trì lâu dài.
Những trường hợp như HTX Vận tải Lạc Dương hay HTX Thanh long sạch Hòa Lệ cho thấy kinh tế tập thể có thể phát triển trên những lĩnh vực và mô hình khác nhau, nhưng đều dựa trên một nguyên lý chung: hợp tác tạo điều kiện để các thành viên thực hiện những công việc mà từng cá nhân hoặc hộ riêng lẻ khó đạt hiệu quả tương đương.
Bởi vậy, chuỗi giá trị không nên được hiểu đơn thuần là kéo dài thêm các công đoạn của sản xuất. Ý nghĩa sâu hơn nằm ở việc tổ chức các chủ thể, nguồn lực và hoạt động theo một quan hệ tương đối ổn định, trong đó giá trị tạo ra được mở rộng và lợi ích của thành viên được nâng lên.
Đối với Lâm Đồng, Chương trình phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026–2030 tạo một khung chính sách để quá trình này tiếp tục được thúc đẩy trên nền tảng đổi mới mô hình hoạt động, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và liên kết thị trường. Hiệu quả thực tế sẽ được thể hiện ở khả năng từng HTX hình thành được một mô hình kinh doanh phù hợp với lợi thế của mình, duy trì quan hệ với thành viên và đối tác, đồng thời tích lũy được năng lực để tiếp tục phát triển.
Khi vùng nguyên liệu, doanh nghiệp, công nghệ, chế biến và thị trường được tổ chức trong những mối quan hệ bền vững, các nguồn lực vốn phân tán của kinh tế hộ có thể chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế có tổ chức. Đây là nền tảng để HTX nâng cao sức cạnh tranh, củng cố khả năng tự chủ và đóng góp ngày càng thực chất vào phát triển kinh tế – xã hội của địa phương./.
ThS. Nguyễn Như Quỳnh




